Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng trong luật hình sự Việt Nam 2 - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ HUYỀN TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ KHAI THÁC
VÀ BẢO VỆ RỪNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số : 60 38 40 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

3
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
1
Lời cam đoan
2
Mục lục
3
Danh mục các chữ viết tắt trong luận văn
6
Danh mục các bảng
7
Danh mục các biểu đồ, đồ thị
8
MỞ ĐẦU
9
Chƣơng 1
14
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI VI PHẠM CÁC QUY
ĐỊNH VỀ KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ RỪNG
14
1.1. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự về tội vi phạm các quy
định về khai thác và bảo vệ rừng trước khi có Bộ luật hình sự năm
1999
14
1.1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình
sự năm 1985
14

52
2.1.2. Diễn biến của tình hình tội phạm
57
2.1.3. Tính chất của tình hình tội phạm
59
2.2. Phòng chống tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ
rừng ở Việt Nam và một số nước trên thế giới
69
2.2.1. Phòng chống tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo
vệ rừng ở Việt Nam
69
2.2.2. Phòng chống tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo
vệ rừng ở một số nước trên thế giới
75
Chƣơng 3
83
PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VỀ TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ KHAI THÁC VÀ
83

5
BẢO VỆ RỪNG
3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật hình sự về tội vi phạm
các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
83
3.2. Hoàn thiện pháp luật hình sự về tội vi phạm các quy định về
khai thác và bảo vệ rừng
85
3.2.1. Các yếu tố cấu thành tội phạm
85

VPCQDVKTVBVR
Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ
rừng
7
DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
Bảng 1.1. So sánh tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ
rừng với tội buôn lậu, tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ
qua biên giới, tội huỷ hoại rừng, tội vi phạm các quy định về bảo
vệ động vật hoang dã, quý hiếm.
44
Bảng 2.1. Số vụ và số bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội vi phạm các
quy định về khai thác và bảo vệ rừng trong năm năm, từ năm 2005
đến năm 2009.
52
Bảng 2.2. Số vụ, số bị cáo phạm tội vi phạm các quy định về khai
thác và bảo vệ rừng so sánh với tội phạm nói chung của từng năm,

Biểu đồ 2.2. Số lượng bị cáo của tội vi phạm các quy định về khai
thác và bảo vệ rừng và số bị cáo của các tội phạm nói chung, từ
năm 2005 đến năm 2009.
55
Đồ thị 2.1. Diễn biến tình hình tội vi phạm các quy định về khai
thác và bảo vệ rừng trong năm năm, từ năm 2005 đến năm 2009.
59
Đồ thị 2.2. Diễn biến tình hình số bị cáo là cán bộ công chức
phạm tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng trong
năm năm, từ năm 2005 đến năm 2009.
68
9
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
` Việt Nam là nước có diện tích rừng và đất rừng khá lớn, chiếm khoảng

thực tiễn về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng một mặt
góp phần nghiêm trị những hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về
khai thác và bảo vệ rừng; mặt khác cũng thấy được giới hạn cần trừng trị bằng
pháp luật hình sự đối với hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ
rừng trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay. Trên cơ sở đó đưa ra
được mô hình lý luận của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ
rừng trong khoa học luật hình sự, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh
chung của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với loại tội này.
Chính vì lý do nêu trên, tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài: Tội vi phạm
các quy định về khai thác và bảo vệ rừng trong luật hình sự Việt Nam, làm
luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Tình hình tội phạm vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
trong những năm gần đây có chiều hướng gia tăng không những về số lượng
các vụ án, số lượng người thực hiện hành vi phạm tội trong mỗi vụ, mà tính
chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm này cũng ngày càng trở nên nghiêm
trọng. Tuy nhiên số lượng các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến
tội phạm này không nhiều. Có thể kể đến như luận văn thạc sỹ luật học của
tác giả Lê Văn Hà: Trách nhiệm hình sự đối với tội vi phạm các quy định về
khai thác và bảo vệ rừng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm này trên địa bàn
tỉnh Gia Lai, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 2002; bài viết của tác giả

11
Đỗ Đức Hồng Hà: Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng-
những tồn tại và vướng mắc cần tháo gỡ, tạp chí Toà án nhân dân số 14 năm
2005. Và gần đây nhất là luận án tiến sỹ luật học của tác giả Phạm Đình Xinh:
Hoạt động điều tra tội phạm vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ
rừng của cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý và chức vụ.
Các công trình này hoặc là chỉ nghiên cứu một phần về trách nhiệm
hình sự của loại tội này cũng như đấu tranh phòng ngừa tội phạm này trên

