BÀI TẬP THÁNG THỨ HAI
PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI
HỢP ĐỒNG
LỚP CLC38B – NHÓM 3
1. Nguyễn Thanh Thư MSSV: 1351101030108
2. Phan Thị Hạnh Quyên MSSV: 1353801011199
3. Võ Thị Minh Thư MSSV: 1353801011233
4. Nguyễn Thị Hồng Thảo MSSV: 1353801013189
5. Hồ Mỹ Kỳ Tân MSSV: 1353801015244
6. Nguyễn Nhật Thảo MSSV: 1353801015251
7. Hồ Thị Tường Vy MSSV: 1353801015341
Năm học: 2014 – 2015
Những chữ viết tắt:
Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt
Bộ luật dân sự BLDS
Nghi quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 7
năm 2006 của Hôi đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ
luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng
Nghị quyết số 03
Tòa án nhân dân TAND
Vấn đề 1: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO SÚC VẬT GÂY RA
1. Quy định nào của BLDS sử dụng thuật ngữ “súc vật”?
Theo BLDS 2005, thuật ngữ “súc vật” được sử dụng trong quy định tại Điều
623:
“Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra
1. Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người
khác; nếu người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi trong việc làm súc vật gây thiệt hại
dân tỉnh Vĩnh Long đã xác định thiệt hại do súc vật gây ra. Điều đó có Toà án
đã chấp nhận bò là một loại súc vật
2
.
- Trong một vụ án được xét xử bởi Toà án tỉnh Kiên Giang thì: "Vào chiều ngày
5/2/2007 nhằm ngày 18/12/2006 âm lịch, ông Thum dẫn trâu trên đường về, thì
xảy ra việc trâu của ông Thum chém trâu của ông Năm bị thương"
3
và Toà án đã
vận dụng Điều 625 BLDS 2005 để giải quyết. Như vậy, Toà án cũng thừa nhận
trâu cũng được xem là một loại súc vật. “Về vấn đề khái niệm "súc vật", trong
thực tiễn xét xử cũng được linh hoạt, áp dụng một cách khá logic. Từ đó,
ngỗng, ngan, vịt, chim bồ câu, gà cũng được xem là súc vật”
4
.
4. Đoạn nào của bản án cho thấy thiệt hại về sức khỏe là do chó gây ra?
Đoạn của Bản án cho thấy thiệt hại về sức khỏe là do chó gây ra là:
“Bà Trần Thị Thanh Nga khai thì vào khoảng 16 giờ ngày 25/11/2008, đang
trên đường đi từ nhà bố mẹ đẻ của bà Nga về nhà, khi đi qua trước nhà ông Võ
Trung Trực và bà Trần Thị Gái thì bị chó của nhà ông Trực và bà gái thì cắn vào
bắp đùi phải chảy máu khiến cho bà Nga phải đi tiêm phòng ngừa tại trung tâm
y tế dự phòng thị xã An Khê… Ông Trực và bà Gái thừa nhận chó nhà ông bà
vẫn có thể đi hàng trào và có thể xâm hại đến sức khỏe của người khác”.
5. Đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án đã vận dụng các quy định về bồi
thường thiệt hại do súc vật gây ra?
Đoạn của Bản án cho thấy Tòa án đã vận dụng các quy định về bồi thường
thiệt hại do súc vật gây ra là:
“Việc bà Nga khởi kiện ông Trực và bà Gái yeu cầu ông bà phải bồi thường
thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại là có căn cứ, đúng quy định tại các Điều 609;
625 của Bộ luật dân sự”.
trực tiếp “ba mặt một lời” với ông Trực bà Gái, mà để một thời gian sau mới lên
thôn khiếu nại, khiến cho vụ việc càng trở nên khó xác định được chủ sở hữu
chó gây thiệt hại cho bà Nga có chính xác là của ông Trực hay không.
Theo ý kiến của 1 học giả: “Ngày nay với sự phát triển của khoa học, thiết
nghĩ việc xác định nguyên nhân này có thể được cải thiện bằng cách xét nghiệm
vết thương và xét nghiệm súc vật nghi ngờ là nguyên nhân của thiệt hại. Tuy
nhiên, việc xét nghiệm cần được tiến hành sớm bởi súc vật rất dễ bị tiêu hủy
nên không còn cơ sở để xét nghiệm.”
