BÀI THẢO LUẬN DÂN SỰ LẦN BA VỀ
HỢP ĐỒNG DÂN SỰ
(TIẾP THEO)
PHẦN LÍ THUYẾT:
Câu 1: So sánh đơn phương chấm dứt hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng dân sự.
Trả lời:
Giống nhau:
• Đều là một bên đơn phương tuyên bố chấm dứt/huỷ bỏ hợp đồng khi có
những điều kiện do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định.
• Bên đơn phương chấm dứt hay huỷ bỏ không phải bồi thường nếu bên kia vi
phạm nghĩa vụ mà đó là đều kiện chấm dứt/huỷ bỏ do các bên thoả thuận
hoặc do pháp luật quy định. Bên chấm dứt/huỷ bỏ phải có nghĩa vụ báo cho
bên kia, nếu không báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
• Ai có lỗi dẫn đến hợp đồng bị chấm dứt/huỷ bỏ thì người đó phải có trách
nhiệm bồi thường.
Khác nhau:
Đơn phương chấm dứt hợp đồng
Huỷ bỏ hợp đồng
• Việc đơn phương chấm dứt hợp đồng • Trong hoạt động thương mại dự liệu
phải dựa vào căn cứ do các bên thoả
trường hợp cho phép một bên được
thuận hoặc pháp luật có quy định,
đình chỉ hợp đồng nếu bên kia “vi
nếu các bên không có thoả thuận
phạm cơ bản” nghĩa vụ hợp đồng.
hoặc pháp luật không có quy định thì
các bên không được đơn phương
tuyên bố chấm dứt hợp đồng.
• Hợp đồng có giá trị từ thời điểm
• Hợp đồng không có giá trị thi hành,
hai bên hoặc không có quy định riêng cụ thi hành khi việc đình chỉ xảy ra, đây là
thể cho các trường hợp xảy ra thể hiện thỏa thuận tình nguyện giữa các bên khi
trên hợp đồng của hai bên.
ký kết hợp đồng.
PHẦN TÌNH HUỐNG
Tình huống thứ nhất
Theo một vụ việc: Tháng 12/2007, anh A à chị B có tổ chức lễ đính hôn.
Trong lễ đính hôn, cha mẹ anh A là ông M và bà N đứa cho anh A trao cho chị
B một số sính lễ bằng trang sức bao gồm: 01 đôi bong tai, 01 sợi dây chuyền,
01 lắc đeo tay và 02 chiếc nhẫn (tất cả đều bằng vàng SJC).
Chị B đã nhận tất cả lễ vật và cả hai đã thỏa thuận được ngày sẽ tổ chức lễ
cưới. tuy nhiên, sau lễ đính hôn giưa anh A và chị B đã xảy ra mâu thuẫn
không thể hàn gắn được, nên chị B và gia đình đã mời ông M và bà N, anh A
đến để tuyên bố hủy bỏ hôn ước. Phía ông M và bà N cho rằng, số vàng mà
ông bà đã đưa cho anh A trao cho chị B là của ông bà, chứ không phải của
anh A, nay xảy ra mâu thuẫn, không phải do lỗi của ông bà, nên yêu cầu chị B
phải trả lại toàn bộ sính lễ đã nhận.
Phía chị B cho rằng: anh A do anh A đã nhiều lần chửi bới xúc phạm đến
danh dự, nhân phẩm của chị nên chị đã chủ động hủy hôn ước. Số vàng mà
ông M và bà N đã trao cho chị trước sự chứng kiến của hai bên họ hàng gia
đình đã là tài sản riêng của chị, nên chị không đồng ý trả lại số vàng. Hai bên
xảy ra tranh chấp nên ông M đã quyết định khởi kiện ra Tòa án. Theo đó:
Tòa án nhân dân huyện G đã tuyên, buộc chị B phải trả lại số vàng đã
nhận vì cho rằng: “Việc nhà trai trao vàng là để hỏi cưới cô dâu, bên gái nhận
vàng là thể hiện sự đồng ý. Đây là việc tặng cho có điều kiện. Vàng là của ông
M và bà N, ông bà không có lỗi với chị B. Anh A không phù hợp với chị B thì
chị B có thể hủy hôn ước, nhưng vàng thì phải trả lại cho ông M và bà N”.
