1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ DUNG
TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ RỪNG
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Tất Viễn
HÀ NỘI - 2012 3
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng
Mặt chủ quan của tội phạm
22
1.2.2.4.
Chủ thể của tội phạm
24
1.3.
Quy định về tội vi phạm các quy định về quản lý rừng trong
pháp luật hình sự trong một số nước
29
1.3.1.
Tội vi phạm các quy định về quản lí rừng trong Bộ luật Hình
sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
30
1.3.2.
Tội vi phạm các quy định về quản lí rừng trong Bộ luật Hình
sự Liên bang Nga
33
4
1.3.3.
Tội vi phạm các quy định về quản lí rừng trong Bộ luật
Hình sự của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
35
Chương 2: PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI VI PHẠM
CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÍ RỪNG QUA CÁC
THỜI KỲ
37
2.1.
Tội vi phạm các quy định về quản lý rừng trong pháp luật
(Điều 175)
55
2.5.2.
Phân biệt tội vi phạm các quy định về quản lí rừng (Điều 176)
với Tội hủy hoại rừng (Điều 189)
57
2.5.3.
Phân biệt tội vi phạm các quy định về quản lí rừng (Điều 176)
với tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công
58
5
vụ (Điều 281)
Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VỀ TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ
QUẢN LÝ RỪNG VÀ MỘT SỐ VƢỚNG MẮC
60
3.1.
Tình hình tội vi phạm các quy định về quản lý rừng ở Việt
Nam hiện nay
60
3.1.1.
Số vụ và số bị cáo phạm tội vi phạm các quy định về quản
lí rừng
61
3.1.2.
Diễn biến của tình hình tội phạm
68
3.1.3.
bảng
Tên bảng
Trang
3.1
Số liệu rừng bị tàn phá các năm 2005 - 2011
63
3.2
Số liệu lâm sản bị tịch thu các năm 2005 - 2011
64
3.3
Số vụ và số bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội vi phạm các quy
định về quản lý rừng trong bảy năm, từ năm 2005 - 2011
64
3.4
Số vụ, số bị cáo phạm tội vi phạm các quy định về quản
lý rừng so sánh với tội phạm nói chung của từng năm, từ
2005 đến năm 2011
65
3.5
Số liệu đối tượng vi phạm lâm luật các năm 2005 - 2011
65
3.6
Mức độ gia tăng hằng năm của số vụ và số bị can phạm
tội vi phạm các quy định về quản lý rừng
68 7
MỞ ĐẦU
những kết quả đáng kể. Tuy nhiên, việc áp dụng của pháp luật đối với tội vi
phạm các quy định về quản lý rừng cũng còn nhiều hạn chế, bất cập: Các văn
bản quy phạm pháp luật chưa đồng bộ, thống nhất; chưa có cơ chế phối kết
hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; biện pháp áp dụng của pháp
luật chưa triệt để, nghiêm minh. Chính vì thế, đã ảnh hưởng đến kết quả thi
hành pháp luật đối với tội vi phạm các quy định về quản lý rừng trong giai
đoạn hiện nay. Về mặt pháp luật, các quy định của pháp luật và việc áp dụng
pháp luật về tội vi phạm các quy định về quản lý rừng tuy đã được ban hành
khá đầy đủ và đã quan tâm nghiên cứu nhưng vẫn còn thiếu các công trình
nghiên cứu chuyên sâu mang tính tổng kết về mặt lập pháp, thực tiễn áp dụng
pháp luật đối với tội phạm này. Theo đó, những vấn đề lý luận trong lĩnh vực
này vẫn còn nhiều điểm chưa có nhận thức khoa học thống nhất dẫn đến
những vướng mắc trong tư pháp hình sự cho đến nay vẫn chưa được giải đáp.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về công tác này là
sự đòi hỏi cấp bách về lý luận và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay. Nhận thức
như vậy, học viên đã chọn đề tài: "Tội vi phạm các quy định về quản lý rừng
trong luật hình sự Việt Nam" làm luận văn thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong lĩnh vực nghiên cứu, tội vi phạm các quy định về quản lý rừng
được đề cập trong bình luận khoa học Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999
được nhiều tập thể các tác giả nghiên cứu xuất bản như: Bình luận khoa học
Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 giáo trình luật hình sự Việt Nam, do
Uông Chu Lưu chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, 2001; Bình luận khoa học
Bộ luật Hình sự Việt Nam đã được sửa đổi bổ sung năm 2009, do TS. Trần
Minh Hưởng chủ biên, Nxb Lao động, 2009; Bình luận khoa học Bộ luật
9
Hình sự - phần các tội phạm tập VII - Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh
tế, Bình luận chuyên sâu, của Đinh Văn Quế, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh,
2006 ; Cao Anh Đức, Một số khó khăn, vướng mắc khi áp dụng các quy định
biến phức tạp hậu quả xảy ra rất nghiêm trọng;
- Đề xuất một số giải pháp góp phần bổ sung, hoàn thiện các quy định
pháp luật về tội vi phạm các quy định về quản lý rừng trong Bộ luật Hình sự
Việt Nam.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài chỉ đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề lý luận về tội vi phạm các
quy định về quản lý rừng, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
phòng chống tội vi phạm các quy định về quản lý rừng.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chính sách hình sự của Nhà nước ta
trong lĩnh vực bảo vệ rừng nói riêng và bảo vệ môi trường nói chung.
