Tội nhận hối lộ trong luật hình sự việt nam - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRIỆU LÀ PHAM

TỘI NHẬN HỐI LỘ
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRIỆU LÀ PHAM

TỘI NHẬN HỐI LỘ
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS TRỊNH QUỐC TOẢN

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN


Khái niệm, đặc điểm của tội nhận hối lộ .......................................................9

1.1.2.

Ý nghĩa của việc quy định tội nhận hối lộ trong Luật hình sự Việt Nam ...16

1.2.

Khái quát lịch sử Luật hình sự Việt Nam quy định về tội nhận hối lộ từ
sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trƣớc khi ban hành Bộ luật
hình sự năm 1999 .......................................................................................18

1.2.1.

Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành
Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 ...........................................................18

1.2.2.

Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban
hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 ..................................................20

1.3.

Tội nhận hối lộ trong công ƣớc quốc tế về chống tham nhũng và luật
hình sự một số nƣớc ..................................................................................23

1.3.1.


2.2.2.

Tội nhận hối lộ với tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản .........60

2.2.3.

Tội nhận hối lộ với tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đến
người khác để trục lợi ..................................................................................60

2.3.

Thực tiễn áp dụng các quy định về tội nhận hối lộ trong Bộ luật hình
sự hiện hành từ năm 2010 đến năm 2015 ................................................61

2.3.1.

Phân tích, đánh giá thực tiễn xét xử các tội phạm về tham nhũng nói chung
và tội nhận hối lộ nói riêng..........................................................................61

2.3.2.

Thực tiễn áp dụng các hình thức trách nhiệm hình sự đối với các tội về
tham nhũng, trong đó có tội nhận hối lộ .....................................................66

2.3.3.

Những tồn tại, hạn chế, thiếu sót trong thực tiễn áp dụng các quy định về tội
nhận hối lộ trong Bộ luật hình sự hiện hành từ năm 2010 đến năm 2015 ........67

Chƣơng 3: NHU CẦU VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ÁP


Tăng cường năng lực chuyên môn, nghiệp cho các điều tra viên, Kiểm sát
viên, Thẩm phán và Hội thẩm nhân ............................................................90

3.2.3.

Tăng cường công tác xét xử nghiêm minh, kịp thời các tội phạm tham
nhũng nói chung và tội nhận hối lộ nói riêng..............................................94

KẾT LUẬN ..............................................................................................................97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................99
PHỤ LỤC ...............................................................................................................105


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS:

Bộ luật hình sự

BLTTHS:

Bộ luật tố tụng hình sự

CTTP:

Cấu thành tội phạm

KTXH:

Kinh tế - xã hội


Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1:

Kết quả khởi tố, truy tố xét xử tội phạm tham nhũng năm 2010

105

Kết quả khởi tố, truy tố xét xử tội phạm tham nhũng theo
Bảng 2.2:

số liệu thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tối cao Từ
01/10/2010 – 30/7/2011

Bảng 2.3:

105

Kết quả xét xử sơ thẩm tội phạm tham nhũng Từ ngày
01/10/2011 – 31/7/2012


một bộ phận cán bộ, đảng viên xuống cấp, thoái hóa, biến chất, sa sút ý chí chiến
đấu. Sự cần, kiệm, liêm, chính của từng cán bộ lãnh đạo, quản lý và từng công chức,
viên chức dần bị mờ nhạt; đạo đức công vụ chưa được nâng cao, chưa hết lòng, tận
tụy với công việc, còn xa dân, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa theo kịp yêu cầu phát
triển kinh tế và quản lý đất nước. Năng lực xây dựng thể chế, quản lý, điều hành, tổ
chức thực thi pháp luật còn yếu. Tổ chức bộ máy ở nhiều cơ quan, đơn vị chưa hợp
lý; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của một số cơ quan pháp luật chưa đủ rõ, còn
chồng chéo. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt được yêu cầu đề
ra. Quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những
biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, gây bức xúc xã
hội [3, tr.23-24].
Tệ tham nhũng nói chung, tệ nhận hối lộ nói riêng trong thời gian gần đây đã
trở thành nỗi bức xúc của toàn xã hội. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, các
diễn đàn Quốc hội, tại các kỳ Đại hội Đảng các cấp, nhiều người đã chỉ rõ sự phổ
biến của tệ tham nhũng , nhận hối lộ và phê phán gay gắt , gọi tham nhũng là căn
bệnh ung thư , quốc nạn, quốc nhục... Nó đã trở thành vấn đề “nóng bỏng” , là “loại
tội phạm cực kỳ nguy hiểm”, là “vấn nạn”, là “nội xâm”, là “những nguy cơ , thách
thức lớn” , “Bè lũ tham nhũng là những con "siêu vi trùng" ngày đêm gặm nhấm,
đục khoét cơ thể quốc gia”. Là vấn đề cấp bách của tất cả các quốc gia dân tộc. Nó
1