Tình huống thứ hai
A chuyên sản xuất và cung cấp các nước uống bao gồm nước khoáng đóng
chai và nước tinh khiết. X vốn là “khách hàng thân thiết” của A. Theo một
hợp đồng đã được giao kết từ ngày 02.01.2011 đến ngày 02.01.2012 mỗi tháng
A sẽ cung cấp 500 thùng nước khoáng cho X (giá 30.000 đồng/thùng). Ngày
03.01.2012, A đã điện thoại cho X đề nghị tiếp tục giao kết hợp đồng bán nước
uống cho X. X đã đồng ý và hai bên không có thỏa thuận gì thêm.
Ngày 04.01.2012, A chở 500 thùng nước khoáng đến giao cho X, X từ chối
không nhận hàng với lí do lần này X cần mua nước tinh khiết chứ không phải
nước khoáng. A không đồng ý và yêu cầu X phải nhận hàng và trả tiền hàng
theo đúng thỏa thuận. Hai bên xảy ra tranh chấp. Anh (chị) hãy cho biết
tranh chấp này sẽ được giải quyết như thế nào? Giải thích và nêu cơ sở pháp
lý.
Trả lời:
Trước hết cần xác định hợp đồng mà A và X giao kết ngày 03.01.2012 là một hợp
đồng mới, độc lập với hợp đồng được giao kết trước đó. Vì theo khoản 1 điều 424
BLDS 2005 về chấm dứt hợp đồng dân sự thì hợp đồng này đã được hoàn thành.
Nhưng do khi A tiếp tục đề nghị giao kết hợp đồng với X thì hai bên không có thỏa
thuận gì thêm về hợp đồng mới này. Điều này rất quan trọng bởi vì khi hai bên tuy
tiếp tục giao kết hợp đồng nhưng lại không có thỏa thuận gì sẽ khiến hai bên ngầm
hiểu là nội dung của hợp đồng mới giống với hợp đồng đã được giao kết ngày
02.01.2012 nghĩa là bên A mỗi tháng sẽ cung cấp 500 thùng nước khoáng cho X
với giá 30.000 đồng/thùng. Do đó khi có tranh chấp về chủng loại hàng giao không
đúng thì đây được xét về lỗi của X vì X nếu muốn thay đổi nội dung hợp đồng thì
phải thông báo cho A nếu A đồng ý thì mới giao kết hợp đồng nhưng X lại không
thông báo cho A khiến cho A hiểu nhầm rằng mình vẫn phải cung cấp cho X nước
khoáng chứ không phải nước tinh khiết. Vì vậy áp dụng điều 417 BLDS 2005 về
nghĩa vụ không thể thực hiện do lỗi của bên có quyền: “Trong hợp đồng song vụ,
Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán
thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền
yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên
thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường
hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Chứ bên bán không thể
ngừng cung cấp hàng để bên mua chịu thiệt hại, theo khoản 1 Ðiều 414. Thực hiện
hợp đồng song vụ quy định: “Trong hợp đồng song vụ, khi các bên đã thoả thuận
thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì mỗi bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến
hạn; không được hoãn thực hiện với lý do bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ đối với
mình, trừ trường hợp quy định tại điều 415và điều 417 của Bộ luật này”. Trong
trường hợp này, ông M không thể thực hiện được nghĩa vụ của mình là do lỗi của
ông N ( đã không thanh toán trong đợt giao hàng đợt 2), theo Điều Ðiều 417.
Nghĩa vụ không thể thực hiện được do lỗi của bên có quyền.
