VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC MÔN
GDCD 9 ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH
I.
LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Lí do
Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình
giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học – từ chỗ quan
tâm tới việc học sinh học được gì đến chỗ quan tâm tới việc học sinh học được
cái gì qua việc học. Để thực hiện được điều đó, nhất định phải thực hiện thành
công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang
dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực
và phẩm chất, đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về
kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết
vấn đề, coi trọng kiểm tra đánh giá kết quả học tập với kiểm tra, đánh giá trong
quá trình học tập để có tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của hoạt
động dạy học và giáo dục. Trước bối cảnh đó cũng như để chuẩn bị cho quá
trình đổi mới chương trình sau năm 2015, việc dạy học và kiểm tra, đánh giá
theo theo định hướng phát triển năng lực của người học là cần thiết.
Dạy học môn GDCD bao gồm việc giáo dục đạo đức và Pháp luật trong
nhà trường là vô cùng quan trọng vì giáo dục đạo đức và Pháp luật trong nhà
trường nhằm mục đích trang bị cho HS những kiến thức đạo đức và Pháp luật cơ
bản từ đó góp phần điều chỉnh hành vi, cách xử sự của các em, góp phần hình
thành ở các em phong cách sống và làm việc theo chuẩn mực đạo đức và Pháp
luật, là một trong những biện pháp tích cực nhất trong hoạt động phòng ngừa,
ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật có thể xảy ra sau này.
Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý
tích cực hóa học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải
quyết vấn đề, gắn với tình huống của cuộc sống, gắn với hoạt động trí tuệ với
hoạt động thực tiễn. Vì vậy việc kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học theo
trýờng Trung học.
2
II.
TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận
1.1. Cõ sở lý luận:
1.1.1. Khái niệm năng lực:
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên(NXB Đà Nẵng. 1998) có giải
thích: Năng lực là:
“ Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một
hoạt động nào đó. Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn
thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”
Trong tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định
hướng phát triển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và Đào tạo phát hành
năm 2014 thì “Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có
tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,…
nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh
nhất định. Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố(phẩm chất của
người lao động, kiến thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động
của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó. Năng lực bao gồm các
yếu tố cơ bản mà mọi người lao động, mọi công dân đều cần phải có, đó là
các năng lực chung, cốt lõi”. Định hướng chương trình giáo dục phổ
thông(GDPT) sau năm 2015 đã xác định một số năng lực những năng lực cốt lõi
mà học sinh Việt Nam cần phải có như:
Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học định
hướng phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi
là “sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học. Việc quản lý chất lượng dạy học
chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là kết quả học
tập của học sinh.
Bảng so sánh một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướng nội
dung và chương trình định hướng phát triển năng lực sẽ cho chúng ta thấy ưu
điểm của chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực.
4
Chương trình định hướng nộiChương trình định hướng phát
dung
triển năng lực
Mục tiêu dạy học được mô tả Kết quả học tập cần đạt được mô tả
Mục
tiêukhông chi tiết và không nhấtchi tiết và có thể quan sát, đánh giá
giáo dục
thiết phải quan sát, đánh giá được; thể hiện được mức độ tiến bộ
được
của HS một cách liên tục
Việc lựa chọn nội dung dựa vào Lựa chọn những nội dung nhằm đạt
các khoa học chuyên môn,được kết quả đầu ra đã quy định, gắn
Nội dung
không gắn với các tình huốngvới các tình huống thực tiễn. Chương
giáo dục
thực tiễn. Nội dung được quytrình chỉ quy định những nội dung
định chi tiết trong chương trình. chính, không quy định chi tiết.
– GV chủ yếu là người tổ chức, hỗ trợ
HS tự lực và tích cực lĩnh hội tri thức.
trường, xã hội. Có rất nhiều năng lực mà môn GDCD hướng đến nhưng trong đề
tài chi trình bày một số năng lực tiêu biểu sau:
1.2.1. Năng lực giải quyết vấn đề:
5
Trên thực tế, có nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về năng lực
giải quyết vấn đề (GQVĐ). Tuy nhiên, các ý kiến và quan niệm đều thống nhất
cho rằng GQVĐ là một NL chung, thể hiện khả năng của mỗi người trong việc
nhận thức, khám phá được những tình huống có vấn đề trong học tập và cuộc
sống mà không có định hướng trước về kết quả, và tìm các giải pháp để giải
quyết những vấn đề đặt ra trong tình huống đó, qua đó thể hiện khả năng tư duy,
hợp tác trong việc lựa chọn và quyết định giải pháp tối ưu.