trực tiếp tàn phá sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, gây mất ổn định xã hội, đe
dọa đến sự tồn vong của chế độ. Do đó phòng, chống tham nhũng bao giờ cũng là
nhiệm vụ trọng tâm vừa mang tính cấp bách vừa lâu dài của mọi quốc gia.
Nhận thức đúng những nguy cơ gây mất ổn định xã hội và đe dọa sự tồn
vong của chế độ xã hội chủ nghĩa, làm mất niềm tin của nhân dân, kịp thời phản ánh
tâm tư nguyện vọng của nhân dân Đảng ta vạch rõ:
Hiện nay, cán bộ, đảng viên và nhân dân ta hết sức quan tâm đến cuộc đấu

giải quyết tệ nhận hối lộ đạt hiệu quả cao.
Từ sau Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, Đảng và Nhà nước ta đã
tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí và đã đạt được
một số kết quả nhất định, góp phần phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững an ninh chính
trị và trật tự, an toàn xã hội. Nhiều cán bộ, đảng viên đã nâng cao được ý thức tự
phê bình và phê bình, giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng, đi đầu trong cuộc
đấu tranh này. Nhiều vụ án tham nhũng, trong đó có những vụ án lớn, phức tạp, gây
hậu quả nghiêm trọng đã được phát hiện, xử lý.
Tuy nhiên, Trong giai đoạn hiện nay chúng ta cần ngăn chặn và đẩy lùi sự
xuống cấp về đạo đức – nhân cách, văn hóa, để xây dựng một đội ngũ cán bộ trong
sạch, có ý chí, trách nhiệm cao, hết lòng phục vụ nhân dân, thực sự là công bộc của
dân, là cầu nối giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, với sự siết chặt của hệ thống
pháp luật thì các loại tội phạm không những không thuyên giảm mà thậm chí còn
gia tăng, nhất là tội nhận hối lộ. Các hoạt động tội phạm không chỉ gia tăng cả về số
lượng mà còn tăng về tính nguy hiểm, phức tạp, phạm vi rộng, tính chất phức tạp,
gây hậu quả nghiêm trọng và thủ đoạn thì ngày càng tinh vi xảo quyệt, diễn ra ở
nhiều cấp độ, nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực.
Tội đưa và nhận hối lộ bằng vật chất hiện nay, nó đã biến thái sang rất nhiều
các hình thức khác mà cơ quan điều tra phải tốn nhiều thời gian và công sức mới
tìm ra được, một trong số các hình thức đó là hối lộ bằng tình dục.
Tại hội thảo “Hoàn thiện các quy định về tội hối lộ trong Bộ luật hình sự
năm 1999” do Ban Nội chính Trung ương phối hợp với Chương trình phát triển
LHQ (UNDP) tại Việt Nam tổ chức, ông Nguyễn Doãn Khánh, Phó trưởng Ban Nội
chính Trung ương, cho biết hành vi đưa hối lộ rất đa dạng, phức tạp và rất nguy
3


hiểm, trong khi quy định của pháp luật hiện hành đã bộc lộ nhiều hạn chế cần phải
sớm khắc phục. Theo ông Khánh, bên cạnh các yếu tố vật chất thì người đưa hối lộ
đang sử dụng những lợi ích khác không thua kém như chạy thành tích, chạy khen

