SangKienKinhNghiem.org
Tổng Hợp Hơn 1000 Sáng Kiến Kinh Nghiệm Chuẩn
MỞ ĐẦU
I.
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Quyết định số 16/2006/QĐ – BGDĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào
tạo đã nêu rõ: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với
đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học
sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn;
tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”.
Như vậy có thể thấy cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ
động, học sinh là trung tâm, chống lại thói quen học tập thụ động.
Từ đầu thế kỷ XX, các sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lý luận cho mô hình dạy học theo dự
án (PBL – Project Based Learning) và coi đây là phương pháp dạy học quan trọng để thực hiện
dạy học hướng vào người học nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống. Dạy học
theo dự án được hiểu là một phương pháp hay hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện
một nhiệm vụ phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn, thực hành. Nhiệm vụ này được
người học thực hiện với tính tự lực cao trong quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế
hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện
được.
Xuất phát từ những lý do nói trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Vận dụng mô
hình dạy học dự án vào dạy học Vật lý THPT nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và kỹ
năng làm việc theo nhóm của học sinh”.
II.
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu vận dụng DHDA vào dạy học chương “Các định luật bảo toàn” – Vật lý 10
TÀI LIỆU THAM KHẢO
ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
- Góp phần làm sáng tỏ lý luận về ứng dụng phương pháp DHDA trong dạy học vật lý ở
trường THPT góp phần đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự
-
lực và khả năng làm việc theo nhóm của HS.
Xây dựng ý tưởng, thiết kế hồ sơ bài dạy và tiến hành tổ chức dạy học 1 dự án: “Tên lửa
-
nước – Chinh phục không gian”
Đề xuất một số biện pháp nhằm triển khai rộng rãi mô hình DHDA trong dạy học vật lý
ở trường THPT.
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ỨNG DỤNG MÔ HÌNH DHDA NHẰM PHÁT HUY
TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ KHẢ NĂNG LÀM VIỆC THEO NHÓM CỦA
HỌC SINH
1.1.
Khái niệm về DHDA
Đầu thế kỷ XX, các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lý luận cho phương pháp dạy học
dựa trên dự án và coi đó là PPDH quan trọng để thực hiện quan điểm lấy học sinh là trung tâm,
khắc phục nhược điểm của PPDH truyền thống lấy giáo viên là trung tâm. Ban đầu, dạy học dựa
trên dự án được sử dụng trong dạy học thực hành các môn kỹ thuật, chủ yếu ở bậc học cao đẳng,
2
giải quyết và sản phẩm tạo ra, chúng tôi phân chia các dự án học tập ra làm 4 loại:
Dự án tìm hiểu (tìm hiểu một kiến thức, một ứng dụng nào đó, sản phẩm tạo ra có thể là một
bài luận, một bài thuyết trình hay websites giới thiệu).
Dự án nghiên cứu (nghiên cứu, giải thích một hiện tượng vật lý, sản phẩm tạo ra có thể là
một bài thuyết trình, một bài luận hay websites)
Dự án khảo sát (khảo sát có định lượng một quá trình vật lý nào đó, sản phẩm tạo ra là một
bài luận, một báo cáo về một quy luật mới hay khẳng định một quy luật vật lý đã học).
Dự án kiến tạo (ứng dụng kiến thức nhằm kiến tạo các sản phẩm mới, sản phẩm mới có thể
là sản phẩm vật chất như một thiết bị, một mô hình, hay phi vật chất như tổ chức một buổi hội
thảo, buổi tư vấn, thuyết trình, buổi văn nghệ).
3
1.4. Những ưu điểm và giới hạn của DHDA.
Ưu điểm điểm của DHDA:
DHDA mang lại nhiều lợi ích cho cả GV lẫn HS. Ngày càng có nhiều nghiên cứu của nhiều
nhà sư phạm ủng hộ cho việc vận dụng DHDA vào các hoạt động học tập nhằm khuyến khích học
sinh học tập, thúc đẩy các kỹ năng hợp tác và nâng cao hiệu quả học tập.
Đối với học sinh, những ích lợi từ dạy học theo dự án gồm:
• Tăng tính chuyên cần, nâng cao tính tự lực và thái độ học tập (Thomas, 2000)
• Kiến thức thu được tương đương hoặc nhiều hơn so với những mô hình dạy học khác do khi
được tham gia vào dự án học sinh sẽ trách nhiệm hơn trong học tập so với các hoạt động
truyền thống khác trong lớp học (Boaler, 1997; SRI, 2000)
• Có cơ hội phát triển những kỹ năng phức hợp, như tư duy bậc cao, giải quyết vấn đề, hợp
tác và giao tiếp (SRI, 2000)
• Có được cơ hội rộng mở hơn trong lớp học, tạo ra chiến lược thu hút những học sinh thuộc
các nền văn hóa khác nhau (Railsback, 2002)
Đối với giáo viên, những ích lợi mang lại là việc nâng cao tính chuyên nghiệp và sự hợp tác
với đồng nghiệp, cơ hội xây dựng các mối quan hệ với học sinh (Thomas, 2000).