Với môn học GDCD, năng lực này cần được hướng đến khi triển khai các
nội dung dạy học của bộ môn, do tính ứng dụng thực tiễn và quy trình hình
thành năng lực có thể gắn với các tình huống học tập của môn học, khi nảy sinh
những tình huống có vấn đề có thề xảy ra trong cuộc sống . Với một số nội dung
dạy học trong môn GDCD như: xây dựng kế hoạch cho một hoạt động tập thể,
xử lý một tình huống trong bối cảnh cụ thể, , thể hiện quan điểm của cá nhân khi
đánh giá các hiện tượng xã hội,… quá trình học tập các nội dung trên là quá
trình giải quyết vấn đề theo quy trình đã xác định. Quá trình giải quyết vấn đề
trong môn GDCD có thể được vận dụng trong một tình huống dạy học cụ thể
hoặc trong một chủ đềdạy học.
1.2.2. Năng lực sáng tạo:
Năng lực sáng tạo được hiểu là sự thể hiện khả năng của học sinh trong
việc suy nghĩ và tìm tòi, phát hiện những ý tưởng mới nảy sinh trong học tập và
cuộc sống, từ đó đề xuất được các giải pháp mới một cách thiết thực, hiệu quả
để thực hiện ý tưởng. Trong việc đề xuất và thực hiện ý tưởng, học sinh bộc lộ
óc tò mò, niềm say mê tìm hiểu khám phá.
Việc hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cũng là một mục tiêu mà
quy tắc của hệ thống ngôn ngữ để chuyển tải, trao đổi thông tin về các phương
diện của đời sống xã hội, trong từng bối cảnh/ngữ cảnh cụ thể, nhằm đạt đến
một mục đích nhất định trong việc thiết lập mối quan hệ giữa những con người
với nhau trong xã hội. Năng lực giao tiếp bao gồm các thành tố: sự hiểu biết và
khả năng sử dụng ngôn ngữ, sự hiểu biết về các tri thức của đời sống xã hội, sự
7
vận dụng phù hợp những hiểu biết trên vào các tình huống phù hợp để đạt được
mục đích.
Trong môn GDCD, việc hình thành và phát triển năng lực giao tiếp là
bước đầu để học sinh biết đặt ra mục đích của giao tiếp và hiểu được vai trò
quan trọng của việc đặt mục tiêu trước khi giao tiếp. Học sinh biết khiêm tốn,
lăng nghe tích cực trong giao tiếp; nhận ra được bối cảnh giao tiếp, đặc điểm của
đối tượng giao tiếp. Từ đó diễn đạt ý tưởng một cách tự tin, thể hiện được biểu
cảm phù hợp với đối tượng và bối cảnh giao tiếp.
2. Cơ sở thực tiễn:
2.1. Thuận lợi:
- Được sự quan tâm nhiệt tình của lãnh đạo nhà trường, Tổ chuyên môn
và các đồng nghiệp.
- Nhà trường có trang bị tương đối đầy đủ máy móc phục vụ cho giảng
dạy như: máy vi tính xách tay, đèn chiếu, máy chiếu, tranh ảnh trực quan….
- Những trò chơi có thể tổ chức dưới nhiều hình thức.
- Học sinh rất thích học theo phương pháp mới, đặc biệt những tiết có đồ
dùng dạy học trực quan.
- Đề tài có thể áp dụng cho tất cả các giáo viên dạy môn GDCD ở bậc
THCS và tất cả các học sinh THCS.
2.2. Khó khăn:
3.2.1.
Quy trình thiết kế trò chõi trong dạy học môn GDCD 9, ðể phát triển
nãng lực cho học sinh:
Khi thiết kế trò chơi cho học sinh, quan trọng là nắm vững các yêu cầu
của trò chơi, mục đích trò chơi, mối liên quan giữa trò chơi với các kiến thức bài
học. Trên cơ sở đó, thiết kế trò chơi cho phù hợp. Quy trình thiết kế trò chơi
đểphát triển năng lực cho học sinh có thể tiến hành theosõ ðồ sau:
(1)
Xác định mục tiêu
nội dung bài học
3.2.2.