Trong hợp đồng song vụ, khi một bên không thực hiện được nghĩa vụ của mình do
lỗi của bên kia thì có quyền yêu cầu bên kia vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với
mình hoặc huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại. có 2 cách giải quyết,
thứ nhất là yêu cầu ông N tiếp tục thanh toán số tiền như đã thỏa thuận trong đợt
giao hàng thứ 2 và tiếp tục hợp đồng như đã thỏa thuận. Thứ hai, có quyền hủy bỏ
hợp đồng và yêu cầu bồi thường hợp đồng, những thiệt hại mà bên ông N đã gây ra
( cụ thể là chi phí bảo quản), khi hủy hợp đồng phải báo trước cho bên N biết, theo
quy định tại khoản 2 Điều 426 “ Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng
phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông
báo mà gây ra thiệt hại thì phải bồi thường”. Như vậy trong trường hợp này xuất
phát từ việc bên N có lỗi trước nhưng cách hành xử khi chấm dứt thực hiện hợp
đồng của ông M lại không đúng quy định của BLDS năm 2005, gây thiệt hại cho
ông N nên ông M phải bồi thường.
Tình huống thứ tư:
Theo một vụ việc: Ông Minh ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông Cường
quyền sử dụng một mảnh đất. Hợp đồng được giao kết hợp pháp. Theo thỏa
thuận trong hợp đồng, ông Minh đã giao đất cho ông Cường nhưng ông
bỏ hợp đồng chuyển nhượng nêu trên. Vì:
- Trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Minh cho ông
Cường (vì hợp đồng được giao kết hợp pháp) có nêu rõ thời hạn thanh toán,
do đó khi ông Cường không thực hiện việc thanh toán tiền cho ông Minh
theo đúng thời hạn trong hợp đồng tức là ông Cường đã vi phạm điều khoản
được nêu trong hợp đồng.
Như vậy, căn cứ vào Khoản 1 Điều 425 và Điều 701 BLDS 2005 thì ông Minh
hoàn toàn có quyền yêu cầu hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
cho ông Cường.
c) Theo thực tiễn xét xử, ông Minh có quyền hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng
nêu trên hay không? Nêu ngắn gọn hướng xử lí của Tòa án theo thực tiễn (nếu
có) liên quan đến trường hợp này.
Theo thực tiễn xét xử, ông Minh có quyền hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng đó.
Hướng xét xử trên thực tiễn của Tòa án được thể hiện ở 2 bản án sau:
Tóm tắt bản án số 59 (Quyết định số 218/GĐT-DS ngày 01/12/2003 của Tòa
dân sự TANDTC):
Vào ngày 07/07/2000, vợ chồng ông Khoát ký hợp đồng bán một phần căn nhà
số411/3 đường Dân Trí cho vợ chồng chị Hằng (là con gái của vợ chồng ông
Khoát) với giá35 lượng vàng SJC. Tuy hợp đồng mua bán hai bên ký kết đã đưa
đến Phòng Công chứngxác nhận và vợ chồng chị Hằng đã nộp lệ phí trước bạ
nhưng vợ chồng chị Hằng chưa thựchiện nghĩa vụ giao tiền.Do là quan hệ giữa cha
mẹ với con nên trong hợp đồng không quy định thời hạn vợ chồng chị Hằng phải
giao tiền mua nhà cho vợ chồng ông Khoát. Theo khoản 1 Điều 449BLDS, nghĩa
vụ bên mua nhà ở phải trả đủ tiền nhà đúng thời hạn, theo phương thức đãthỏa
thuận nếu hợp đồng không quy định thời hạn và địa điểm trả tiền thì bên mua phải
trảvào thời điểm bên bán giao nhà và tại nơi có nhà đem bán. Theo Tòa giám đốc
thẩm, vợ chồng chị Hằng đã không chứng minh được rằng kể từ sau khi dọn về ở
tại phần nhà muathì vợ chồng chị Hằng đã giao tiền nhưng vợ chồng ông Khoát
hủy bỏ hợp đồng nếu điều đó đã được thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
Trong thực tế rất nhiều hợp đồng không có điều khoản cho phép một bên hủy bỏ
khi bên kia có vi phạm.