Kế hoạch thực hiện cần có đầy đủ các yếu tố như các mục tiêu cần đạt được, bộ câu hỏi định
hướng, ý tưởng và kịch bản thực hiện dự án, dự kiến chia nhóm, tiến trình thời gian thực hiện, dự
trù kinh phí, kế hoạch kiểm tra, đánh giá dự án, các nguồn tài nguyên hỗ trợ việc thực hiện dự
án… Như vậy, kế hoạch thực hiện là văn bản chi tiết của hồ sơ bài dạy, được GV lập ra trước như
một hoạch định, đảm bảo dự án diễn ra thành công.
1.5.3. Tình huống xuất hiện dự án – các ý tưởng dự án
Ý tưởng dự án có thể do GV đề xuất nhưng đôi khi cũng xuất phát từ sự sáng tạo của HS.
Nhưng dù thế nào, đi kèm với tình huống thảo luận, GV cũng phải chuẩn bị sẵn một số ý tưởng,
kịch bản để HS thảo luận và lựa chọn. Nguyên tắc ở đây là, GV chỉ đóng vai trò định hướng và
giúp HS lựa chọn được dự án phù hợp với khả năng nhận thức, kỹ năng và điều kiện thực tế của
HS.
Để lựa chọn được một tình huống thảo luận có chất lượng, thu hút được sự quan tâm của đa
số HS, người GV phải xuất phát từ chính những nội dung cần học, phải tìm được các khía cạnh
thời sự của kiến thức, phù hợp với lứa tuổi và khả năng của các em. Việc diễn đạt tình huống lúc
đầu không cần quan trọng, nhưng sau đó cần chăm chút cho phù hợp lứa tuổi và tạo sự kích thích
muốn tìm hiểu của HS.
Từ tình huống thảo luận, GV và HS sẽ tìm thấy những vấn đề mới mẻ, có liên quan đến kiến
thức bộ môn, từ đó nảy sinh các ý tưởng thực hiện một dự án. Các ý tưởng có thể được GV chuẩn
bị từ trước, nhưng không phải là duy nhất, mà có thể xuất phát từ chính sự sáng tạo của HS.
Nhiệm vụ của người GV là hướng dẫn HS lựa chọn một ý tưởng thu hút nhiều sự quan tâm nhất
và phù hợp với khả năng, điều kiện thực tế.
5
1.5.4. Kế hoạch tổ chức nhóm
Hoạt động nhóm là hoạt động cơ bản của DHDA. Việc phân chia nhóm là một khâu quan
trọng trong hồ sơ bài dạy của GV. Nhóm được phân chia như thế nào phụ thuộc vào đặc điểm cụ
thể của từng dự án, phù hợp với nhiệm vụ đặt ra, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi và phải đảm
bảo nguyên tắc công bằng, tạo không khí thoải mái trong các nhóm. Người GV phải là người có
kế hoạch dự trù phân chia nhóm từ trước, số lượng thành viên trong nhóm, số lượng nhóm, nhóm
về nội dung và đa dạng về thể loại. Tuy nhiên, GV cũng phải có sự chuẩn bị trước một số tài liệu
tham khảo và các công cụ trợ giúp cho học sinh.
Tài liệu tham khảo cần được phân loại thành tài liệu in, ebook, phim, hình ảnh, websites…
Các công cụ trợ giúp là các phần mềm, các biểu mẫu về lập kế hoạch, các bài mẫu, nhật ký
dự án, biểu mẫu theo dõi và báo cáo tiến độ thực hiện dự án.
1.5.7. Sản phẩm của học sinh
6
Sản phẩm của HS là những kết quả mà một dự án hướng tới. Đây chính là một mục đích cụ
thể của dự án học tập, cần được xác định trước khi tiến hành và cần được thảo luận thống nhất với
HS. Việc thảo luận và thống nhất với HS giúp cho sản phẩm mang tính khả thi và tạo sự hấp dẫn
với HS.
Các sản phẩm thể hiện sự hiểu biết và công sức làm việc nghiêm túc của HS. Thông thường,
các dự án học tập kết thúc với sản phẩm của HS có thể là một bài thuyết trình, một văn bản tài
liệu (bài báo, bài viết, tờ rơi …), một mô hình dàn dựng hoặc một vở kịch, một hội thảo giả …
Các sản phẩm mẫu ở phần trợ giúp tạo cho HS một cái nhìn sơ bộ về những gì mình đang thực
hiện, từ đó có những hành động phù hợp, những sáng tạo nhất định trong quá trình thực hiện dự
án.