(2)
(3)
Phân tích nội dung
bài học, xác định nội
dung, kiến thức cần
phát triễn năng lực
Thiết kế trò chơi
phát triển năng
lực
Xác định rõ mục tiêu dạy học – giáo dục của mỗi trò chơi:
• Sử dụng trò chơi nhằm hình thành tri thức mới:
Trò chơi thường được tổ chức sau khi đã tìm hiểu hoạt động 1 (tìm hiểu đặt vấn
đề hoặc thông tin sự kiện), từ những kiến thức thực tế qua hoạt động 1, vận dụng
những kiến thức đó, giáo viên tổ chức trò chơi cho học sinh khám phá, phát hiện
ra tri thức mới, tri thức đó nằm ngay trong nội dung bài học.
• Sử dụng trò chơi nhằm củng cố tri thức, hình thành thái độ:
10
Mục đích của việc sử dụng trò chơi là để học sinh thâu tóm được nội dung bài
học, giúp khắc sâu, nhớ rõ hơn nội dung vừa học xong. Từ đó, vận dụng vào các
tình huống giả định, trò chơi giả định, để học sinh bày tỏ thái độ của mình trước
môi trường đó, giáo viên nên tổ chức vào cuối giờ học là hợp lý nhất.
3.2.4.
Một số trò chơi tích cực phát huy năng lực cho học sinh trong giảng
dạy môn GDCD:
a. Trò chơi tiếp sức
Áp dụng trò chơi này nhằm phát huy năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác
giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp. Khi GV đưa ra câu hỏi về sự vật, hiện
tượng…Học sinh sẽ hình thành ý tưởng từ những nguồn thông tin đã cho, đưa ra
được những giải pháp thay thế, được tự do suy nghĩ, trình bày ý kiến, không lo
lắng về yếu tố đúng, sai, phát hiện ra yếu tố mới.Vì trò chơi mang tính đồng đội
nên các em phải trao đổi, đoàn kết với nhau để cùng nhau tìm ra đáp án đúng.
Biết vai trò, nhiệm vụ của mình để từ đó trao đối, hợp tác với cả nhóm để hoàn
thành được nhiệm vụ cả đội chơi.
- Cách tiến hành trò chơi:
Trò chơi này áp dụng khi giáo viên yêu cầu học sinh tìm những biểu hiện
bên cạnh đó các em sẽ tự nhận thức, điều chỉnh hành vi của mình khi được đóng
vai vào các nhân vật nổi tiếng.
- Cách tiến hành trò chơi:
+ Chọn 1 học sinh dẫn chương trình.
+ Chọn các nhân vật chính để thực hiện trò chơi.
+ HS dưới lớp sẽ đóng vai khan giả và đặt các câu hỏi xoay quanh những
gì liên quan đến công việc của nhân vật chính.
+ Kết thúc giáo viên tuyên dương các nhân vật thực hiện trò chơi và rút ra
bài học kinh nghiệm.
Ví dụ: Khi dạy GDCD 9 bài 8 tiết 11 “Năng động sáng tạo” (tt), phần
củng cố toàn bài giáo viên tổ chức trò chơi “Trò chuyện cuối tuần”.
Cách tiến hành:
+ Chọn 3 nhân vật chính để thực hiện trò chơi:1/ Dẫn chương trình.2/ Nhà
Bác học Êđixơn.3/ Một nhà doanh nghiệp thành đạt.
+ Các học sinh còn lại vai khán giả có thể đặt những câu hỏi để hỏi những
vị khách mời bất cứ câu hỏi nào có nội dung xoay quanh bài học.
12
Qua thực tế cho thấy, những học sinh đóng vai những vị khách mời rất
thích mình được đóng vai những nhân vật trên, cho nên các em luôn thể hiện rõ
bản lĩnh, phong cách chững chạc, tự tin của mình trước khán giả. Còn khán giả
thì rất thích để tìm ra những câu hỏi hóc búa, hỏi những vị khách mời, xem có
trả lời được không…Từ đó cho thấy, giờ học sinh động hẳn lên, học sinh đã
nhận biết, thông hiểu và vận dụng kiến thức bài học vào thực tế trong một tình
huống giả định (tuy nhiên không phải tiết nào cũng trò chuyện hay đóng vai
được)
+ Kết thúc giáo viên tuyên dương và liên hệ thực tế giáo dục học sinh.
c. Trò chơi “Đoán ý đồng đội”
- Kết thúc trò chơi GV có thể nhận xét, tuyên dương những học sinh có tính sáng
tạo trong trò chơi.
d. Một số trò chơi ứng dụng công nghệ thông tin
Bên cạnh các trò chơi đó, mỗi giáo viên có thể sử dụng công nghệ thông
tin để thực hiện nhiều trò chơi khác như:Trò chơi đố vui, trò chơi ô chữ, trúc
xanh, trò chơi âm nhạc, vui học, học vui…chủ yếu phải phù hợp bài học, phù
hợp với thực tế học sinh, thực tế ở địa phương.Ví dụ:
* Trò chơi ô chữ:
Thông qua trò chơi này học sinh được phát triển năng lực tư duy, ra quyết
định, hợp tác…Trò chơi dùng để giới thiệu bài mới hoặc tổng kết cuối bài.
