Vận dụng phương pháp dự án vào dạy học Địa lý 9, THCS
Gv: Lê Thanh Long
Trang
1
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DỰ ÁN VÀO DẠY HỌC ĐỊA LÝ 9, THCS
NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ KỸ NĂNG
LÀM VIỆC THEO NHÓM CỦA HỌC SINH MỤC LỤC
NỘI DUNG
Trang
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
2
II. THỰC TRẠNG
3
1. Những tồn tại, hạn chế cần khắc phục 3
2. Hiện trạng và kết quả mong muốn 3
III. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
4
1. Cơ sở lí luận 4
2. Vai trò của giáo viên và học sinh trong phương pháp dạy học dự án 9
3. So sánh phương pháp dạy học dự án và phương pháp truyền thống 10
4. Ưu điểm và nhược điểm của dạy học theo dự án 10
5. Quy trình và thời gian thực hiện 11
IV. KẾT QUẢ THỰC HIỆN
17
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Đổi mới phương pháp dạy học Địa lý là một yêu cầu tất yếu. Quá trình này đòi hỏi phải
tìm ra những phương pháp mới, hình thức dạy học mới để đạt được những mục tiêu cơ
bản của đổi mới giáo dục Địa lý ở trường phổ thông hiện nay.
Quyết định số 16/2006/QĐ – BGDĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào
tạo đã nêu rõ: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù
hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi
dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kỹ năng vận dụng
kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm
học tập cho học sinh”.
Việc đổi mới phương pháp dạy học theo các định hướng trên đòi hỏi phải thực hiện được
chức năng mới của giáo viên với vai trò là người tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động
của học sinh, dạy học sinh phương pháp tự học, tự nghiên cứu.
Học sinh với vai trò là người chủ động thảo luận, tìm tòi, tích cực lĩnh hội kiến thức và
giải quyết những vấn đề đặt ra.
Việc học chỉ thực sự có ý nghĩa khi người học có được động cơ và hứng thú trong học
tập. Một trong những yếu tố quan trọng để duy trì sự hứng thú đó là làm cho các kiến thức
gắn với thực tiễn của cuộc sống, làm cho quá trình học tập phải là quá trình tự khám phá
của người học. Trong các phương pháp dạy học theo hướng tích cực có một phương pháp
rất có tiềm năng và có thể áp dụng được rất nhiều yêu cầu của việc đổi mới phương pháp
dạy học, đặc biệt lại rất phù hợp với nội dung giảng dạy của môn Địa lý – đó là phương
pháp dạy học dự án (Project Based Learning, PBL) là một trong các phương pháp rất đáng
được các giáo viên quan tâm và vận dụng trong quá trình giảng dạy của mình.
Bài viết này xin trình bày hiệu quả của việc “Vận dụng phương pháp dự án vào dạy học
Địa lý 9, THCS nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và kỹ năng làm việc theo nhóm của
học sinh” mà tôi đã áp dụng trong thời gian vừa qua!
Vận dụng phương pháp dự án vào dạy học Địa lý 9, THCS
Gv: Lê Thanh Long
Trang
3
Vận dụng phương pháp dự án vào dạy học Địa lý 9, THCS
Gv: Lê Thanh Long
Trang
4
III. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1. Cơ sở lí luận:
1.1. Khái quát về phương pháp dạy học dự án
Thuật ngữ dự án - tiếng Anh là “Project”, có nguồn gốc từ tiếng La tinh Proicere – và
ngày nay được hiểu theo nghĩa phổ thông là một đề án, một dự thảo hay một kế hoạch, cần
được thực hiện nhằm đạt mục đích đề ra. Khái niệm dự án được sử dụng phổ biến trong
hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội: trong sản xuất, kinh doanh, trong nghiên cứu khoa
học cũng như trong quản lí xã hội… . Khái niệm dự án đã đi từ lĩnh vực kinh tế - xã hội
vào lĩnh vực giáo dục – đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà
còn được sử dụng như một hình thức hay phương pháp dạy học.