1999 đến nay.
Về không gian: Nghiên cứu tội vi phạm các quy định về khai thác và
bảo vệ rừng tại Việt Nam, trong sự so sánh, liên hệ với loại tội này ở một số
nước trên thế giới.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê
Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng
và Nhà nước ta về cải cách tư pháp và đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể để giải quyết
những nhiệm vụ mà đề tài đặt ra như phương pháp phân tích, tổng hợp,
phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử…
5. Điểm mới về mặt khoa học
Đề tài được thực hiện thành công và đạt các mục đích đề ra sẽ có đóng
góp mới về mặt khoa học như sau:

13
- Làm rõ về mặt lý luận cấu thành tội phạm của tội vi phạm các quy
định về khai thác và bảo vệ rừng.
- Góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự về tội vi phạm các quy định về
khai thác và bảo vệ rừng đồng thời xây dựng mô hình lý luận về loại tội này
trong giai đoạn hiện nay.
6. Kết cấu của luận văn
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn được trình bày theo kết cấu
sau đây: Phần mở đầu, 3 chương và phần kết luận.
Ba chương của bản luận văn bao gồm:
Chương 1: Một số vấn chung về tội vi phạm các quy định về khai thác
và bảo vệ rừng
Chương 2: Thực trạng tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ
rừng trong nền kinh tế thị trường Việt Nam
Chương 3: Phương hướng hoàn thiện pháp luật hình sự về tội vi phạm

pháp tu chính”. Theo nội dung của Sắc lệnh này, thì khi xét xử, Toà án xét xử
theo luật hình cũ mà thực dân phong kiến đã đề ra nhưng với điều kiện không
được trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ
cộng hoà [26, tr.53]. Ở giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954, việc xét xử các
tội phạm nói chung và tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
nói riêng chủ yếu vẫn dựa vào luật lệ hình sự cũ. Nhìn chung, thời kỳ này
chúng ta chỉ có một số ít các văn bản pháp luật quy định về các hành vi vi
phạm khai thác và bảo vệ rừng như: Sắc lệnh số 142/SL ngày 21/12/1949 quy

15
định việc lập biên bản các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng; Sắc lệnh số
26/SL ngày 25/02/1946 về các tội phá hoại công sản; Sắc lệnh số 267/SL
ngày 15/6/1956 về các âm mưu và hành động phá hoại tài sản của Nhà nước,
của Hợp tác xã và của nhân dân làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế
hoạch Nhà nước.
Năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, nước ta chia thành hai miền.
Miền Bắc hoàn toàn giải phóng và tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, Miền
Nam tiếp tục tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Điều
kiện kinh tế, văn hoá, xã hội ở miền Bắc đã có những biến đổi căn bản so với
trước đó, do vậy toàn bộ hệ thống pháp luật của chế độ cũ không được phép
áp dụng nữa [26, tr.65]. Cũng trong thời kỳ này đã xuất hiện một số văn bản
pháp luật điều chỉnh các hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ
rừng có giá trị pháp lý cao như: Pháp lệnh quy định về quản lý Nhà nước đối
với công tác phòng cháy và chữa cháy (ngày 27/9/1961); Nghị định số 221-
CP ngày 29/12/1961 của Hội đồng Chính phủ về việc phòng cháy và chữa
cháy rừng; Nghị định số 39-CP ngày 05/4/1963 của Hội đồng Chính phủ ban
hành điều lệ tạm thời về săn, bắt chim, thú rừng; Pháp lệnh trừng trị các tội
xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa (ngày 21/10/1970); Pháp lệnh ngày
06/9/1972 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định việc bảo vệ rừng; Nghị
quyết số 155-CP ngày 03/10/1973 của Hội đồng Chính phủ về việc thi hành

phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm [23, tr.103].
Căn cứ vào quy định trên đây thì hành vi thiếu tinh thần trách nhiệm,
gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài nguyên rừng đều bị xử lý theo Điều 14
Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa. Hành vi này
một mặt xâm hại trực tiếp đến tài sản xã hội chủ nghĩa, mặt khác cũng xâm

