Tội hủy hoại rừng trong Luật Hình sự Việt Nam - Pdf 25

1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ THỊ PHƯƠNG MINH TỘI HỦY HOẠI RỪNG
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2013

3 Lời cam đoan Tôi xin cam đoan đây là công
trình nghiên cứu khoa học của
riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo
độ tin cậy, chính xác và trung
thực. Những kết luận khoa học của
luận văn cha từng đợc ai công
bố trong bất kỳ công trình nào
khác.

Tác giả luận văn Lê Thị Phơng Minh
1.1. Khái niệm và các dấu hiệu cơ bản của tội hủy hoại rừng 7
1.1.1. Khái niệm tội hủy hoại rừng 7
1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý của tội hủy hoại rừng 15
1.1.2.1.

Khách thể của tội hủy hoại rừng 15
1.1.2.2.

Mặt khách quan của tội hủy hoại rừng 18
1.1.2.3.

Mặt chủ quan của tội hủy hoại rừng 30
1.1.2.4.

Chủ thể của tội hủy hoại rừng 33
1.1.2.5.

Trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với tội hủy hoại rừng 37
1.2. Phân biệt tội hủy hoại rừng với một số tội khác 41
1.2.1. Phân biệt tội hủy hoại rừng với tội vi phạm các quy định
về khai thác và bảo vệ rừng
42
1.2.2. Phân biệt tội hủy hoại rừng với tội vi phạm các quy định
về quản lý rừng
44
1.2.3. Phân biệt tội hủy hoại rừng và tội vi phạm các quy định về
bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm
47
6


7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS : Bộ luật Hình sự
HĐXX : Hội đồng xét xử
TAND : Tòa án nhân dân
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
TNHS : Trách nhiệm hình sự
UBND : Ủy ban nhân dân
VKSND : Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC

: Viện kiểm sát nhân dân tối cao8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu
bảng
Tên bảng Trang
2.1 Số liệu rừng bị tàn phá từ năm 2006 - 2011 53

là do chính hoạt động của con người gây ra.
Công tác bảo vệ rừng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Trong
đó, trách nhiệm của các cơ quan bảo vệ pháp luật có vai trò rất quan trọng.
Nhất là trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, đời
sống kinh tế - xã hội có những thay đổi đáng kể, loại tội phạm môi trường có
nhiều điều kiện thuận lợi phát triển. Mặt trái của nền kinh tế thị trường là lối
sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, vì đồng tiền, con người sẵn sàng làm
bất cứ việc gì kể cả đó là hành vi vi phạm pháp luật. Vì vậy, tình hình tội
phạm môi trường nói chung và tội phạm hủy hoại rừng nói riêng đang diễn
ra hết sức phức tạp với tính chất, mức độ nguy hiểm cao.
Bên cạnh đó, về mặt thực tiễn trong pháp luật hình sự, quy định Tội
hủy hoại rừng còn một số nhược điểm nhất định. Trên thực tế hành vi hủy
hoại rừng diễn ra tương đối phổ biến. Tuy nhiên, số lượng tội phạm này bị
đưa ra xét xử chưa nhiều. Quy định pháp luật hình sự về tội phạm này về cơ
bản chưa đảm bảo được hiệu quả cao của cuộc đấu tranh phòng chống tội
phạm về môi trường. Việc áp dụng pháp luật đối với Tội hủy hoại rừng cũng
còn nhiều hạn chế, bất cập: Các văn bản quy phạm pháp luật chưa đồng bộ,
11

thống nhất; chưa có cơ chế phối kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tiến hành
tố tụng; biện pháp áp dụng pháp luật chưa triệt để, nghiêm minh làm ảnh
hưởng đến kết quả thi hành pháp luật đối với tội này trong giai đoạn hiện nay.
Về mặt lý luận, trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền và
cải cách tư pháp hiện nay còn thiếu những công trình nghiên cứu chuyên
khảo có tính chất hệ thống, toàn diện, chuyên sâu và thực tiễn áp dụng pháp
luật đối với Tội hủy hoại rừng mà trong đó làm rõ những vấn đề pháp lý và
đưa ra những kiến giải lập pháp khả thi nhằm hoàn thiện pháp luật. Chính vì
vậy, việc nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về công tác này, đưa ra các
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy phạm về tội phạm này
trong giai đoạn hiện nay là sự đòi hỏi cấp bách về cả lý luận và thực tiễn.