-Cách tiến hành:
+ Giáo viên phổ biến luật chơi: chọn ô chữ hàng ngang và trả lời câu hỏi
tương ứng (Có quy định thời gian trả lời đáp án). Đáp án đúng có đủ số chữ cái
ứng với số ô ở hàng ngang. Mỗi ô hàng ngang sẽ có một chữ cái trong từ khóa.
Tìm ra từ chìa khóa người đó sẽ thắng cuộc.
+ Chọn người chơi (chọn ngẫu nhiên bất kì học sinh nào) và tiến hành chơi
theo quy định.
+ Kết thúc trò chơi GV có thể nêu ý nghĩa của từ chìa khóa.
Ví dụ: GDCD 9 – Bài 6: Hợp tác cùng phát triển
*Luật chơi: Học sinh có thể chọn bất kì câu hỏi nào, mỗi câu hỏi có 5
giây để suy nghĩ và trả lời. Trả lời đúng thì ô hàng ngang sẽ được lật mở. Các
em học sinh sẽ xâu chuỗi những chữ cái ở các hàng để tìm ra từ khóa.
14
Câu 1: Tên viết tắt tiếng Anh của tổ chức Hiệp hội các nước Đông Nam Á?
Câu 2: Năm 2006 Việt Nam đã trở thành thành viên của tổ chức này, từ đó đến
nay đã giúp Việt Nam chúng ta có những bước phát triển về kinh tế?
làng nghề truyền thống để học sinh có thêm kiến thức hiểu biết.
* Trò chơi Hành trình văn hóa:
Thông qua trò chơi này học sinh được phát triển năng lực tư duy, giải quyết vấn
đề, năng lực sử dụng ngôn ngữ….
* Cách tiến hành:
- Trò chơi này cả lớp sẽ cùng được tham gia
- Luật chơi: Tìm từ chìa khoá (có bao nhiêu chữ cái)
- Ứng với mỗi địa danh màu (xanh ) là một câu hỏi.
- Trả lời đúng câu hỏi sẽ tìm được chữ trong từ chìa khoá.
- Bạn nào đoán được từ chìa khoá sẽ giành được chiến thắng.
* Ví dụ: GDCD 9 – Bài 7: Kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của
dân tộc
Tổng kết toàn bài GV có thể cho học sinh chơi trò chơi “Hành trình văn hóa”
- GV phổ biến luật chơi như sau:
Luật chơi: Tìm từ chìa khoá (có 7 chữ cái)
- Ứng với mỗi địa danh màu xanh là một câu hỏi.
- Trả lời đúng câu hỏi sẽ tìm được chữ trong từ chìa khoá.
17
- Bạn nào đoán được từ chìa khoá sẽ giành được chiến thắng
Ngoài ra chúng ta còn có thể tổ chức những trò chơi như: Ai nhanh
hơn, kim tự tháp, trúc xanh… để thay đổi hình thức, thể loại tránh nhàm
chán và thu hút sự chú ý của học sinh song vẫn giữ được nội dung chính và
thể hiện đúng trọng tâm bài học. Hầu hết những trò chơi đều góp phần phát
huy năng lực cho học sinh.
III.
HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
suốt quá trình thực nghiệm ðể ðýa ra nhận xét, ðánh giá về hiệu quả của việc áp
dụng ðề tài.
* Kết quả thực nghiệm
‒ Biểu ðiểm ðạt ðýợc ở mỗi mức ðộ của các tiêu chí: (Mức 1 < Mức 2 < Mức 3)
Mức 1: ≤ 4 ðiểm; Mức 2: > 4 ≤ 7 ðiểm; Mức 3: > 7 ðiểm
‒ Tổng hợp kết quả ðánh giá các mức ðộ ðạt ðýợc của các nãng lực cho học sinh:
Bảng 2. Bảng tổng hợp các năng lực rèn luyện cho học sinh
STT
1
2
3
4
Tiêu chí
1
2
3
4
Tên tiêu chí
Năng lực giải quyết vấn đề.
Nãng lực sáng tạo.
Năng lực tự nhận thức và điều chỉnh hành vi.
Năng lực giao tiếp.