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn là:
phân tích, tổng hợp, thống kê so sánh, lịch sử cụ thể
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Đề tài là công trình chuyên khảo có hệ thống ở cấp độ luận văn
thạc sĩ luật học nghiên cứu làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn về tội vi
phạm các quy định về quản lý rừng trong Bộ luật Hình sự Việt Nam.
- Kết quả của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo, học tập, đồng
thời cung cấp cho cán bộ làm công tác thực tiễn những hướng dẫn, chỉ dẫn cụ
thể, góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự trong giai đoạn
hiện nay.
11
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc quy định tội vi phạm các quy định
về quản lý rừng trong Bộ luật Hình sự Việt Nam.
Chương 2: Pháp luật hình sự Việt Nam về tội vi phạm các quy định về
thiên nhiên vô giá với hàng ngàn loài chim, loài thú quí giá, là nguồn đề tài
nghiên cứu bất tận cho các nhà sinh vật học. Đối với dân tộc Việt Nam, rừng
còn gắn chặt với từng chặng đường lịch sử. Trong những cuộc kháng chiến
chống ngoại xâm, rừng trở thành căn cứ cách mạng: "Rừng che bộ đội, rừng
13
vây quân thù". Trong thời bình, rừng là nơi nghỉ ngơi, an dưỡng, là điểm tham
quan du lịch của mọi người.
Ngày nay, với khoa học kĩ thuật tiên tiến, hiện đại, con người đã chế
ra nhiều nguyên liệu tổng hợp từ các sản phẩm hóa học, nhưng vẫn không thể
thay thế được vai trò của gỗ trong đời sống. Tre, nứa, trúc, mai, vầu… cùng
với gỗ là nguyên liệu chính để sản xuất giấy và hàng ngàn vật dụng quan
trọng khác. Rừng còn cung cấp cho ta những sản vật quí hiếm. Nhiều loại cây
cỏ của rừng là những vị thuốc đem lại sức khỏe và sự sống cho con người.
Rừng đem lại nhiều lợi ích như thế nên con người ra sức khai thác
nguồn lợi quí giá từ rừng. Bọn lâm tặc săn lùng gỗ quí khắp nơi. Muốn lấy
một cây gỗ quí, chúng chẳng ngại phá hại hàng trăm cây cối to nhỏ xung
quanh.Việc đốt rừng làm rẫy đã thu hẹp rất nhiều diện tích rừng. Nguy hại
nhất là việc làm đó đã phá hủy vành đai rừng phòng hộ, dẫn đến hiểm họa sạt
núi, lở đất và những cơn lũ lớn không thể nào ngăn chặn được sẽ gây hậu quả
ghê gớm. Khai thác rừng để phục vụ cuộc sống con người là việc làm cần thiết,
nhưng muốn hưởng lợi ích lâu dài thì con người cần phải biết bảo vệ rừng.
Cùng với việc chặt cây lấy gỗ, chúng ta phải biết trồng cây, gây rừng. Khai
thác lâm sản cũng phải có kế hoạch, có mức độ, nếu không, chẳng mấy chốc
mà tài nguyên rừng cạn kiệt. Khi đó, thử hỏi con người lấy gì để chống đỡ với
gió, cát, nước lũ… và lấy đâu ra rừng vàng, biển bạc cho con cháu mai sau.