Phương pháp dự án (The Project Method) còn được gọi là Dạy học dự án /Dạy học theo
dự án/Dạy học dựa trên dự án – Project Based Learning được hiểu như một PP dạy học
hướng học sinh đến việc tiếp thu tri thức và kĩ năng thông qua quá trình giải quyết một bài
tập tình huống, được gọi là một dự án (project) mô phỏng môi trường các em đang sống và
sinh hoạt.
Phương pháp dự án là một PP phức hợp trong đó dưới sự hướng dẫn của giáo viên (GV),
người học sẽ thực hiện một nhiệm vụ phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết và thực tiễn,
thực hành. Người học được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ này với sự tự lực cao trong toàn
bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án,
kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện.
có điều kiện để thực hành những lí thuyết đã học và thông qua kết quả đạt được trong hoạt
động thực tiễn, HS có thể rút ra được những nhận định, những kết luận của vấn đề nghiên
cứu. Trong dự án Phát triển bền vững kinh tế biển đảo như đã đề cập ở trên, trên cơ sở tư
liệu thu thập được, HS thường xuyên vận dụng các kiến thức về cách đọc bảng Số liệu
thống kê, Sơ đồ, Biểu đồ, Bản đồ …. để phân tích, rút ra được những nhận định về tình
hình phát triển các ngành kinh tế biển ở một vùng trong nước hoặc của một địa phương cụ
thể. Ngoài ra HS còn có thể chuyển kết quả nghiên cứu của mình thành biểu đồ, bản đồ
trong các sản phẩm cuối cùng. Như vậy kĩ năng Địa lí của HS thường xuyên được rèn
luyện và phát triển.
- Tạo ra sản phẩm: Sản phẩm là yêu cầu bắt buộc khi kết thúc các dự án. Sản phẩm
được tạo ra trong quá trình HS thực hiện dự án. Đó là kết quả của hoạt động và những kết
quả ấy có thể công bố được. Sản phẩm có thể là những đồ vật cụ thể, chẳng hạn: một ấn
phẩm, các bài trình diễn Powerpoint tìm hiểu về tiềm năng, tình hình phát triển, những
khó khăn và giải pháp phát triển bền vững các ngành kinh tế biển đảo theo lãnh
thổ…trong dự án Địa lí về Phát triển bền vững kinh tế biển đảo Việt Nam; cũng có thể là
những sản phẩm phi vật thể như thực hiện một tiểu phẩm kêu gọi bảo vệ tài nguyên, môi
trường biển đảo.
Vận dụng phương pháp dự án vào dạy học Địa lý 9, THCS
Gv: Lê Thanh Long
Trang
6 - Tính tự tổ chức và tự chịu trách nhiệm của người học: Đây là một điểm đặc trưng
của phương pháp dự án, thể hiện xuyên suốt quan điểm dạy học hướng vào người học.
Trong quá trình thực hiện dự án, HS cần được tạo điều kiện để “tự định hướng” trong tất
cả các giai đoạn, đặc biệt trong việc xây dựng kế hoạch và thực hiện dự án. Trong chừng
mực nhất định, HS còn được tham gia xác định mục đích dự án và đánh giá kết quả của dự
án. HS cần được rèn luyện kĩ năng “tự đánh giá” - Kĩ năng “Siêu nhận thức”- trong suốt
quá trình làm dự án để hoàn thiện sản phẩm. Từ đó, cùng với giáo viên, các nhóm HS có
sản phẩm. GV, với vai trò người tổ chức, chỉ đạo, tư vấn, hỗ trợ, tạo điều kiện, … sẽ
thường xuyên phối hợp nhịp nhàng với nhóm. Ngoài ra, các nhóm còn có thể liên kết với
các GV khác trong nhà trường, với các chuyên gia trong xã hội về lĩnh vực nhóm đang tìm
hiểu để nhận được sự tư vấn chuyên nghiệp và kịp thời, …. Dễ dàng nhận thấy rằng tính
chất “xã hội” của học tập dự án được hình thành và phát triển, qua đó HS được rèn ý thức
và PP cùng cộng tác trong lao động.