5
, có lẽ đây cũng là 1 hướng giải quyết
mang tính chất triệt để nhất, thuyết phục nhất khi áp dụng các tiến bộ y học để
hỗ trợ xét xử. Tuy nhiên thực tế ở Việt Nam vì nhiều lý do dường như phương
pháp này rất khó thực hiện.
8. Trong trường hợp trên, bà Nga có lỗi không?
5Đỗ Văn Đại, Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam-Bản án và bình luận án, CTQG 2010, Bản án số
47 – 49, tr. 520.
Trong trường hợp trên, việc bà Nga có lỗi hay không khá khó có thể xác
định vì thực tế không ai tận mặt nhìn thấy vụ việc này không loại trừ được khả
năng cũng có lỗi của bà trong việc bị chó nhà ông Trực cắn (Ví dụ như hành vi:
đánh, trêu chọc chó, trộm chó,… dẫn đến việc chó cắn thì cũng có một phần
lỗi).
Tuy nhiên, xuất phát từ việc gây thiệt hại của gia súc do tác động bởi các
yếu tố khác nhau và đa dạng mà việc xác định lỗi là rất khó và có thể không bảo
vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại như trên. Do vậy, việc
suy đoán lỗi đối với chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật khi súc vật
gây thiệt hại là cần thiết, qua đó nâng cao trách nhiệm quản lý của chủ sở
hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật
6
. Về nguyên tắc, khi súc vật gây thiệt
hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản cho các chủ thể dân sự thì chủ sở hữu,
thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ
lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì
người gây thiệt hại không phải bồi thường.”, thì đây cũng là trường hợp hỗn
hợp lỗi, bà Nga và ông Trực phải cùng chia xẻ trách nhiệm về thiệt hại xảy ra
đối với bà Nga.
Vấn đề 2: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI
CỦA CƠ QUAN NHÀ NƯỚC GÂY RA
1. Trong trường hợp bản án trên có thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật trách
nhiệm bồi thường của nhà nước không?
Trường hợp bản án trên thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật trách nhiệm bồi
thường của nhà nước.
Căn cứ vào Điều 1 Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước thì phạm vi
điều chỉnh của Luật là trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với cá nhân, tổ
chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành
chính, tố tụng, thi hành án; thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại; quyền, nghĩa
vụ của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại; kinh phí bồi thường và trách nhiệm hoàn trả
của người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại.
Hơn nữa, khoản 2 Điều 13 của Luật cũng quy định các trường hợp phải chịu
trách nhiệm bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính bao gồm áp dụng
biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành
chính.
Trong trường hợp này, cá nhân là anh Huỳnh Tấn Nam bị thiệt hại về sức
khỏe (thương tích với tỷ lệ thương tật là 77%) do người thi hành công vụ (là
anh Nguyễn Trọng Hiếu) gây ra trong hoạt động quản lý hành chính (ngăn chặn
hành vi vi phạm hành chính của Nam – không đội mũ bảo hiểm khi tham gia
giao thông).
2. Việc tòa án áp dụng Điều 618 BLDS vào hoàn cảnh trên có thuyết phục
không? Vì sao?
Việc Tòa án áp dụng Điều 618 BLDS vào hoàn cảnh trên là không thuyết
phục.
4. Việc Tòa án buộc Công an xã Diên Phú bồi thường trong trường hợp trên
có thuyết phục không? Vì sao?
Việc Tòa án buộc Công an xã Diên Phú bồi thường trong trường hợp trên là
không thuyết phục.
Điều 619 BLDS quy định trách nhiệm cho “cơ quan, tổ chức quản lý” người
thi hành công vụ. Bên cạnh đó khoản 4 Điều 3 Luật trách nhiệm bồi thường của
Nhà nước quy định chi tiết hơn theo hướng “cơ quan có trách nhiệm bồi thường
là cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây
ra thiệt hại hoặc cơ quan khác theo quy định của Luật này”.