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về tham nhũng của nhiều
học giả, đặc biệt là các công trình nghiên cứu của tổ chức minh bạch quốc tế
(Transparency International), Ngân hàng thế giới (World Bank). Ở Việt Nam đã
nhiều học giả, nhà chính trị quan tâm đến vấn đề nhạy cảm này và đã có nhiều bài
viết trên các phương tiện thông tin đại chúng như:
Về giáo trình, sách chuyên khảo, bình luận có các công trình sau: Giáo trình
Luật Hình sự Việt Nam phần các tội phạm, Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa Luật, Lê
Cảm chủ biên; Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội,
Nxb Công An nhân dân, 2000; Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, Trường Đại học
Luật Hà Nội, Nxb Công An nhân dân, 2001; Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam,
phần các tội phạm, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 1997;
Sách chuyên khảo: GS.TS. Võ Khánh Vinh, Tìm hiểu trách nhiệm hình sự đối với
các tội phạm về chức vụ, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996; GS.TSKH. Phan
Xuân Sơn, TS. Phạm Thế Lực (đồng chủ biên), Nhận diện tham nhũng và các giải
pháp phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 2008…
- "Kinh nghiệm phòng chống tham nhũng của Singapo", của Trần Anh Tuấn,
Ban Nội chính Trung ương, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, 2007.
- "Tham nhũng cũng có sứ mệnh" của Nguyễn Sơn, Tuổi trẻ Online,
18/8/2006.
- "Truy tố 665 đảng viên vi phạm pháp luật ", Thông tấn xã Việt Nam
8/2007.
- "Nguyên tắc xử lý tham nhũng", Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam,
ngày 21/8/2007, cập nhật lúc 14h56’.
- "Công chúc và tham nhũng - kinh nghiệm của một số nước trên thế giới",
của T. Ngoai, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 21/8/2007, cập nhật lúc
17h38’.
- "Chống tham nhũng xét từ góc độ quyền lực", của Vũ Quốc Tuấn, Báo
5


- Nghiên cứu lịch sử quy định về tội nhận hối lộ trong Luật hình sự Việt nam
6


từ sau cách mạng tháng tám năm 1945 đến nay;
- Nghiên cứu những nội dung cơ bản của Công ước quốc tế về chống tham
nhũng cũng như ở một số nước liên quan đến tội nhận hối lộ, để từ đó rút ra những
bài học kinh nghiêm tốt áp dụng vào Việt Nam;
- Nghiên cứu làm rõ các yếu tố cấu thành tội phạm và đường lối xử lý tội
phạm này trong Bộ luật hình sự hiện hành của Việt Nam;
- Phân tích, đánh giá sâu sắc về thực trạng áp dụng các quy định về tội nhận
hối lộ của Bộ luật hình sự hiện hành từ năm 2010 đến nay của Tòa án nhân dân; rút
ra những tồn tại, hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân của nó;
- Phân tích nhu cầu và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng các
quy định về tội nhận hối lộ trong Bộ luật hình sự hiện hành.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Luận văn chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu những vấn đề về “Tội nhận
hối lộ” trong Bộ luật hình sự hiện hành. Nghiên cứu đánh giá tình hình công tác xét
xử của Toà án nhân dân các cấp, từ đó làm rõ một số nguyên nhân tồn tại hạn chế,
để kiến nghị với cấp có thẩm quyền tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhằm
nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh chống và phòng ngừa có hiệu quả tội phạm
hối lộ hiện nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương
pháp cụ thể và đặc thù của khoa học Luật hình sự như: Phương pháp phân tích, tổng
hợp, so sánh, đối chiếu, phương pháp liệt kê, phương pháp quy nạp, diễn dịch và
phương pháp chứng minh, đồng thời dựa trên cơ sở quan điểm, chủ trương, phương
hướng nhiệm vụ của Đảng về PCTN, nhất là Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ XI, Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương lần thứ 3 (Khoá X) về tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN, lãng phí.



CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI NHẬN HỐI LỘ
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc quy định tội nhận hối lộ
trong luật hình sự Việt Nam
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của tội nhận hối lộ
1.1.1.1. Khái niệm chung tội phạm về chức vụ
Tội phạm về chức vụ là một hiện tượng tiêu cực của xã hội, nó mang tính
lịch sử, xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước. Tội phạm về chức vụ xuất hiện
khi một người được giao một quyền lực nhất định và người đó đã sử dụng quyền
lực được giao để thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến lợi ích của
Nhà nước, của xã hội và của công dân..
Qua nghiên cứu những quy định của pháp luật hình sự các tội về tham nhũng
cho thấy từ khi thành lập nước cho đến khi Bộ luật hình sự 1985 chính thức thông
qua, thì khái niệm tội phạm về chức vụ chưa được quy định cụ thể trong các văn
bản pháp luật hình sự. Nghĩa là trong các văn bản pháp luật hình sự được ban hành
trước đây chưa có một quy phạm nào quy định khái niệm tội phạm về chức vụ.
Nhưng các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn cụ thể để làm những việc sai trái
đều bị xử lý bằng các biện pháp kỷ luật của Đảng, kỷ luật của Nhà nước hay bằng
các biện pháp hành chính.
Trong giai đoạn hiện nay quá trình phát triển xã hội đã làm nảy sinh nhu cầu
phải tội phạm hóa một hành vi vi phạm pháp luật của người có chức vụ quyền hạn,
nhu cầu pháp điểm hóa pháp luật hình sự và điều đó đặt ra yêu cầu khái quát hóa
từng loại tội phạm căn cứ vào một cố dấu hiệu nhất định. Trên cơ sở đó, khái niệm
tội phạm về chức vụ được hình thành từng bước và ngày càng hoàn chỉnh.
Bộ luật hình sự 1999 quy định một cách khái quát về khái niệm tội phạm về
chức vụ ở Điều 277 BLHS quy định: “Các tội phạm về chức vụ là những hành vi
xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện

hình sự một cách đúng đắn, có cơ sở tránh sự nhằm lẫn tội phạm về chức vụ với các
hành vi vi phạm pháp luật khác của người có chức vụ, quyền hạn. Như vậy, việc
10


quy định khái niệm tội phạm về chức vụ ở Điều 277 Bộ luật hình sự có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn quan trọng.
Chương XXI gồm 15 Điều, hai mục: Mục A – Các tội phạm về tham nhũng
và Mục B – Các tội phạm khác về chức vụ. Trong đó, Mục A gồm 7 Điều luật quy
định về các tội trong đó có Điều 279 quy định về tội nhận hối lộ. Như vậy, tội nhận
hối lộ là tội phạm về chức vụ nhưng lại được xếp trong một nhóm tội phạm cụ thể
hơn: các tội phạm về tham nhũng. Nói đến tham nhũng, tuy được hiểu dưới nhiều
góc độ khác nhau nhưng pháp luật nước ta cũng như pháp luật nhiều nước trên thế
giới đều có quan niệm tương đối thống nhất về vấn đề này: “Tham nhũng là hành vi
của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi” –
đây cũng là khái niệm tham nhũng được đưa ra tại Khoản 2 Điều 1 Luật phòng,
chống tham nhũng năm 2005.
1.1.1.2. Khái niệm về tội nhận hối lộ
Hiện nay, tham nhũng nói chung và tội nhận hối lộ nói riêng, được xác định
là căn bệnh trầm kha, mang tính phổ biến nhất của quyền lực. Nó xuất hiện trong tất
cả cơ cấu của tổ chức quyền lực, đó là, lợi dụng công quyền nhằm mục đích vụ lợi
cá nhân hay cho những một nhóm lợi ích cục bộ.
Vì tội nhận hối lộ là một trong các tội phạm về tham nhũng, do đó việc phân
tích sâu hơn về tội phạm tham nhũng là việc làm cần thiết. Tham nhũng là một hiện
tượng xã hội tiêu cực, xuất hiện cùng với sự hình thành giai cấp và sự ra đời, phát
triển của Nhà nước, nó là biểu hiện của sự tha hoá của một bộ phận các quan chức
được giao cho các quyền về chính trị - kinh tế - văn hoá - xã hội. Ngày nay tham
nhũng không còn là vấn đề riêng của một quốc gia nào mà đã trở thành vấn đề của
toàn cầu. Các nước phát triển, đang phát triển hay kém phát triển, không có một
nước nào “miễn dịch” được tham nhũng, nó chỉ khác nhau về tính chất, mức độ

thất thoát tài sản của Nhà nước, của nhân dân mà nó còn kìm hãm sự phát triển kinh
tế. Trong khoa học và thực tiễn có nhiều quan niệm khác nhau về tham nhũng, tội
phạm về tham nhũng. Để có thể đưa ra một khái niệm chính xác về tội phạm tham
nhũng, trước hết cần tìm hiểu khái niệm về tham nhũng.
Ngân hàng Thế giới định nghĩa, tham nhũng là “lạm dụng công quyền để tư
lợi”. Điều này cho rằng căn nguyên của tham nhũng xuất phát từ công quyền và lạm
12