thực trạng quản lý"; hay đề tài "Những vấn đề về rừng quy định của pháp
luật và vấn đề thực thi" của Viện Tài nguyên Washington…
Các công trình này hoặc là chủ yếu nghiên cứu về nhóm tội phạm
môi trường nói chung; hoặc là chỉ nghiên cứu tập trung vào một số loại tội
phạm riêng lẻ như: Tội vi phạm các quy định về quản lý rừng, Tội vi phạm
các quy định về khai thác và bảo vệ rừng mà không có công trình nào nghiên
cứu về Tội hủy hoại rừng. Vì vậy, có thể khẳng định rằng, cho đến nay chưa
có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống
những vấn đề lý luận và thực tiễn về Tội hủy hoại rừng trong luật hình sự
Việt Nam.
Trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm môi trường đang diễn
biến phức tạp hiện nay, vấn đề này cần được nghiên cứu làm sáng tỏ hơn về
mặt lý luận và thực tiễn làm cơ sở cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật
về Tội hủy hoại rừng, đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp chế trong luật hình
sự Việt Nam, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ một cách cụ thể, có hệ thống về
mặt lý luận những vấn đề cơ bản liên quan đến Tội hủy hoại rừng theo luật
13

hình sự Việt Nam và việc xét xử tội phạm này trong thực tiễn. Từ đó chỉ ra
những vướng mắc và đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định
của pháp luật hình sự về Tội hủy hoại rừng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu đã trình bày nêu trên, tác giả luận
văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu như sau:
Về mặt lý luận: Tìm hiểu các khái niệm, các dấu hiệu pháp lý cơ bản
trong cấu thành tội phạm của Tội hủy hoại rừng, xem xét vấn đề đường lối xử lý
đối với người phạm Tội hủy hoại rừng. Từ đó, làm sáng tỏ bản chất pháp lý và

- Phân tích những tồn tại xung quanh việc quy định trên phương diện
lý luận Tội hủy hoại rừng thông qua việc nghiên cứu các vấn đề thực tiễn. Từ
đó đề xuất kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự và xây dựng
mô hình lý luận của BLHS về Tội hủy hoại rừng.
7. Ý nghĩa của luận văn
Đây là đề tài nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về Tội
hủy hoại rừng theo luật hình sự Việt Nam dưới cấp độ một luận văn thạc sĩ
luật học với những đóng góp về mặt khoa học đã nêu trên. Ngoài ra, kết quả
nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị cho các cơ quan nhà
nước có trách nhiệm trong việc hoàn thiện quy định pháp luật hình sự đối với
Tội hủy hoại rừng, đồng thời còn góp phần giải quyết những vướng mắc
trong thực tiễn xét xử loại tội phạm này.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Quy định của pháp luật hình sự về Tội hủy hoại rừng.
Chương 2: Thực tiễn xét xử Tội hủy hoại rừng.
Chương 3: Hoàn thiện quy định pháp luật hình sự về Tội hủy hoại
rừng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng.
15

Chương 1
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI HỦY HOẠI RỪNG

Rừng là nguồn tài nguyên to lớn, là nguồn thu lời cho nền kinh tế
quốc dân. Rừng không những có giá trị kinh tế mà rừng còn có vai trò quan
trọng trong quốc phòng, an ninh. Đặc biệt, rừng đã tạo ra sự ổn định và cân
bằng về môi trường sinh thái, điều hòa khí hậu, bảo vệ sự sống, hạn chế các
tác hại của lũ lụt, mưa gió, hạn hán, phục vụ đời sống kinh tế, văn hóa, xã
hội, du lịch của nhân dân. Vì vậy, chúng ta cần phải có những biện pháp cụ