Tính chất xã hội còn được thể hiện rõ qua việc HS “đóng vai” trong quá trình thực hiện
dự án. HS phải “hóa thân” vào các vai có thật trong cuộc sống. Trong dự án Phát triển bền
vững kinh tế biển đảo Việt Nam, HS có thể vào vai các thành viên của Viện nghiên cứu
dầu khí việt nam, Viện nghiên cứu phát triển du lịch, …Việc đóng vai ngoài ý nghĩa giúp
cho HS nghiên cứu sâu và sát với thực tiễn hơn một vấn đề học tập, còn giúp HS bước đầu
tiếp cận với những công việc thật ngoài xã hội, qua đó góp phần giúp HS định hướng nghề
nghiệp.
Ngoài ra, tính chất xã hội trong dạy theo dự án còn thể hiện ở khả năng tận dụng những
thành tựu mới nhất về khoa học và công nghệ trong xã hội, đặc biệt những thành tựu về
CNTT. CNTT là nguồn lực hỗ trợ tối quan trọng, tối cần thiết trong suốt quá trình thực
hiện dự án. Có thể nói, khó lòng hình dung, việc thiết kế và thực hiện các dự án dạy học
trong thế kỉ 21 lại tách biệt hoàn toàn với CNTT, đặc biệt là Internet.
1.3. Khái quát về quá trình phát triển của phương pháp dự án
Mặc dù vẫn chưa có câu trả lời thật chính xác về tác giả và thời điểm ra đời của thuật ngữ
PP dự án, nhưng các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng khái niệm dự án đã được sử dụng từ
lâu trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển, bắt đầu
từ nước Pháp và Ý (thế kỉ 17, 18), từ đó lan rộng ở Đức và một số nước châu Âu và ở Mỹ
(khoảng giữa thế kỉ 19). PP dự án được ứng dụng khá rộng và khá hiệu quả ở các nước
phương Tây từ cuối thế kỉ 19 và về sau ngày càng phát triển. Cụ thể, ở Đức giai đoạn 1895
– 1933 các nhà sư phạm đã phát triển quan điểm dạy học mới liên quan đến ứng dụng PP
dự án ở trường đại học và phổ thông. Họ cho rằng cần phải thực hiện trên thực tế cách học
tập mới với điểm trọng tâm là thực hiện các dự án. Các nhà sư phạm nổi tiếng lúc bấy giờ:
Georg Kochenteiner, Hugo Gaudig, Berthold Otto, Petersen là những nhà tiên phong về
nhà sư phạm ở châu Âu và Mỹ đã có công rất lớn trong việc sáng tạo, xây dựng và ứng
dụng lí thuyết PP dự án chủ yếu trong các trường đại học và tại các nước phát triển. Tuy
nhiên, việc phổ biến khái niệm PPDA và tạo điều kiện ứng dụng nó rộng rãi trên phạm vi
toàn cầu lại thuộc về công lao của dự án giáo dục Việt Bỉ, các tập đoàn Intel và Microsoft,
…. Đặc biệt là tập đoàn Intel với chương trình Intel Teach….(Chương trình dạy học của
Intel…) trong đó PP dạy học theo dự án (Project Based Learning - PBL) hoặc PP dạy học
tiếp cận dự án (Project Based Approaching - PBA) được dành một vị trí thích đáng bên
cạnh việc tạo điều kiện tối đa cho giáo viên(GV), học sinh (HS), sinh viên (SV) hình
thành, rèn luyện, phát triển kĩ năng công nghệ thông tin (CNTT) và ứng dụng CNTT trong
dạy học. Có thể nói, chương trình Intel Teach …đã góp phần “hiện đại hóa” PPDA, giúp
cho GV, HS, SV trên cơ sở tận dụng được những thành tựu mới của CNTT thiết kế và
Vận dụng phương pháp dự án vào dạy học Địa lý 9, THCS
Gv: Lê Thanh Long
Trang
9thực hiện các “dự án” học tập đa dạng, phong phú, hấp dẫn, linh hoạt thông qua đó các kĩ
năng “mềm”, kĩ năng thế kỉ 21 được hình thành và phát triển một cách tự nhiên.