Thiết nghĩ, chúng ta cũng nên hiểu chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do người thi hành công vụ gây ra là “cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp
người thi hành công vụ”.
7
Trong trường hợp công an xã không có tư cách pháp nhân thì có lẽ sẽ thuyết
phục hơn khi chúng ta coi Ủy ban nhân dân là cơ quan (tổ chức) trực tiếp quản
lý công an viên nên chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
5. Thông qua vụ việc trên, anh/chị có kiến nghị gì để hoàn thiện pháp luật
không? Nêu rõ kiến nghị đó.
Điều 619 áp dụng cho thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra và quy định
chủ thể bồi thường “có trách nhiệm yêu cầu cán bộ, công chức phải hoàn trả
một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu cán bộ, công chức có lỗi trong
khi thi hành công vụ”.
Tuy nhiên, quy định này có nhược điểm là chỉ áp dụng đối với người thi
hành công vụ là “Cán bộ, công chức” trong khi đó người thi hành công vụ có
thể không là “cán bộ, công chức”. Do đó, để có cơ sở pháp lý giải quyết vấn đề
bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra, chúng ta nên mở rộng
phạm vi điều chỉnh của Điều 619 theo hướng đây là quy định áp dụng chung
cho tất cả các thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra.
Với hướng trên: “Bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra” hiện nay
nên chuyển thành “Bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra”. Lúc
qua xe đạp của anh Bình và đè gãy đùi trái của anh Bình. Trong trường hợp này,
xe ô tô chỉ là phương tiện mà người điều khiển sử dụng gây thiệt hại.
- Quyết định số 30: Thiệt hại do hành vi của con người gây ra, đó là hành vi điều
khiển xe môtô của Nguyễn Văn Giang. Xe môtô trong tình huống này là
phương tiện mà người điều khiển sử dụng gây thiệt hại.
4. Trong hai vụ việc trên, đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án đã vận dụng
các quy định của chế định bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ
gây ra?
- Trong Quyết định số 23:
“Tòa án cấp phúc thẩm buộc chủ phương tiện là ông Vũ Hồng Khánh bồi
thường cho anh Bình là đúng, nhưng lại áp dụng khoản 3 Điều 627 là không
chính xác, mà phải áp dụng khoản 2 Điều 627 BLDS mới đúng”.
- Trong Quyết định số 30:
“Về trách nhiệm dân sự của Nguyễn Văn Giang: Theo quy định tại Điều 623
BLDS năm 2005 (Điều 627 BLDS năm 1995) về bồi thường thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra và hướng dẫn tại điểm b khoản 2 mục III Nghị quyết
số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao
thì (…)”.
5. Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án vận dụng các quy định của chế định
bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Xét ở góc độ văn bản, việc Tòa án vận dụng các quy định của chế định bồi
thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là chưa thuyết phục.
Chế định “bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra” được áp
dụng khi thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Ở đây, việc gây thiệt hại
không phải do hành vi có lỗi của con người mà hoàn toàn do sự hoạt động của
bản thân nguồn nguy hiểm cao độ.
Trong hai Quyết định được bình luận, thực tế thì thiệt hại đều do hành vi của
con người gây ra với phương tiện là nguồn nguy hiểm cao độ (xe môtô, ô tô).
Tòa án lại áp dụng chế định “bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ
gây ra” với hoàn cảnh như trong hai Quyết định là không chính xác.
Bản án số 54 – 56, tr. 576.
- Có thiệt hại xảy ra, đó là bà Giỏi bị chấn thương sọ não và chết trên đường đi
cấp cứu.
- Có hành vi trái pháp luật, đó là hành vi điều khiển xe mô tô đâm vào người
đang đi bộ qua đường.
- Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật.
- Có lỗi của người gây thiệt hại.
9. Theo BLDS và Nghị quyết số 03, chi phí xây mộ và chụp ảnh có được bồi
thường không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Khoản 1 Điều 610 BLDS quy định thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm gồm
“chi phí hợp lý cho việc mai táng”.