trong Chương các tội phạm về môi trường của BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ
sung năm 2009). Tuy nhiên, BLHS chưa đưa ra khái niệm chung về tội phạm
hủy hoại rừng. Phân tích khoa học khái niệm này là khởi điểm cho việc giải
quyết về bản chất vấn đề của TNHS trong lĩnh vực hủy hoại rừng. Việc hiểu
đúng đắn khái niệm tội phạm hủy hoại rừng là cơ sở phương pháp luận cho
quá trình lập pháp đối với loại tội phạm này. Trong trường hợp không có sự
nhận thức đúng đắn về tội phạm này sẽ không thể xây dựng được các hình
thức chế tài, phạm vi và nhiệm vụ của hoạt động phòng ngừa.
Trước hết, cần hiểu khái niệm Tội hủy hoại rừng là gì. Đây là vấn đề
lý luận có ý nghĩa quan trọng của tội phạm này, tạo cơ sở cho việc đi sâu
nghiên cứu các vấn đề khác, đồng thời còn giúp các cơ quan bảo vệ pháp luật
áp dụng đúng đắn các quy phạm của BLHS. Do vậy, làm sáng tỏ khái niệm
Tội hủy hoại rừng có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.
Nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về Tội hủy
hoại rừng từ khi thành lập nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến
khi BLHS đầu tiên được chính thức thông qua ngày 27/6/1985, có hiệu lực
từ 01/01/1986 và tiếp tục được sửa đổi, bổ sung hoàn thiện trong lần pháp
điển hóa thứ hai ra đời BLHS năm 1999 và ngày 19/6/2009 Quốc hội nước
cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 5 đã thông qua
17

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS cho thấy chưa có quy định
pháp luật nào ghi nhận khái niệm tội phạm môi trường nói chung và khái
niệm Tội hủy hoại rừng nói riêng.
Trong BLHS năm 1985 chưa thể hiện rõ tính cấp bách và tầm quan
trọng đặc biệt của việc đấu tranh với các hành vi xâm hại môi trường. Điều này
không chỉ thể hiện qua việc BLHS 1985 chưa dành riêng một chương cho
các tội phạm về môi trường, mà chỉ quy định tại một Điều 195 "Tội vi phạm
các quy định về bảo vệ môi trường gây hậu quả nghiêm trọng" trong Chương
VIII - Các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng và trật tự quản lý hành

trong thực tiễn. Hành vi đốt phá rừng trái phép hoặc hành vi khác hủy hoại
rừng thì bị truy cứu TNHS theo Tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo
vệ rừng (Điều 181). Đây chỉ là một mắt xích, một dạng hành vi trong chuỗi
các hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý và bảo vệ
rừng của Tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng tại Điều 181
BLHS năm 1985. Qua thực tiễn xét xử cho thấy, việc quy định có tính chất
khái quát chung cho nhiều loại hành vi như vậy sẽ không làm rõ được những
tình tiết cụ thể cũng như mức độ nguy hiểm của từng loại hành vi. Trên thực
tế, xuất phát từ những lý do khác nhau, kẻ phạm tội không chỉ dừng lại ở chỗ
khai thác trái phép cây rừng, săn bắt trái phép chim, thú. Về mặt khách quan,
hành vi này khác hành vi hủy hoại rừng hay lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi
phạm các quy định về quản lý rừng. Do vậy, để đáp ứng yêu cầu điều tra,
truy tố, xét xử tội phạm liên quan đến rừng, trong lần pháp điển hóa thứ hai
luật hình sự Việt Nam - BLHS năm 1999, Tội vi phạm các quy định về quản
lý và bảo vệ rừng (Điều 181 BLHS năm 1985) được tách thành hai tội là: Tội
vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng và Tội vi phạm các quy
định về quản lý rừng (Điều 175 và Điều 176 BLHS năm 1999) trong Chương
các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và quy định thêm một tội mới là
"Tội hủy hoại rừng" tại Điều 189 BLHS năm 1999 trong Chương các tội xâm
phạm về môi trường. So với BLHS năm 1985 và Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 có một số thay đổi nhất định,
19