dụng công quyền, tham nhũng gắn liền với nhà nước và các hoạt động của nhà
nước, việc nhà nước can thiệp vào thị trường và từ sự tồn tại của khu vực công.
Khái niệm này loại trừ khả năng tham nhũng xảy ra trong khu vực tư nhân, chỉ tập
trung duy nhất vào tình trạng tham nhũng trong khu vực công.
Công ước về chống tham nhũng của Liên Hợp quốc không đưa ra định nghĩa
và không liệt kê các hành vi được coi là tham nhũng và tội phạm về tham nhũng,
chỉ yêu cầu các quốc gia thành viên phải hình sự hóa các hành vi quy định từ Điều
15 đến Điều 25 của Công ước, bao gồm:
Hối lộ công chức quốc gia; Hối lộ công chức nước ngoài hoặc công chức của tổ
chức quốc tế; Tham ô, biển thủ hoặc các dạng chiếm đoạt tài sản khác bởi công chức;
Lợi dụng ảnh hưởng để trục lợi; Lạm dụng chức năng; Làm giàu bất hợp pháp; Tẩy rửa
tài sản do phạm tội mà có; Che dấu tài sản; Cản trở hoạt động tư pháp.
Theo Từ điển bách khoa của Thụy Sĩ, thì “tham nhũng là hậu quả nghiêm
trọng của sự vô tổ chức của tầng lớp có trách nhiệm trong bộ máy nhà nước. Đó là
hành vi vi phạm pháp luật để phục vụ lợi ích cá nhân” [26].
Cơ quan Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cũng đưa ra định nghĩa về
tham nhũng. Theo đó, “tham nhũng là sự lạm dụng chức vụ, vai trò và nguồn lực
công để trục lợi cá nhân” [26, tr.15].
Ở Trung Quốc, Bộ Luật Hình sự không quy định khái niệm về tội phạm tham
nhũng, chỉ quy định tội phạm về tham nhũng bao gồm tham ô, lạm dụng công quỹ,
nhận hối lộ, đưa hối lộ, không nộp quà biếu hoặc lễ vật vào công quỹ, không chứng

của mình hoặc người khác, lợi dụng những sơ hở của pháp luật để trục lợi bất
chính” [53, tr.37].
Như vậy, có thể thấy, có rất nhiều quan điểm khác nhau về tham nhũng của
các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam. Căn cứ vào các quy định của pháp luật
Việt Nam về hành vi tham nhũng, trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm khoa học
của thế giới và Việt Nam về khái niệm tham nhũng, có thể hiểu tham nhũng là lợi
dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi trái pháp luật nhằm trục lợi cá nhân.
Tội phạm, là hiện tượng tiêu cực mang thuộc tính xã hội – pháp lý, tội phạm
luôn chứa đựng trong nó đặc tính chống đối lại Nhà nước, chống đối lại xã hội, đi
ngược lại lợi ích chung của cộng đồng, trật tự xã hội, xâm phạm đến quyền, tự do
14


và các lợi ích hợp pháp của công dân. Tham nhũng gây ra tác hại nhiều mặt, là một
trong những mối nguy hiểm cao độ, cản trở sự phát triển kinh tế, xã hội. Có nhiều
hành vi được xem là hành vi tham nhũng, tuy nhiên không phải hành vi tham nhũng
nào cũng bị tội phạm hóa thành các tội phạm về tham nhũng. Việc tội phạm hóa các
hành vi tham nhũng có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc phòng, chống tham
nhũng. Để phòng và chống tham nhũng đòi hỏi phải có nhiều biện pháp mang tính
đồng bộ, song pháp luật vẫn giữ vai trò chủ đạo, tạo khuôn khổ pháp lý nhằm phòng
ngừa và phát hiện các hành vi tham nhũng và có các chế tài thích hợp đối với người
có hành vi tham nhũng. Vì thế để phòng ngừa và phát hiện các hành vi tham nhũng
phải tiếp tục hoàn thiện các văn bản, các qui định trực tiếp liên quan đến tội phạm
tham nhũng. Thông qua các dấu hiệu đặc trưng của hành vi tham nhũng để làm căn
cứ xác định một cách cụ thể, rõ ràng về loại tội phạm này.
Tội phạm về tham nhũng có thể được hiểu là những hành vi nguy hiểm cho
xã hội được quy định trong văn bản pháp luật, do người có chức vụ, quyền hạn,
được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhưng đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của
mình nhằm mục đích vụ lợi, xâm phạm hoạt động đúng đắn và uy tín của cơ quan
Nhà nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