Theo tiểu mục 2.2 mục 2 Phần 2 Nghị quyết số 03, “chi phí hợp lý cho việc
mai táng bao gồm: các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc
khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác
phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung. Không
chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc
mộ ”.
Như vậy theo BLDS và Nghị quyết số 03 thì chi phí xây mộ và chụp ảnh
không được bồi thường.
10.Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa phúc thẩm và của Tòa
giám đốc thẩm liên quan đến chi phí xây mộ và chụp ảnh.
Tòa phúc thẩm xác định tổng số tiền chi phí mai táng bao gồm cả tiền xây
mộ, chụp ảnh, trong khi Tòa giám đốc thẩm cho rằng việc xác định này của Tòa
giám đốc thẩm là không phù hợp.
Hướng giải quyết của Tòa giám đốc thẩm là hợp lý, vì căn cứ Khoản 1 Điều
610 và tiểu mục 2.2 mục 2 Phần 2 Nghị quyết số 03 thì chi phí xây mộ và chụp
ảnh không được bồi thường. Do đó Tòa phúc thẩm xác định khoản tiền được
bồi thường như vậy là không phù hợp với quy định của pháp luật.
11.Trong Quyết định số 23, đoạn nào cho thấy Bình là người bị thiệt hại?
Đoạn trong phần “Xét thấy” của Quyết định số 23 cho thấy Bình là người bị
Khánh và anh Bình trước khi áp dụng khoản 2 Điều 627 BLDS 1995 (tức khoản
2 Điều 623 BLDS 2005).
15.Bình có lỗi trong việc để thiệt hại phát sinh không? Đoạn nào của bản án
cho câu trả lời?
Bình có lỗi trong việc để thiệt hại phát sinh, căn cứ vào đoạn “Tòa án cấp sơ
thẩm và phúc thẩm xác định trong trường hợp này cả anh Bình, ông Dũng và
anh Khoa cùng có lỗi gây ra vụ tai nạn trên và gây thiệt hại cho anh Bình (trong
đó anh Bình có lỗi chính) là có cơ sở đúng pháp luật”.
16.Đoạn nào cho thấy Tòa giám đốc thẩm không theo hướng buộc ông Dũng
và ông Khánh bồi thường toàn bộ thiệt hại cho anh Bình?
Đoạn trong phần “Xét thấy” của Quyết định số 23 cho thấy Tòa giám đốc
thẩm không theo hướng buộc ông Dũng và ông Khánh bồi thường toàn bộ thiệt
hại cho anh Bình là:
“Nhưng lại buộc ông Dũng và ông Khánh bồi thường toàn bộ, mà không
xem xét đến trách nhiệm của anh Bình là không chính xác”.
17.Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm.
Hướng giải quyết của Tòa giám đốc thẩm là thuyết phục khi xác định thiệt
hại của anh Bình do một phần lỗi của chính anh Bình và Tòa phải xem xét đến
trách nhiệm của anh Bình, không thể buộc ông Dũng và ông Khánh bồi thường
toàn bộ.
Liên quan đến vai trò lỗi của người bị thiệt hại, trong phần bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng, BLDS có hai quy định khác nhau:
- Trong phần những quy định chung, BLDS quy định hai hoàn cảnh tại Điều 617.
Thứ nhất, “nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người
gây thiệt hại không phải bồi thường”. Thứ hai, “khi người bị thiệt hại cũng có
lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt
hại tương ứng với mức độ lỗi của mình”
- Trong phần bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, BLDS có
quy định vai trò lỗi của người bị thiệt hại tại khoản 3 Điều 623: chủ sở hữu,
người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải
9
.
18.BLDS và Nghị quyết số 03 có quy định cho phép chủ sở hữu nguồn nguy
hiểm cao độ được yêu cầu người sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt
hại bồi hoàn khoản tiền mà chủ sở hữu bồi thường cho người bị thiệt hại
không?
Tại Điều 623 BLDS 2005 về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao
độ gây ra và Nghị quyết số 03 không có quy định cho phép chủ sở hữu nguồn
nguy hiểm cao độ được yêu cầu người sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ gây
thiệt hại bồi hoàn khoản tiền mà chủ sở hữu bồi thường cho người bị thiệt hại.