Vậy nhận thấy rằng, rừng là nguồn tài nguyên quý giá, một mối liên
kết và sự sống trên trái đất. Nếu không có rừng bảo vệ và che chở chúng ta
khi thảm họa thiên nhiên ập đến thì con người có thể sẽ không còn tồn tại trên
trái đất được lâu nữa nhưng trong mỗi chúng ta có thể có, có thể không biết
Theo đó, người thực hiện hành vi vi phạm các quy định về quản lý
rừng bị coi là tội phạm và phải chịu các chế tài nghiêm khắc của luật hình sự
đó là hình phạt. Đây chính là thái độ của xã hội đối với hành vi đi ngược lại
những chuẩn mực xã hội, đi ngược lại lợi ích của xã hội. Việc chịu hình phạt
đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật đồng thời đảm bảo công bằng xã
15
hội. Trên cơ sở đó, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có điều
kiện để cải tạo, giáo dục bản thân trở thành người có ích cho xã hội.
Việc quy định phù hợp giữa tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội
của hành vi vi phạm và chế tài bị áp dụng hình phạt, có ý nghĩa vô cùng quan
trọng. Nó phát huy hiệu quả của công cụ đấu tranh phòng chống tội phạm,
đồng thời đảm bảo công bằng xã hội. Hành vi càng thể hiện tính nguy hiểm
cho xã hội cao bao nhiêu, thì hình phạt đối với hành vi ấy phải càng nghiêm
khắc bấy nhiêu. Khi hai yếu tố này tương xứng nó góp phần là giảm thiểu mặt
tiêu cực của hình phạt. Không chỉ cộng đồng xã hội nói chung mà ngay cả
người phạm tội cũng nhận thấy hình phạt cho mình như vậy là thích đáng. Có
như vậy, bản thân họ mới có thể cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Quy định tội vi phạm các quy định về quản lý rừng trong pháp luật
hình sự là cơ sở để Nhà nước thông qua các cơ quan quyền lực nhà nước sử
dụng các công cụ pháp lý đấu tranh phòng chống tội phạm. Thực tiễn điều tra,
truy tố, xét xử những năm qua cho thấy rằng, mỗi loại tội phạm có tính chất
mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau, phương pháp đấu tranh phòng ngừa
và chống tội phạm cũng khác nhau. Nhưng cho dù như thế nào thì chúng đều
gây những thiệt hại nhất định cho các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự
bảo vệ. Chúng là những hiện tượng xã hội tiêu cực cần chúng ta không ngừng
đấu tranh, hạn chế và từng bước loại trừ ra khỏi đời sống xã hội.
Đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm vi phạm các quy định về
quản lý rừng nói riêng và tội phạm nói chung đòi hỏi chúng ta phải tiến hành
một cách có hệ thống đồng bộ, đồng thời sử dụng nhiều biện pháp khác nhau,
trọng góp phần phân hóa trách nhiệm hình sự của từng mức độ nguy hiểm cho
xã hội của hành vi. Chia tách theo từng mức độ như vậy là cơ sở để chúng ta
đưa ra mức chế tài phù hợp. Sự phân hóa trách nhiệm hình sự càng triệt để
bao nhiêu thì sẽ góp phần tạo cơ sở pháp lý thuận lợi bấy nhiêu cho công tác
cá thể hóa trách nhiệm hình sự trong thực tiễn xét xử.
17
Từ những đòi hỏi trên, việc quy định tội vi phạm các quy định về quản
lý rừng là thực sự đúng đắn và cần thiết đáp ứng đòi hỏi lý luận và thực tiễn.
1.2. KHÁI NIỆM VÀ CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI VI PHẠM CÁC
QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ RỪNG
1.2.1. Khái niệm
Tội vi phạm các quy định về quản lý rừng được xếp vào chương XVI -
Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế. Trước khi tìm hiểu khái niệm tội vi
phạm các quy định về quản lý rừng, ta cần phải hiểu rõ khái niệm trật tự quản
lý kinh tế và các tội xâm phạm trật tự kinh tế.
Trật tự kinh tế có thể hiểu là các quan hệ xã hội đảm bảo cho sự ổn
định và phát triển của nền kinh tế quốc dân. Nền kinh tế đó là "nền kinh tế
nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa" [54, Điều 15]. Việc xác định một cách đầy đủ
và chính xác nội hàm khái niệm trật tự quản lý kinh tế ở điều luật này có ý
nghĩa quan trọng trong việc quy định giới hạn các hành vi xâm phạm trật tự
quản lý kinh tế, tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các biện pháp bảo vệ trật
tự quản lý kinh tế, đấu tranh phòng và chống các tội xâm phạm trật tự quản
lý kinh tế.