2. Vai trò của giáo viên và học sinh trong phương pháp dạy học dự án:
2.1. Vai trò của học sinh:
- Học sinh quyết định cách tiếp cận vấn đề và các hoạt động cần phải tiến hành để giải
quyết vấn đề.
- Chính học sinh là người thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau, rồi tổng hợp
(synthesize), phân tích (analyze) và tích lũy kiến thức từ quá trình làm việc của các em.
- Bằng cách này mỗi bài học đều thật sự hấp dẫn đối với học sinh vì vấn đề mà họ đang
giải quyết là vấn đề có thật trong đời sống, và việc giải quyết vấn đề đòi hỏi những kỹ
năng của “người lớn” như sự cộng tác và diễn giải.
- Cuối cùng, chính HS trình bày kiến thức mới mà họ đã tích lũy thông qua dự án và được
đánh giá dựa trên những gì đã thu thập được và tính khúc chiết và hợp lý trong cách thức
Mục tiêu
Học sinh thuộc và nhớ kiến thức,
biết vận dụng kiến thức để giải bài
tập.
Học sinh hiểu kiến thức và biết vận
dụng kiến thức để giải quyết những
nhiệm vụ thực tiễn.
Do sách giáo khoa và giáo viên
quyết định.
Do học sinh hoặc giáo viên đề xuất
trên cơ sở năng lực và hứng thú
của học sinh.
Nội dung
Ít có tính liên môn.
Thường liên quan đến nhiều môn
học và nhiều lĩnh vực.
Người dạy là trung tâm, tổ chức
kiến thức thành các nhiệm vụ giao
cho học sinh.
Người học là trung tâm, thực hiện
các nhiệm vụ dưới sự hỗ trợ của
giáo viên để xây dựng kiến thức
cho mình.
Rất ít hoặc nếu có thì cũng do giáo
viên chia nhóm
Học sinh tự thành lập nhóm
Đánh giá
Sự đánh giá chỉ tập trung đến kết
quả cuối cùng.
Là việc của giáo viên.
Sự đánh giá được thực hiện trong
suốt quá trình học tập.
Bao gồm đánh giá của giáo viên, tự
đánh giá của học sinh và đánh lẫn
nhau giữa các học sinh.
4. Ưu điểm và nhược điểm của dạy học theo dự án:
4.1. Ưu điểm:
Các đặc điểm của DHDA đã thể hiện những ưu điểm của phương pháp dạy học này. Có
thể tóm tắt những ưu điểm cơ bản sau đây của dạy học theo dự án:
- Gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội;
Vận dụng phương pháp dự án vào dạy học Địa lý 9, THCS
Gv: Lê Thanh Long
Trang
11- Kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học;
- Phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm;
- Phát triển khả năng sáng tạo;
Trang
12HS cùng tham gia sẽ tốt hơn. Dù thực hiện theo cách nào thì GV vẫn luôn là người “cầm
chịch” trong các giai đoạn đầu tiên; luôn chỉ đạo, điều chỉnh kịp thời và đúng lúc.
- Lập kế hoạch thực hiện dự án: GV định hướng cho HS lập kế hoạch thực hiện dự án.
Phân nhóm và xác định nhóm trưởng. Các nhóm xác định những công việc cần làm, tiến
trình thực hiện, nguồn tài nguyên cần khai thác, trên cơ sở đó phân công công việc cụ
thể cho từng thành viên trong nhóm. Đặc biệt cần khuyến khích tính tự lực của HS trong
giai đoạn lập kế hoạch.