17
hại đến chế độ bảo vệ rừng của Nhà nước ta. Tuy nhiên, trong các trường hợp
này khách thể trực tiếp được bảo vệ ở đây là tài sản xã hội chủ nghĩa.
Ngày 06/9/1972, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh quy
định việc bảo vệ rừng. Theo đó tất cả các hành vi gây thiệt hại đến rừng đều
bị nghiêm cấm. Đó là: Cấm phá rừng. Những rừng tự nhiên và rừng trồng đều
phải được bảo vệ nghiêm ngặt (Điều 3); Cấm mọi hành động chặt cây rừng
trái với các điều quy định của Nhà nước (Điều 4); Chính phủ quy định những
khu rừng cấm nhằm bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ di tích lịch sử, bảo vệ sức
khoẻ, nghiên cứu khoa học hoặc các lợi ích đặc biệt khác.
Ở những khu rừng này, cấm chặt cây, trừ trường hợp để dọn rừng và tu
bổ rừng, cấm săn, bắt chim, muông, thú rừng (Điều 5); Cấm phá rừng, đốt
rừng để làm nương dẫy (Điều 6); Cấm đốt lửa ở trong rừng và ven rừng để
dọn đường, hạ cây, lấy củi, săn bắt thú rừng; cấm đốt đồi, bãi thuộc đất rừng
để nuôi cỏ non (Điều 7); Cấm ngặt việc thả rông gia súc ở những khu rừng
non, rừng mới trồng hoặc mới dặm cây non (Điều 8) v v…[26, tr.111].
Về đường lối xử lý đối với những hành vi vi phạm một trong những
điều quy định tại chương II của Pháp lệnh hoặc hành vi tàng trữ, mua bán, vận
chuyển trái phép lâm sản. Quy định hai trường hợp:
Thứ nhất: Nếu vi phạm mà không gây thiệt hại lớn đến tài nguyên rừng
thì bị cảnh cáo hoặc bị phạt tiền từ 01 đồng đến 200 đồng. Cơ quan kiểm lâm
nhân dân huyện có quyền cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 100 đồng. Trong
trường hợp số tiền phạt quá 100 đồng thì cơ quan kiểm lâm nhân dân tỉnh xét
và xử lý (Điều 21 Pháp lệnh).

Hợp tác xã nông nghiệp, định canh, định cư và đưa nông dân vào con đường
làm ăn tập thể, cần phải đẩy mạnh công tác giáo dục chính sách, pháp luật
trong đồng bào các dân tộc.

19
Việc xử lý về hình sự đối với loại tội phạm về bảo vệ rừng theo Điều 22
Pháp lệnh ngày 06/9/1972 hoặc các Điều 6, 14, 18 Pháp lệnh trừng trị các tội
xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa chỉ nên hạn chế trong một số trường hợp
như: Đã bị xử lý về mặt hành chính mà còn vi phạm hoặc đã gây thiệt hại
lớn… Khi xử lý, để đánh giá sự thiệt hại, nhất thiết cần có sự liên hệ chặt chẽ
với các ngành hữu quan, nhất là đối với chính quyền và cơ quan lâm nghiệp
địa phương”[26, tr.93].
Bên cạnh những văn bản kể trên, cùng thời gian này Chính phủ và các
Bộ, Ngành đã ban hành hàng loạt các văn bản có liên quan về quản lý và bảo
vệ rừng như: Quyết định số 41- TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc quy
định các khu rừng cấm; Nghị định số 221/CP của Thủ tướng Chính phủ về
phòng cháy và chữa cháy rừng; Thông tư số 24-TT/75 ngày 20/9/1975 của
Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời về việc bảo vệ và khắc phục hồi
rừng v v…
Như vậy, trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985, các văn bản
pháp luật được coi là cơ sở pháp lý để xét xử tội phạm về bảo vệ rừng mặc dù
chưa đầy đủ, nhưng ở mức độ nhất định các văn bản này đã có những quy
định khá cụ thể và chặt chẽ trong việc bảo vệ rừng. Tuy nhiên, do những hạn
chế khách quan của điều kiện kinh tế, xã hội nên trong lĩnh vực lập pháp, các
quy định về bảo vệ rừng nói chung và pháp luật hình sự trong việc bảo vệ
rừng nói riêng chưa được nhận thức đầy đủ. Việc xử lý tội phạm về bảo vệ
rừng vẫn được thực hiện theo Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã
hội chủ nghĩa ngày 21/10/1970; Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng
ngày 30/10/1967; Pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng ngày 06/9/1972 của
Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Mặc dù vậy, những quy định nằm trong các văn

và những thiệt hại khác làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cân bằng sinh thái.