Để hiểu rõ hơn khái niệm vi phạm các quy định về quản lý rừng chúng ta
cần hiểu các tội xâm phạm trật tự quản lý xã hội. Theo Giáo trình luật hình sự
Việt Nam (phần 2), Trường Đại học Luật Hà Nội: "Các tội xâm phạm trật tự
quản lý kinh tế là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại nền kinh tế quốc
dân, gây thiệt hại cho lợi ích của nhà nước, lợi ích hợp pháp của tổ chức và
cho xã hội.
b) Bình diện pháp lý: Tội phạm là hành vi trái pháp luật
hình sự.
c) Bình diện chủ quan: Tội phạm là hành vi do người có
năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi trách nhiệm hình sự
thực hiện một cách có lỗi [6].
19
Từ đó, có thể đưa ra khái niệm tội vi phạm các quy định về quản lý
rừng như sau: Tội vi phạm các quy định về quản lý rừng là hành vi nguy hiểm
cho xã hội, trái pháp luật hình sự của người có năng lực trách nhiệm hình sự
và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự xâm hại đến các quy định của Nhà nước
về giao rừng, thu hồi đất rừng, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất rừng,
khai thác vận chuyển gỗ.
Từ khái niệm chung của tội vi phạm các quy định về quản lý rừng nêu
trên chúng ta xác định phạm vi của tội phạm này. Để hiểu rõ tội vi phạm các
quy định về quản lý rừng một cách rõ ràng và cụ thể hơn, đặc biệt nhằm áp
dụng chính xác các quy định tương ứng của Bộ luật Hình sự trong cuộc sống
đòi hỏi nghiên cứu cấu thành tội phạm thể hiện qua bốn yếu tố cấu thành tội
phạm đó là: Khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan và chủ thể.
Một nguyên tắc chung được xác định tại Điều 2 Bộ luật Hình sự năm
1999: "Chỉ người nào phạm một tội đã được quy định mới phải chịu trách
nhiệm hình sự" [55]. Điều này hoàn toàn phù hợp với tuyên ngôn nhân quyền
của Liên Hợp Quốc: Không ai bị kết án vì một hành vi mà lúc họ thực hiện
luật pháp quốc gia hay quốc tế không coi là tội phạm.
Tội phạm là hiện tượng xã hội có tính lịch sử, được đặc trưng bởi tính
nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi và tính trái pháp luật hình sự. Theo luật hình
sự Việt Nam, bất cứ hành vi phạm tội nào dù đặc biệt nghiêm trọng hay ít
nghiêm trọng, dù bị quy định bởi hình phạt tù chung thân, tử hình hay chỉ là
cảnh cáo phạt tiền cũng đều là thể thống nhất giữa mặt khách quan hay mặt
phải là hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ xã hội đã
được xác định đó.
Khách thể của tội phạm bao giờ cũng có ảnh hưởng nhất định ở các
mức độ khác nhau đến bản chất xã hội, cũng như đến tính nguy hiểm cho xã
hội của nó. Nhà làm luật thường liệt kê danh mục các khách thể được nhà
21
nước bảo vệ bằng sức mạnh cưỡng chế của các biện pháp tác động về mặt
pháp lý hình sự nên sự xâm hại có tính chất tội phạm đến các giá trị đó sẽ thấy
rõ bản chất, xu hướng và tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi.
Căn cứ vào mức độ khái quát các quan hệ xã hội được luật hình sự
bảo vệ và bị tội phạm xâm hại, khoa học luật hình sự đã chia khách thể của tội
phạm thành ba loại: "Khách thể chung, khách thể loại và khách thể trực tiếp.
Việc xác định đúng khách thể chung, khách thể loại và khách thể trực tiếp mà
tội phạm xâm hại đến sẽ có ý nghĩa pháp lý hình sự quan trọng đối với quá
trình đánh giá chúng và giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự" [7].
Khách thể của tội vi phạm các quy định về quản lý rừng là các quan
hệ xã hội bảo đảm cho sự ổn định và phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Hành vi phạm tội đã xâm hại đến các quan hệ này thông qua việc vi phạm các
quy định của nhà nước trong quản lý kinh tế và qua đó gây thiệt hại cho lợi
ích của nhà nước, lợi ích của tổ chức, công dân. Khách thể trực tiếp của tội
phạm đó là xâm hại các quy định Nhà nước về quản lý rừng.