Khi hợp đồng không được thực hiện, Điều 419 và 420 Bộ luật dân sự, phần chung
về hợp đồng, cho phép một bên hủy bỏ hợp đồng, song với điều kiện là việc đó
“pháp luật có quy định”. Trong phần chung về hợp đồng, chúng ta không thấy một
điều khoản nào quy định việc hủy bỏ hợp đồng khi không được thực hiện. Chỉ
trong các điều khoản cụ thể về một số hợp đồng thông dụng (tức là phần chuyên
biệt về một số hợp đồng cụ thể) chúng ta mới thấy các quy định này. Ví dụ, theo
Điều 553, khoản 3 về hợp đồng gia công, “trong trường hợp sản phẩm không đảm
bảo chất lượng mà bên đặt gia công đồng ý nhận sản phẩm, nhưng yêu cầu sửa
chữa mà bên nhận gia công không thể sửa chữa được trong thời hạn đã thỏa thuận,
thì bên đặt gia công có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.
Tương tự, theo Điều 722 về hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, “khi bên thuê chậm
trả tiền thuê quyền sử dụng đất theo thỏa thuận, thì bên cho thuê có thể gia hạn;
nếu hết thời hạn đó mà bên thuê không thực hiện nghĩa vụ, thì bên cho thuê có
quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, yêu cầu
bên thuê hoàn trả đất”.
Cách điều chỉnh trên của Bộ luật dân sự về vấn đề hủy bỏ hợp đồng do không được
thực hiện biểu lộ một số bất cập.
Thứ nhất, trong phần chuyên biệt về một số hợp đồng thông dụng, Bộ luật dân sự
có quy định những trường hợp được phép hủy bỏ hợp đồng do không được thực
hiện. Song, những quy phạm này không đầy đủ, một số vi phạm có thể dẫn đến
hủy hợp đồng không được quy định. Và, ở đây, chúng ta không thể cho phép hủy
bỏ hợp đồng vì, đối với những vi phạm hợp đồng này, việc hủy bỏ không có quy
định của pháp luật.
Thứ hai, Bộ luật chỉ có những quy định cho phép hủy bỏ đối với những hợp đồng
dân sự thông dụng. Vậy, đối với hợp đồng dân sự không thông dụng, chúng ta cũng
không có quy phạm cụ thể cho phép hủy bỏ hợp đồng khi bị vi phạm, và do đó
chúng ta không thể hủy những hợp đồng này vì, theo Điều 419 và 420 Bộ luật dân
trường hợp được hủy bỏ hợp đồng khi không được thực hiện. Cách điều chỉnh này
sẽ cho phép hủy bỏ hợp đồng khi các quy phạm điều chỉnh hợp đồng thông dụng
không đầy đủ hoặc khi hợp đồng bị vi phạm không phải là hợp đồng thông dụng
mà phần riêng có đề cập.
Chúng ta cũng nên theo cách điều chỉnh của một số quốc gia tiến bộ trên thế giới.
Cụ thể là, bên cạnh việc phần riêng về một số hợp đồng thông dụng quy định
những trường hợp một bên có quyền hủy hợp đồng, phần chung về hợp đồng của
Bộ luật dân sự nên ghi nhận một cách bao quát các trường hợp mà hợp đồng
không được thực hiện có thể bị hủy bỏ.
Như chúng ta đã biết, các bên xác lập hợp đồng là để đạt được lợi ích hợp pháp mà
họ mong muốn. Nói một cách khác, hợp đồng được thiết lập không để bị hủy bỏ
thực hiện mà là để mang lại cho các bên lợi ích hợp pháp mong đợi khi giao kết.
Vậy, chúng ta cần hạn chế tối đa việc cho phép hủy bỏ hợp đồng. Song, chúng ta
cũng không nên để cho một bên bị rằng buộc bởi một hợp đồng mà họ không đạt
được lợi ích hợp pháp mong đợi do sự vi phạm của bên kia. Vậy, tùy vào mức độ vi
phạm mà chúng ta cho phép hay không hủy bỏ hợp đồng. Chúng ta chỉ nên cho
phép hủy hợp đồng khi vi phạm là nghiêm trọng. Đối với vi phạm hợp đồng không
nghiêm trọng, chúng ta không nên cho phép hủy bỏ hợp đồng; và ở đây, việc cho
phép bên bị vi phạm đòi bồi thường thiệt hại là đủ.