dân đối với Đảng và Nhà nước.
Về mặt chủ quan: Tội nhận hối lộ được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, tức là
người nhận hối lộ thấy trước được hậu quả của hành vi đó nhưng vẫn mong muốn
và để mặc cho hậu quả đó xảy ra.
Về mặt khách quan: Người nhận hối lộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn mà mình
có để làm một việc có lợi cho người đưa hối lộ và điều kiện để làm việc đó là sẽ
nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác từ người đưa hối lộ.
Tóm lại, nhận hối lộ là hành vi thu lợi bất chính cho bản thân, có sự thỏa
thuận trước giữa người nhận hối lộ với người đưa hối lộ hoặc môi giới đưa hối lộ.
Và thời điểm hoàn thành tội nhận hối lộ tính từ thời điểm người có chức vụ, quyền
hạn đã thỏa thuận và đồng ý sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác.
1.1.2. Ý nghĩa của việc quy định tội nhận hối lộ trong Luật hình sự Việt Nam.
Việc nghiên cứu tội nhận hối lộ nhằm mục đích đưa ra những giải pháp
phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả đối với loại tội phạm này, nhằm góp phần đẩy
16


lùi và hạn chế đến mức thấp nhất các tội phạm về tham nhũng, hối lộ, lợi dụng
chức vụ, quyền hạn để đưa hối lộ, môi giới hối lộ; lợi dụng chức vụ, quyền hạn
trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ để vụ lợi; lạm quyền trong khi thi hành
nhiệm vụ, công vụ để vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với
người khác để trục lợi [71, tr.25].
Thứ nhất. Từ thực tiễn quá trình phát triển của xã hội, đặc biệt là lĩnh vực
phát triển kinh tế trong quá trình hội nhập, thục tiễn đấu tranh phòng, chống loại tội
phạm này, “Để thông qua đó, chúng ta có thể sử dụng đúng và đủ pháp luật hình sự
(đủ liều lượng và đủ pháp luật) vào việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội,
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân” [17, tr.18].
Thứ hai. Thông qua việc nghiên cứu tội nhận hối lộ, ý nghĩa thực tiễn về mặt
phương pháp luận, trong đường lối sủa đổi Bộ luật hình sự (BLHS) tới đây, tạo
bước đột phá nhằm xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự đủ mạnh, đáp

nhũng giai đoạn này vẫn chưa được quy định một cách cụ thể và có hệ thống trong
các văn bản pháp luật hình sự mà chủ yếu được quy định bằng các sắc lệnh, pháp
lệnh, Nghị quyết.
Sắc lệnh số 223/SL ngày 27/11/1946 về trừng trị các tội hối lộ, phù lạm, biển
thủ công quỹ. Theo quy định tại Sắc lệnh này, chủ thể của tội phạm tham nhũng
không những là công chức mà còn có nhân viên trong Chính phủ, trong Ủy ban
hành chính các cấp, các cơ quan do dân bầu. Các hình phạt được áp dụng đối với
người phạm tội rất nghiêm khắc, thể hiện sự quyết liệt, không khoan nhượng đối với
loại tội phạm này. Có thể thấy Sắc lệnh này là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên
của Nhà nước ta quy định tội phạm về tham nhũng một cách đặc thù.
Điều 1 Sắc lệnh quy định:
Tội đưa hối lộ cho công chức, tội công chức nhận hối lộ hoặc phù lạm, biển
thủ công quỹ hay của công dân đều bị phạt khổ sai từ năm đến hai mươi năm và
phạt bạc gấp đôi tang vật hối lộ, phù lạm hay biển thủ; tang vật hối lộ bị tịch thu
sung công; người phạm tội có thể bị xử tịch thu nhiều nhất là đến ba phần tư gia
sản; các đồng phạm và tòng phạm cũng bị phạt như trên [36, tr.1].
Điều 2 Sắc lệnh quy định:
Người phạm tội đưa hối lộ cho một công chức mà tự ý cáo giác cho nhà
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status