- Hiện thực hóa/triển khai dự án: Dưới sự đôn đốc, chỉ đạo, hỗ trợ của GV các thành
viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề ra cho nhóm và cá nhân. Trong giai đoạn này
HS thực hiện song song các hoạt động trí tuệ và thực hành. Hai hoạt động này được tiến
hành đồng thời hoặc xen kẻ qua lại lẫn nhau. Trong quá trình đó, thông tin mới được tạo ra
và sản phẩm dự án dần hoàn thiện.
- Trình bày và đánh giá kết quả dự án: GV tổ chức cho HS trình bày kết quả dự án.
Dự án thường được trình bày giữa các nhóm HS trong một lớp. Dự án có thể được giới
thiệu trong trường học, với cha mẹ HS. Dự án cũng có thể được giới thiệu rộng rãi trong
xã hội qua các phương tiện thông tin. Song song với việc trình bày sản phẩm, thường
trong phạm vi một lớp học, GV và HS cùng đánh giá quá trình thực hiện cũng như kết quả
và kinh nghiệm đạt được. Từ đó rút ra kết luận và định hướng cho các dự án tiếp theo.
Việc phân chia các giai đoạn trên đây chỉ có ý nghĩa tương đối. Trong thực tế chúng có
thể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau. Cũng tương tự như vậy với các đặc điểm của dạy học
dự án, chúng có mối quan hệ chặt chẽ, mỗi đặc điểm có thể thể hiện trong tất cả các giai
đoạn; hoặc trong một giai đoạn, có thể chứa đựng nhiều đặc điểm. Cũng như các PPDH
khác, PPDA không phải là một PPDH vạn năng, chỉ thích hợp với một số đề tài nhất định.
Vì vậy việc vận dụng cần phải hết sức linh hoạt. Không nhất thiết mọi đặc điểm của dự án
đều phải và đều có thể thực hiện mà áp dụng tùy từng đề tài, tùy hoàn cảnh cụ thể.
5.2. Thời gian thực hiện:
- Tìm hiểu về hiện trạng, tiềm năng phát triển của một ngành kinh tế biển và những hạn
chế.
- Đề xuất những giải pháp để phát triển bền vững kinh tế biển – đảo. Vận dụng phương pháp dự án vào dạy học Địa lý 9, THCS
Gv: Lê Thanh Long
Trang
14
Các nhóm dự án và sản phẩm của các nhóm là:
STTNhóm Họ tên thành viên Lớp
Sản phẩm dự án
Trần Thị Phương Lan 9/6
Phạm Thái Gia Hoà 9/6
Nguyễn Hoàng Quân 9/6
Trịnh Phú Quý 9/6
Nguyễn Di Hưng 9/6
Nguyễn Trần Minh Tân 9/6
1 Viện Phát triển
bền vững vùng
trạng và giải pháp
Lê Thị Hồng Loan
9/6
Phạm Ngọc Yến Nhi 9/6
4 Viện nghiên
cứu Hải sản
Nguyễn Thị Kim Chi 9/6
Dự án: Hải sản vùng đất
chín rồng
CÁC BƯỚC THỰC HIỆN DỰ ÁN
Thời gian 4 tuần từ ngày 13/02 đến ngày 10/03/2012
Thời gian Nhóm Công việc
Thời gian
hoàn thành
- Trả lời phiếu khảo sát nhu cầu học
sinh.
- Chia nhóm và đặt tên nhóm, tên dự
án, gửi danh sách nhóm đính kèm.
- Tạo trang Wiki cho nhóm và cập
nhật thông tin
- Thảo luận nhóm về bộ câu hỏi định
hướng.
- Hoàn thành bài tập 1, 2, 3.
- Thứ 3 ngày
14/02/2012
- Lựa chọn và thiết kế sản phẩm (một
bài trình diễn đa phương tiện).
- Thứ 3 ngày
21/02/2012
- Thứ 4 ngày
22/02/2012
- Thứ 5 ngày
23/02/2012
Nhóm Viện
nghiên cứu và
phát triển Du
lịch
- Quản lý trang thành viên trên trang
wiki của nhóm.