21
Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ ai, đạt độ tuổi theo luật định và có năng
lực trách nhiệm hình sự. Mặt chủ quan của tội phạm có thể được thực hiện với
lỗi vô ý hoặc cố ý. Hình phạt được quy định với nhiều mức khác nhau, có thể
là cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến mười năm. Ngoài ra, đối với loại
tội này có thể áp dụng hình phạt bổ sung. Tại khoản 1 Điều 185 quy định:
Người nào phạm một trong các tội quy định ở các Điều 164, 177, 178 và từ
180 đến 184 thì có thể bị phạt tiền đến một triệu đồng.
Trong một thời gian dài, các quy định của Bộ luật hình sự năm 1985 về
tội Vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng hầu như không có sự sửa
đổi, bổ sung. Điều này được minh chứng qua 04 lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật
hình sự năm 1985 vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997. Chỉ duy nhất vào
lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1989 tội vi phạm các quy định về
quản lý và bảo vệ rừng có sự sửa đổi về hình phạt bổ sung. Theo đó người
phạm tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng có thể bị phạt tiền
đến 50.000.000đ (nâng mức phạt tiền lên tối đa là 50.000.000đ).
Nhìn chung, quy định trong Bộ luật hình sự năm 1985 về tội Vi phạm
các quy định về quản lý và bảo vệ rừng đã góp phần đáng kể trong việc răn đe
và trừng trị tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng, góp phần
nâng cao nhận thức về bảo vệ rừng cũng như đấu tranh phòng, chống tội
phạm vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng. Tuy nhiên, Điều 181
Bộ luật hình sự năm 1985 do những hạn chế về mặt lập pháp và do sự phát
triển nhanh chóng của điều kiện kinh tế, xã hội cũng như những đòi hỏi, yêu
cầu mới của việc bảo vệ rừng nên đã bộc lộ một số nhược điểm nhất định.
Thứ nhất, tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng được quy
định trong chương các tội phạm về kinh tế. Hành vi vi phạm các quy định về
quản lý và bảo vệ rừng chủ yếu xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà
nước, do đó phải cân nhắc cả yếu tố hiệu quả về kinh tế lẫn yếu tố xã hội khi

về quản lý và bảo vệ rừng đã không phù hợp. Do đó, đòi hỏi Bộ luật hình sự
năm 1985 cần được sửa đổi, bổ sung một cách căn bản, toàn diện.
1.2. Các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về tội vi phạm các
quy định về khai thác và bảo vệ rừng
1.2.1. Khái niệm tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ
rừng
Tội phạm vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng được quy
định tại Điều 175 của Bộ luật hình sự năm 1999. Điều luật quy định như sau:
Điều 175. Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
1. Người nào có một trong các hành vi sau đây gây hậu quả nghiêm
trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội
này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng
đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù tù
ba tháng đến ba năm:
a) Khai thác trái phép cây rừng hoặc có hành vi khác vi phạm các quy
định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng, nếu không thuộc trường hợp
quy định tại Điều 189 của Bộ luật này;
b) Vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép, nếu không thuộc trường hợp quy
định tại Điều 153 và Điều 154 của Bộ luật này.
2. Phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm
trọng, thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến hai
mươi triệu đồng [2, tr.125].
Điều luật trên quy định bốn loại hành vi khách quan của tội vi phạm các
quy định về khai thác và bảo vệ rừng đó là hành vi khai thác trái phép cây
rừng, hành vi vận chuyển gỗ trái phép, hành vi buôn bán gỗ trái phép và hành
vi khác vi phạm quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng. Tuy

24
nhiên, hành vi khai thác trái phép cây rừng hoặc hành vi khác vi phạm các

hình sự năm 1999 có thể rút ra khái niệm vệ tội vi phạm các quy định về khai
thác và bảo vệ rừng như sau:
Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng là hành vi nguy
hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách
nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi, xâm phạm những quy định của Nhà
nước về khai thác và bảo vệ rừng nói riêng cũng như xâm phạm các quy định
của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý kinh tế nói chung.
1.2.2. Các dấu hiệu cơ bản của tội vi phạm các quy định về khai thác
và bảo vệ rừng
Trong BLHS năm 1985, hành vi vi phạm các quy định về khai thác và
bảo vệ rừng không được quy định thành một tội danh độc lập mà được quy
định chung với tội vi phạm các quy định về quản lý rừng tại Điều 181 BLHS
năm 1985: Tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng. BLHS năm
1999 đã tách các hành vi vi phạm quy định về khai thác và bảo vệ rừng thành
một tội danh độc lập. Điều 175: Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo
vệ rừng. Việc tách tội danh này là cần thiết nhằm thực hiện triệt để hơn
nguyên tắc cá thể hóa hành vi cũng như cá thể hóa hình phạt, đồng thời thể
hiện quan điểm xử lý của Nhà nước đối với từng loại tội phạm. Các dấu hiệu
cơ bản của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng được thể
hiện ở bốn yếu tố: Khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan
* Khách thể của tội phạm
Tội phạm là hiện tượng xã hội vừa mang tính giai cấp, vừa mang tính
lịch sử [17, tr.27]. Về mặt cấu trúc, tội phạm được hợp thành bởi bốn yếu tố
(khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan). Bốn yếu tố này tồn tại
không tách rời nhau với tư cách là một bộ phận cấu thành trong một thể thống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status