19
Tiêu
chí
34.0
50
50.0
16
16.0
3
100
19
19.0
57
57.0
24
24.0
4
100
9
9.0
61
61.0
30
30.0
1
100
46
46.0
45
45.0
9
9.0
2
11.0
2
100
27
27.0
59
59.0
14
14.0
3
100
16
16.0
63
63.0
21
21.0
4
100
6
6.0
69
69.0
25
25.0
1
100
55
55.0
41
Hình 3.2. Biểu ðồ biểu diễn các mức ðộ ðạt ðýợc của tiêu chí 2 (Nãng lực
sáng tạo) qua 4 lần thực nghiệm.
20
Hình 3.3. Biểu ðồ biểu diễn các mức ðộ ðạt ðýợc của tiêu chí 3 (Nãng lực tự
nhận thức và ðiều chỉnh hành vi) qua 4 lần thực nghiệm.
Hình 3.4. Biểu ðồ biểu diễn các mức ðộ ðạt ðýợc của tiêu chí 4 (Nãng lực
giao tiếp) qua 4 lần thực nghiệm.
Từ kết quả bảng 3. và các hình 3.1, 3.2, 3.3, 3.4 cho thấy:
Khi mới thực nghiệm, ở các tiêu chí, học sinh ðạt ðýợc mức 1 và mức 2 khá cao,
cho thấy, học sinh cõ bản ðã rèn luyện ðýợc một số nãng lực nhýng mức ðộ chýa
tốt. Qua các lần thực nghiệm, ở mỗi tiêu chí, mức 2 và mức 3 tãng dần, mức 1
giảm dần, ðặc biệt là ở tiêu chí 4, mức 3 tãng lên và mức 1 giảm xuống rõ rệt.
Chứng tỏ, một số nãng lực của học sinh ðã dần dần ðýợc cải thiện, có sự tiến bộ
qua các lần thực nghiệm. Kết quả chung ðã cho thấy việc áp dụng các giải pháp
của ðề tài là có tính khả thi, nếu kiên trì áp dụng, tôi tin rằng, học sinh sẽ ðýợc
phát triển nãng lực ngày càng hoàn thiện hõn.
2. Phân tích ðịnh tính:
Trong quá trình tiến hành thực nghiệm sử dụng trò chơi để phát triển
năng lực cho học sinh, tôi thấy rằng:
-Với mục tiêu dạy học định hướng phát triển năng lực học sinh, có thể nhận
thấy việc áp dụng phương pháp trò chơi đã tạo nên sự khác biệt:
+ Học sinh chuyển từ thụ động sang chủ động, hoạt động tư duy.
21
kế, xây dựng giáo án, dạng bài tập rèn luyện cho nãng lực cho học sinh.
22
‒ Ðề tài mới chỉ ðề cập ðến một phýõng pháp của việc rèn luyện các nãng lực cho
học sinh. Việc thực nghiệm chỉ ðýợc tiến hành trên 3 lớp, nên kết quả thu ðýợc
ðể ðánh giá hiệu quả ðề tài chýa mang tính khái quát. Phạm vi nghiên cứu của
ðề tài mới chỉ ðề cập ðến việc rèn luyện một số nãng lực cho học sinh trên lớp
và áp dụng cho phần ðạo ðức ở môn GDCD 9. Do vậy, ðề tài cần ðýợc tiếp tục
nghiên cứu, hoàn thiện hõn ðể ðánh giá tốt hõn hiệu quả của việc sử dụng
phýõng pháp trò chõi ðể ðịnh hýớng phát triển nãng lực cho học sinh, từ ðó, ðề
xuất ðýợc những giải pháp phù hợp với trình ðộ của các ðối týợng học sinh và
các nãng lực ðýợc rèn luyện.
23
MỤC LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Khánh Bằng (2001), Học cách học trong thời ðại ngày nay, Hà Nội.
2. Bộ Giáo dục & Ðào tạo (2010), Giáo dục kĩ nãng sống trong môn GDCD ở
trýờng THCS, NXB Giáo dục Việt Nam.
3.
Bộ Giáo dục & Ðào tạo (2014), Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra,
ðánh giá kết quả học tập theo ðịnh hýớng phát triển nãng lực học sinh môn
giáo dục công dân cấp THCS.
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: Giáo dục công dân
- Phương pháp giáo dục
-Lĩnh vực khác: ........................................................
Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị
Trong Ngành
1. Tính mới (Đánh dấu X vào 1 trong 2 ô dưới đây)
- Có giải pháp hoàn toàn mới
25