- Báo cáo tiến đ
ộ thực hiện dự án tuần
2 trên wiki.
- Điều chỉnh mục tiêu và kế hoạch dự
án nếu cần thiết.
- Thứ 7 ngày
25/02/2012
- Hoàn thành kế hoạch dự án, phân
công chi tiết cho thành viên.
- Bắt đầu nghiên cứu.
- Thảo luận về nội dung các bài 39 và
40.
- Thu thập dữ liệu và thông tin liên
quan đến vấn đề phát triển ngành dầu
khí của vùng Đông Nam Bộ.
- Bắt đầu nghiên cứu.
- Thảo luận về nội dung các bài 38.
- Thu thập dữ liệu và thông tin liên
quan đến vấn đề khai thác, nuôi trồng
và chế biến hải sản của vùng Đồng
b
ằng
sông C
ửu Long.
- Thứ 3 ngày
21/02/2012
- Thứ 4 ngày
22/02/2012
- Thứ 5 ngày
23/02/2012
Vận dụng phương pháp dự án vào dạy học Địa lý 9, THCS
Gv: Lê Thanh Long
Trang
16- Xử lý và t
ổng hợp các dữ liệu, thông
tin về dự án.
- Lựa chọn và thiết kế sản phẩm (một
bài trình diễn đa phương tiện).
- Quản lý trang thành viên trên trang
wiki của nhóm.
vững vùng Nam
Bộ
- Quản lý trang thành viên trên trang
wiki của nhóm.
- Báo cáo ti
ến độ thực hiện dự án tuần
2 trên wiki.
- Điều chỉnh mục tiêu và kế hoạch dự
án nếu cần thiết.
- Thứ 7 ngày
25/02/2012
- Hoàn thành sản phẩm và đánh giá
dựa vào tiêu chí.
- Tham khảo ý kiến của giáo vi
ên, các
nhóm để có những điều chỉnh cần
thiết.
Thứ 5 ngày
1/03/2012
Thứ 6 ngày
2/03/2012
Tuần 3 Từ ngày
27/02 – 03
/03/2012
Các nhóm
- Đánh giá sự cộng tác trong nhóm.
- Tự đánh giá.
- Báo cáo ti
ến độ thực hiện dự án tuần
Về phía giáo viên, trước những khó khăn của học sinh cũng đã phần nào tìm cách tháo
gỡ và động viên các em, ví dụ yêu cầu các em tận dụng những tiết còn trống trong buổi
học, những buổi không đến trường để trao đổi, phân công công việc, thường xuyên trao
đổi, phản hồi với các nhóm qua điện thoại, email hay những thông báo trên trang Wiki của
lớp, hỗ trợ các em trong việc cung cấp những tài liệu tham khảo chính, góp ý về việc trình
bày bố cục, nội dung sản phẩm, kỹ năng CNTT
Cuối buổi các nhóm báo cáo sản phẩm, giáo viên cho các nhóm trả lời câu hỏi bài tập
trắc nghiệm để đánh giá tình hình nắm kiến thức của học sinh sau dự án, yêu cầu các em
hoàn thành phiếu đánh giá quá trình thực hiện dự án. Kết quả khảo sát từ 4 nhóm cho thấy
đa số các em đạt điểm từ khá trở lên ở bài tập trắc nghiệm và các em đã nêu lên những kỹ
năng những gì đã học được từ dự án, những khó khăn trong qua trình thực hiện và mối
quan hệ tích cực giữa các thành viên trong nhóm, 17/19 học sinh nhận định rằng các em
hài lòng và thích dự án của nhóm mình thực hiện, một học sinh chưa hài lòng vì cho rằng
dự án của nhóm quá rộng khó hơn các nhóm khác, một học sinh khác cho rằng mình
không thích học theo phương pháp dự án vì rất mất thời gian, ảnh hưởng đến các môn học
khác.