Như vậy, so với Điều 181 của Bộ luật Hình sự năm 1985, khách thể
trực tiếp của tội vi phạm các quy định về quản lý rừng trong Bộ luật Hình sự
năm 1999 được xác định một cách cụ thể. Một số hành vi như vi phạm về
khai thác và bảo vệ rừng, hủy hoại rừng, khai thác săn bắt động vật hoang dã
quý hiếm tuy cũng xâm phạm đến trật tự quản lý và bảo vệ rừng nhưng nay đã
được tách và được điều chỉnh bằng các điều luật độc lập thuộc nhiều chương
khác nhau trong Bộ luật Hình sự năm 1999. Việc tách tội là cần thiết vì nó
hướng đến cụ thể hóa phạm vi những quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ.
với tính cách như là một thứ vật chất mà việc xâm hại đến hệ thần kinh của
Nhà nước, đến quyền sở hữu" [58].
Do vậy, trong quá trình áp dụng luật cần nắm vững sự khác biệt này
để đánh giá chính xác bản chất giai cấp của tội phạm, tính nguy hiểm của
hành vi phạm tội, xác định đúng khách thể mà điều luật điều chỉnh.
23
1.2.2.2. Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm là một trong bốn yếu tố cấu thành của
tội phạm. Không có mặt khách quan thì cũng không có các yếu tố khác của tội
phạm và cũng không có tội phạm. "Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên
ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn
tại bên ngoài thế giới khách quan" [40].
Theo đó, mặt khách quan của tội vi
phạm các quy định về quản lý rừng là những biểu hiện của tội vi phạm các
quy định về quản lý rừng diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan.
Giống như bất cứ tội phạm nào khác, tội vi phạm các quy định về quản lý
rừng khi xảy ra cũng đều có những biểu hiện ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới
khách quan, thông qua những biểu hiện đó mà con người có thể trực tiếp nhận
biết được tội phạm. Những biểu hiện đó là:
- Hành vi nguy hiểm cho xã hội.
- Hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như mối quan hệ nhân quả giữa
hành vi và hậu quả.
- Các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội (công
cụ, phương tiện, thủ đoạn, thời gian, địa điểm phạm tội…).
Trong đó hành vi nguy hiểm và hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối
quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả là những biểu hiện cơ bản của yếu
tố mặt khách quan của tội vi phạm các quy định về quản lý rừng.
- Bằng hành động: Là hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi
tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm hay nói cách
khác là làm những động tác cơ học mà người phạm tội thực hiện và bị luật
hình sự cấm.
- Không hành động: Là hình thức hành vi khách quan làm biến đổi
tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho
khách thể của tội phạm thông qua việc chủ thể không làm một việc mà pháp
luật yêu cầu phải làm mặc dù có đủ điều kiện để làm.
25
Theo nguyên tắc pháp chế: "Nullum crimen sine lege" tức là không có
tội phạm nếu không có luật quy định. Nếu như không có việc thực hiện hành
vi phạm tội được quy định trong luật hình sự thì cũng không có tội phạm.
"Nếu phân biệt rõ được các cấu thành tội phạm mà trong đó hành vi được
thực hiện bằng hành động hoặc không hành động chính là một trong những
điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự được chính xác" [7].
Hành động phạm tội vi phạm các quy định về quản lý rừng là hình
thức của hành vi khách quan như:
- Giao rừng, đất trồng rừng, thu hồi rừng, đất trồng rừng trái pháp luật;
- Cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng, đất trồng rừng trái pháp luật;
- Cho phép khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật.
Các hành vi này thông qua việc chủ thể làm một việc bị pháp luật
cấm Hành động phạm tội có thể chỉ tác động đơn giản xảy ra một lần trong
thời gian ngắn hoặc dài, hoặc có thể là tổng hợp của nhiều động tác khác
nhau, hoặc có thể lặp đi lặp lại liên tục trong thời gian dài.
Không hành động phạm tội là hình thức hành vi khách quan tạo ra các
quyết định hành chính cho phép người khác thực hiện thông qua việc chủ thể
không làm một việc mà pháp luật yêu cầu phải làm mặc dù có đủ điều kiện để
làm. Tính trái pháp luật được thể hiện ở chỗ, chủ thể phải làm việc đó đã
không thực hiện việc làm đó mặc dù có điều kiện để làm, nghĩa vụ phải làm.