đáng chú ý là việc quy định các tội liên quan đến rừng thành các tội riêng
biệt đó là "Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng", "Tội vi
phạm các quy định về quản lý rừng" và "Tội hủy hoại rừng". Đến Luật sửa
đổi bổ sung một số điều của BLHS năm 2009 các điều này vẫn giữ nguyên.
Như vậy, trong BLHS năm 1999 cũng như Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của BLHS năm 2009, điều luật chỉ quy định tội danh hủy hoại rừng
mà không có một khái niệm đầy đủ, cụ thể về tội phạm này. Khái niệm Tội

phạm các quy định về quản lý rừng và quy định thêm một tội mới là "Tội
hủy hoại rừng". Điều này càng chứng tỏ thái độ xử lý nghiêm khắc của Nhà
nước đối với tội phạm này.
Thứ ba, Tội hủy hoại rừng được quy định tại Điều 189 BLHS năm
1999, đây là điều luật quy định đối với nhiều hành vi phạm tội mà mỗi hành
vi lại có đủ yếu tố cấu thành tội phạm: "Hành vi đốt rừng trái phép", "Phá
rừng trái phép" và "Hành vi khác hủy hoại rừng". Nếu các hành vi này có
liên quan chặt chẽ với nhau thì cũng chỉ xét xử về một tội: Tội hủy hoại
rừng. Vì vậy, để đảm bảo tính chính xác, khi nghiên cứu khái niệm của Tội
hủy hoại rừng cần nghiên cứu khái niệm cụ thể của các hành vi nói trên.
Để làm rõ khái niệm Tội hủy hoại rừng, cần làm rõ các thuật ngữ
"đốt", "phá".
Thuật ngữ "đốt" theo Từ điển tiếng Việt có nghĩa là làm cho cháy,
đốt rừng là làm cho cháy rừng. Theo thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT giải
thích: "Đốt rừng trái phép" là hành vi cố ý làm cháy rừng với bất kỳ mục
đích gì mà không được người hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.
"Phá" theo Từ điển tiếng Việt có nghĩa là bỏ đi một cách cương
quyết, làm cho không còn tồn tại để tiếp tục hoạt động được. Theo Thông tư
liên tịch số 19/2007/TTLT thì "Phá rừng trái phép" là chặt phá rừng, ken cây
và các hành vi khác trái pháp luật làm cho cây rừng bị chết với bất kỳ mục
đích gì, trừ các trường hợp khai thác trái phép cây rừng và các hành vi khác vi
phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng (tiểu mục 1.1
và tiểu mục 1.2 mục 1 phần IV Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT).
21

"Hành vi khác hủy hoại rừng" theo Thông tư liên tịch số
19/2007/TTLT là đào bới, nổ mìn, san ủi, đào, đắp, ngăn nước thủy triều,
tháo nước hoặc xả chất độc hại vào rừng trái pháp luật… làm cho cây rừng bị
chết hàng loạt, đất rừng bị ô nhiễm.
Dưới góc độ khoa học pháp lý hình sự, Tội hủy hoại rừng có một số