Tuy nhiên, ta vẫn có thể vận dụng một số chế định khác trong phần này như:
Bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra (Điều 622), bồi
thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra (Điều 618), bồi thường thiệt hại
do cán bộ, công chức gây ra (Điều 619),… để cho phép chủ sở hữu nguồn nguy
hiểm cao độ (nếu thuộc trường hợp mà điều luật quy định) yêu cầu người sử
dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc gây thiệt hại hoàn trả khoản tiền
mà chủ sở hữu bồi thường cho người bị thiệt hại.
19.Tòa giám đốc thẩm có theo hướng cho phép chủ sở hữu nguồn nguy hiểm
cao độ được yêu cầu người sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại
bồi hoàn khoản tiền mà chủ sở hữu bồi thường cho người bị thiệt hại
không? Đoạn nào của quyết định cho câu trả lời?
Tòa giám đốc thẩm có theo hướng cho phép chủ sở hữu nguồn nguy hiểm
cao độ được yêu cầu người sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại bồi
hoàn khoản tiền mà chủ sở hữu bồi thường cho người bị thiệt hại, căn cứ vào
đoạn: “Tòa án các cấp không dành cho ông Khánh quyền khởi kiện yêu cầu anh
Khoa bồi thường cho ông Khánh số tiền mà ông bồi thường cho anh Bình do lỗi
của anh Khoa, nếu ông Khánh và ông Khoa không tự thương lượng giải quyết
được là không đảm bảo quyền lợi cho ông Khánh”.
9Đỗ Văn Đại, Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, Nxb. CTQG 2010,
Bản án số 57 – 59, tr. 605.
10
.
Vấn đề 4: TÌM KIẾM TÀI LIỆU
1. Hải An, Về yêu cầu bồi thường thiệt hại về danh sự, nhân phẩm, tạp chí Dân
chủ và pháp luật, số 12/2011, tr. 45-47.
10Đỗ Văn Đại, Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, Nxb. CTQG
2010, Bản án số 54 – 56, tr. 588.
2. Nguyễn Hải An – Hà Hồng Sơn, Vũ Thị T. có được bồi thường theo Luật Trách
Nhiệm bồi thường của Nhà nước hay không?, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Bộ
Tư pháp số 11 năm 2012, trang 50 – 54.
3. TS. Nguyễn Hồng Bắc, ThS. Lê Thị Bích Thủy, Trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
– những bất cập và hướng hoàn thiện, Tạp chí Luật học, số 4/2014, tr. 3-11
4. Trần Việt Dũng, Truất hữu tài sản của nhà đầu tư nước ngoài và trách nhiệm
bồi thường của quốc gia trong Luật Đầu tư quốc tế hiện đại, Tạp chí Nhà nước
và Pháp luật số 8 năm 2014, trang 77 – 84.
5. Đỗ Văn Đại, Bồi thường thiệt hại do công chứng viên gây ra, Tạp chí Nghiên
cứu lập pháp số 14 năm 2011, trang 44 – 52.
6. Đỗ Văn Đại – Nguyễn Trương Tín, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người
khác gây ra, Tạp chí Khoa học pháp lý Đại học Luật TPHCM số 05 năm 2013,
trang 67 – 74.
7. Ths Mai Hải Đăng, Pháp luật quốc tế về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu,
Tạp chí Luật học Đại học Luật Hà nội số 06 năm 2013, trang 23 – 31.
8. Hoàng Đạo – Vũ Thị Lan Hương, Yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, Tạp chi Nghiên cứu lập pháp số 13 năm
2013, trang 34 – 40
9. Bùi Thị Thanh Hằng – Đỗ Giang Nam, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tác
động của tài sản gây ra dưới góc nhìn so sánh, Tạp chí Luật học Đại học Luật
Hà Nội số 3 năm 2013, trang 61 – 72.
10.Nguyễn Văn Hợi, Xác định thiệt hại khi tính mạng bị xâm phạm theo pháp luật