Vận dụng phương pháp dự án vào dạy học Địa lý 9, THCS
Gv: Lê Thanh Long
Trang
18 Như vậy, thông qua dự án, các em học sinh đã không chỉ tiếp thu được những kiến thức
bổ ích và thực tiễn về tình hình phát triển các ngành kinh tế biển đảo Việt Nam theo lãnh
thổ mà còn hình thành cho mình được nhiều kĩ năng sống quan trọng như phát huy tính tự
lực, tích cực, kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng phân tích, tổng hợp các nguồn tư liệu,
Hứng thú học tập và nghiên cứu khoa học của học sinh trước, trong và sau dự án được thể
hiện rõ rệt.
2. Minh chứng cụ thể:
Dự án “Phát triển bền vững kinh tế biển – đảo Việt Nam” đã được trình bày và đạt
Hiệu quả do phương pháp dự án mang lại cho HS là vô cùng to lớn, đặc biệt việc hình
thành cho HS cuối cấp các “kĩ năng mềm” – những kĩ năng cần thiết cho việc học tập, lao
động sau này; môn Địa lý, về bản chất khoa học, về chương trình, về nội dung là một môn
học hội đủ các điều kiện để ứng dụng phương pháp dự án, trong đó điển hình nhất là nội
dung, chương trình Địa lí 9; việc giảm tải chương trình, yêu cầu đổi mới PPDH và hình
thức kiểm tra đánh giá về chất, cơ sở vật chất đã được cải thiện … tạo điều kiện và động
cơ tốt cho việc dạy và học phương pháp dự án.
Để dự án có thể triển khai được, giáo viên cần cung cấp tài liệu hỗ trợ (tên sách và số
trang cần đọc, tên trang web để học sinh tham khảo, sản phẩm mẫu…), chia nhóm, phân
công công việc cụ thể cho học sinh, công bố thời gian thực hiện và hoàn thành dự án, công
bố tiêu chí đánh giá các sản phẩm. Việc hướng dẫn các nhóm lập kế hoạch thực hiện dự án
là rất quan trọng. Giáo viên cần dự tính để học sinh có đủ thời gian thực hiện dự án và
không ảnh hưởng đến lịch trình học tập chung. Khi trình bày dự án trên lớp, giáo viên lưu
ý học sinh tham gia trong vai trò là các thành viên của Viện nghiên cứu báo cáo trước hội
nghị. Giờ học trên lớp được tổ chức theo một hình thức mới, cuốn hút học sinh tham gia.
Từ việc thiết kế dự án như trên có thể rút ra nhận xét sau:
- Dạy học theo dự án chỉ phù hợp với những nội dung nhất định trong môn Địa lý, đồng
thời cần có thời gian và có sự chuẩn bị chu đáo, do vậy không thể tiến hành thường xuyên
trong chương trình môn học. Các vấn đề lớn mà thế giới đã và đang đối mặt như môi
trường và ô nhiễm môi trường, dân số và tác động của dân số đến tài nguyên, môi trường
và phát triển kinh tế, địa lý địa phương v.v… sẽ phù hợp với việc thiết kế các dự án học
tập bộ môn.
- Để dự án được khả thi giáo viên cần định hướng sản phẩm rõ ràng và phù hợp với điều
kiện dạy học:
Trong môi trường dạy học có sự hỗ trợ đầy đủ của công nghệ, giáo viên môn Địa lý cần
phối hợp cùng giáo viên Tin học hướng dẫn học sinh cách sử dụng phần mềm hỗ trợ việc
học tập (sử dụng phần mềm Microsoft Office Power Point thiết kế bài trình chiếu, sử dụng
phần mềm Microsoft Office Publisher thiết kế trang web, ấn phẩm).
Vận dụng phương pháp dự án vào dạy học Địa lý 9, THCS
Gv: Lê Thanh Long
bài dạy bằng GAĐT đối với nhiều lớp trong một buổi.