Đối với Bộ luật dân sự, chúng ta có thể quy định thêm trong Điều 419 và 420 như
sau: Một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi
bên kia vi phạm nghiêm trọng hợp đồng.
Đồng thời chúng ta thấy một số quy phạm quy định trong bộ luật dân sự được biểu
hiện hạn chế vì chúng cho phép hủy, đình chỉ hợp đồng một cách quá máy móc.
Xin trích hai ví dụ:
Theo Điều 428 về hợp đồng mua bán tài sản, “trong trường hợp bên bán giao ít
hơn số lượng đã thỏa thuận, thì bên mua có một trong các quyền sau đây: Hủy bỏ
hợp đồng”. Việc cho phép hủy hợp đồng mỗi khi bên bán giao ít hơn số lượng đã
Theo Điều 72, khoản 1 Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế, “trước khi đến ngày thực hiện hợp đồng, một bên có
quyền tuyên bố hợp đồng bị hủy bỏ nếu thấy rõ là bên kia sẽ vi phạm nghiêm trọng
hợp đồng”12. Theo Điều 7.3.3 Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế, “một bên
có quyền hủy hợp đồng nếu, trước khi đến thời hạn thực hiện, thấy rõ là bên kia sẽ
vi phạm nghiêm trọng hợp đồng”. Tương tự, theo Điều 9:304 Nguyên tắc châu Âu
về hợp đồng, “nếu, ngay trước ngày mà hợp đồng phải thực hiện, thấy rõ là một
bên sẽ vi phạm nghiêm trọng hợp đồng, bên kia có quyền hủy hợp đồng”.
Trình bày trên cho thấy, về vấn đề hủy hợp đồng trước thời hạn phải thực hiện, Bộ
luật dân sự nước ta biểu hiện một số lạc hậu. Một câu hỏi đặt ra là chúng ta có nên
bổ sung vấn đề này vào Bộ luật dân sự hay không? Thiết nghĩ là có vì các lý do
sau:
Thật là không có tình và bất công khi không cho phép một bên hủy hợp đồng trong
khi đó biết chắc là bên kia sẽ không thực hiện hợp đồng. Mặt khác, cho phép một
bên hủy hợp đồng trong trường bên kia sẽ vi phạm nghiêm trọng hợp đồng có lợi
về kinh tế. Ví dụ, khi biết chắc là bên mua sẽ không nhận hàng và không trả tiền,
cho phép người bán hủy hợp đồng sẽ giúp họ sớm tìm được nguồn tiêu thụ mới
hoặc quyết định không tiếp tục sản xuất nữa để tránh bị tồn đọng thừa hàng. Hoặc,
nếu cho phép bên mua hủy hợp đồng khi biết chắc là bên bán sẽ không thực hiện
hợp đồng, chúng ta sẽ giúp người mua sớm đi tìm người bán khác để có được số
lượng hàng cần mua nhằm đáp ứng được nhu cầu của mình.
Vậy, nhân dịp sửa đổi, bổ sung Bộ luật dân sự, thiết nghĩ chúng ta cũng nên bổ
sung thêm quy định cho phép một bên hủy hợp đồng ngay cả khi chưa hết thời hạn
thực hiện nếu biết chắc rằng bên kia sẽ không thực hiện hợp đồng. Ví dụ chúng ta
có thể quy định thêm như sau: Trước khi đến ngày mà hợp đồng phải thực hiện,
một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng khi biết chắc rằng bên kia sẽ vi phạm nghiêm
trọng hợp đồng.
Nói tóm lại, về vấn đề hủy bỏ hợp đồng do bị vi phạm, Bộ luật dân sự nước ta thể