Thứ ba, tội phạm hủy hoại rừng có thể được thực hiện bởi bất cứ chủ
thể nào kể cả chủ rừng trong trường hợp họ vi phạm các quy định của pháp
luật về bảo vệ rừng ngay trong khu vực do họ trồng hoặc được giao quản lý,
nhưng chủ thể của tội phạm bao giờ cũng phải là người có năng lực TNHS.
Theo luật hình sự Việt Nam, người có năng lực TNHS là người đạt độ tuổi
chịu TNHS (Điều 12 BLHS) và không thuộc trường hợp ở trong tình trạng
không có năng lực TNHS (Điều 13 BLHS). Với việc quy định như vậy luật
hình sự Việt Nam mặc nhiên thừa nhận người có năng lực TNHS là người ở
một độ tuổi nhất định và là người có khả năng nhận thức được đầy đủ tính
nguy hiểm cho xã hội và tính chất trái pháp luật của hành vi do mình thực
hiện (về lý trí) cũng như điều khiển được hành vi đó (về ý chí).
Thứ tư, người có thái độ tâm lý đối với hành vi phạm tội do mình
thực hiện và đối với hậu quả của hành vi ấy được thể hiện dưới hình thức cố
ý hoặc vô ý. Tội phạm hủy hoại rừng được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý.
Như vậy, từ những phân tích trên đây có thể đưa khái niệm Tội hủy
hoại rừng theo hai cách như sau:
Cách thứ nhất: Tội hủy hoại rừng là hành vi cố ý làm cháy rừng với
bất kỳ mục đích gì mà không được người hoặc cơ quan nhà nước có thẩm
quyền cho phép; chặt phá rừng, ken cây và các hành vi khác trái pháp luật
làm cho cây rừng bị chết với bất kỳ mục đích gì trừ các trường hợp khai thác
trái phép cây rừng và các hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước
về khai thác và bảo vệ rừng; đào bới, nổ mìn, san ủi, đào, đắp, ngăn nước
thủy triều, tháo nước hoặc xả chất độc hại vào rừng trái pháp luật … làm
23

cho cây rừng bị chết hàng loạt, đất rừng bị ô nhiễm gây hậu quả nghiêm
trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi đó mà còn vi phạm.
Khái niệm này có ưu điểm là rất cụ thể nhưng dài dòng và cụ thể nên
mang tính liệt kê về hành vi nhiều hơn mà liệt kê thì bao giờ cũng không đầy
đủ vì không thể lường trước hết được các hành vi trên thực tế sẽ xảy ra. Vì

Tội hủy hoại rừng là một tội phạm về môi trường cụ thể vì vậy việc
nghiên cứu các dấu hiệu cơ bản của Tội hủy hoại rừng có một vai trò quan
trọng. Nó không chỉ là cơ sở quan trọng cho việc định tội danh, xác định rõ
các dấu hiệu cơ bản của tội phạm mà còn là cơ sở pháp lý cần và đủ để truy
cứu TNHS người phạm tội. "Cấu thành tội phạm là cơ sở khoa học của việc
định tội danh". Khi một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thỏa
mãn đầy đủ các dấu hiệu cấu thành của Tội hủy hoại rừng được quy định tại
Điều 189 BLHS thì các cơ quan Tư pháp hình sự có đầy đủ cơ sở pháp lý để
truy cứu TNHS đối với người phạm tội.
1.1.2.1. Khách thể của Tội hủy hoại rừng
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại. Bất
cứ hành vi phạm tội nào cũng đều gây hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho một
số quan hệ xã hội nhất định được luật hình sự bảo vệ. Không có sự xâm hại
quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ thì không có tội phạm.
Theo luật hình sự Việt Nam, những quan hệ xã hội được coi là khách
thể bảo vệ của luật hình sự là những quan hệ xã hội đã được xác định trong
Điều 8 của BLHS. Khoa học luật hình sự Việt Nam phân biệt ba loại khách
thể của tội phạm: khách thể chung, khách thể loại và khách thể trực tiếp. Các
khái niệm này điều chỉnh các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị
tội phạm xâm hại nhưng mức độ khái quát khác nhau. Khách thể chung của
tội phạm là tổng hợp các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ khỏi sự
xâm hại của tội phạm. Khách thể loại tội phạm là nhóm quan hệ xã hội cùng
25

tính chất được nhóm các quy phạm của pháp luật hình sự bảo vệ khỏi bị xâm
hại của nhóm tội phạm. Khách thể trực tiếp của tội phạm là quan hệ xã hội
cụ thể bị loại tội phạm cụ thể trực tiếp xâm hại. Một tội phạm có thể xâm hại
trực tiếp đến nhiều quan hệ xã hội nhưng không phải quan hệ xã hội bị xâm
hại nào cũng đều được coi là khách thể trực tiếp mà chỉ những quan hệ nào
xét trên các mặt như tính chất quan trọng của quan hệ xã hội, mức độ gây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status