Hóc Môn, Ngày 25 tháng 03 năm 2012
Người thực hiện Leâ Thanh Long
Vận dụng phương pháp dự án vào dạy học Địa lý 9, THCS
Gv: Lê Thanh Long
Trang
21
PHIẾU CHẤM VÀ XẾP LOẠI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ
NĂM HỌC 2011-2012 Người viết : Lê Thanh Long. Đơn vị : Trường THCS Tân Xuân
Tên bài viết : Vận dụng phương pháp dự án vào dạy học Địa lý 9, THCS nhằm phát huy
tính tích cực, tự lực và kỹ năng làm việc theo nhóm của học sinh. Yêu cầu Tiêu chí Thang
điểm
Điểm
chấm
Nhận xét
20
10
IV. Kết quả
thực hiện
(30điểm)
- Kết quả đạt được so với kế họach đề
ra.
- Có chứng cứ cho thấy SKKN đã tạo
được hiệu quả cao hơn (đối chiếu kết
quả đạt được so với quá khứ).
- SKKN trình bày khoa học, logic, dễ
hiểu và có khả năng áp dụng rộng rãi.
10
15 5
V. Bài học
kinh nghiệm
(10điểm)
- Tự đánh giá và rút ra được kết luận.
- Những góp ý và đề xuất hướng sáng
* Xác nhận và ý kiến của Hiệu trưởng.
Nhận xét
I. Đặt vấn đề
(5 điểm)
Mục tiêu của SKKN, cơ sở lí luận nêu
được những vấn đề mới, sáng tạo.
5
II . Thực
trạng
(15 điểm)
- Những tồn tại, hạn chế cần khắc
phục.
- Hiện trạng ( thuận lợi, khó khăn) của
vấn đề cần giải quyết và kết quả mong
muốn.
5
10
III. Giải
quyết vấn đề
( 40 điểm)
- Nội dung thực hiện khoa học, mang
lại lợi ích thiết thực.
- Giải pháp, biện pháp thực hiện khả
thi, phù hợp, sáng tạo.
- Quy trình, thời gian thực hiện hợp lí.
- Những góp ý và đề xuất hướng sáng
kiến mới.
5
5
Tổng cộng 100
Ghi chú : SKKN đạt từ 85 – 100 điểm xếp lọai A ( Tốt )
- 70 – 84 điểm xếp lọai B ( Khá )
- 50 – 69 điểm xếp lọai C ( Trung bình )
SKKN đạt dưới 50 điểm xếp lọai D ( Chưa đạt yêu cầu )
Ngày tháng năm 2012
Xác nhận của Hội đồng Giám khảo
1/
2/
Vận dụng phương pháp dự án vào dạy học Địa lý 9, THCS
Gv: Lê Thanh Long
Trang
24
* Giới thiệu và ý kiến của MLBM phụ trách-thành viên Hội đồng chấm SKKN.
Vận dụng phương pháp dự án vào dạy học Địa lý 9, THCS
Gv: Lê Thanh Long
Trang
25
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trịnh Văn Biều, Phan Đồng Châu Thủy, Trịnh Lê Hồng Phương, “Dạy học dự án – Từ
lí luận đến thực tiễn”, Tạp chí khoa học ĐHSP TP HCM (số 28)
2. Nguyễn Văn Cường (2006), “Một số vấn đề chung về đổi mới PPDH ở trường THPT”
– Dự án phát triển GDTHPT.
3. Nguyễn Dược, Nguyễn Trọng Phúc (2007), Lí luận dạy học Địa lí, Nxb ĐHSP.
4. Nguyễn Thị Kim Liên (2009), “Cơ sở khoa học của việc vận dụng phương pháp dự án
vào dạy học Địa lí 12, THPT”, Tạp chí khoa học ĐHSP TP HCM (số 29)
5. Nguyễn Hải Châu, Phạm Thị Sen, Nguyễn Đức Vũ (2007), Những vấn đề chung về đổi
mới giáo dục THCS, Nxb Giáo dục.