Mỗi một sản phẩm cần hướng tới một tiêu chuẩn nhất định, thể hiện sự đòi hỏi tối thiểu đối
với người thực hiện. Các tiêu chuẩn này cần được xác định và thảo luận với HS trước khi tiến
hành dự án, và phải được nhắc nhở, quán triệt trong suốt thời gian thực hiện.
1.6. Các bước GV tổ chức và điều khiển học sinh học theo dự án:
Bước 1: Lựa chọn một tình huống thảo luận để xuất hiện một dự án.
Bước 2: Xác định mục tiêu kiến thức, kỹ năng cần đạt được thông qua dự án.
Bước 3: Giới thiệu tình huống thảo luận và cùng học sinh định hình dự án.
Bước 4: Vạch kế hoạch về thời gian và thời lượng công việc.
Bước 5: Vạch ra cho HS các mục tiêu cần đạt, các công cụ trợ giúp và công cụ đánh giá.
Bước 6: Báo cáo kết quả và đánh giá kết quả thu được.
Bước 7: Phản hồi dựa trên cơ sở các dữ kiện thu được và chuẩn bị cho kế hoạch tiếp theo.
khả năng đóng góp riêng cho toàn đội; Các thành viên không chỉ chịu trách nhiệm đóng góp trong
sở trường của mình mà còn có thể giúp các thành viên khác tìm hiểu thêm về lĩnh vực đó; Thành
viên nào gặp khó khăn hoặc còn chưa thoải mái khi làm việc trong nhóm nên được các thành viên
khác động viên, giúp đỡ.
Chia sẻ trách nhiệm, và cả nhóm nên thống nhất trách nhiệm, nguyên tắc làm việc. Điều đó
bao gồm: Nghĩa vụ phải tham gia, chuẩn bị trước các buổi họp, và phải đến đúng giờ; Tham gia
thảo luận, phát biểu ý kiến, tập trung vào giải quyết vấn đề và tránh việc chỉ trích cá nhân; Có
trách nhiệm chia sẻ công việc và hoàn thành công việc đúng thời hạn.
Vai trò của GV khi tổ chức HS học tập theo nhóm
- Thu thập thông tin về người học: Tìm hiểu khả năng và nhu cầu của người học, người học
đã có những kiến thức và kỹ năng gì liên quan đến bài học. Họ có mong muốn gì khi học nội
dung này?
- Lựa chọn mục tiêu kiến thức, kỹ năng cần đạt được khi hoạt động nhóm
- Quyết định số lượng HS trong mỗi nhóm, thành lập nhóm ngẫu nhiên hay chủ định.
- Chuẩn bị tài liệu, phương tiện cho HS thảo luận ở nhóm có hiệu quả.
- Sắp xếp phòng học, bố trí địa điểm cho mỗi nhóm
- Giao việc đầy đủ, hạn định thời gian, kết quả cụ thể cho các nhóm.
8
- Giám sát, hỗ trợ các nhóm hoàn thành công việc.
- Đánh giá kết quả hoạt động của các nhóm.
- Sau khi các nhóm trình bày, GV phải kết luận đầy đủ, đảm bảo học sinh nắm được kiến
thức theo hệ thống, không chắp vá.
- Đánh giá hoạt động nhóm: Điểm số có thể đánh giá cho cả nhóm nhưng thành tích cá nhân
trong hoạt động nhóm có thể được đánh giá để HS cảm thấy đóng góp của họ vào hoạt động
nhóm được đánh giá tương xứng. Chính từng nhóm có thể tự đánh giá hiệu lực công trình của họ
dựa trên sản phẩm cuối cùng và đóng góp của từng thành viên trong nhóm. GV đưa ra mẫu phiếu
đánh giá, yêu cầu các thành viên của từng nhóm đánh giá bạn cùng nhóm về các mặt như phẩm
chất chuyên môn (có mặt tại các buổi họp và tham gia đúng lúc), sáng kiến (đề xuất ý kiến, làm
diễn sản phẩm, HS cũng thể hiện tính tự lực và kỹ năng hoạt động nhóm khi được giáo viên dành
cho sự chủ động trong việc sắp xếp ý tưởng, lựa chọn thứ tự và biện pháp trình bày sản phẩm.
Đặc tính hoạt động nhóm thể hiện rõ nét trong giai đoạn đánh giá của DHDA. Với đặc điểm
là đánh giá quá trình chứ không đánh giá kết quả, đánh giá nhiều chiều chứ không đánh giá phiến
diện, DHDA đã mang lại cơ hội công bằng cho mỗi HS. Việc đánh giá từ đó cũng được thực hiện
thường xuyên và đa chiều, từ phía GV, từ phía nhóm trưởng và cả từ phía từng thành viên trong
nhóm. Kết quả đánh giá của một HS phụ thuộc vào sự đóng góp và mức độ đóng góp của HS đó
vào dự án chung của nhóm, và được đánh giá bởi tất cả các thành viên trong nhóm. Đây chính là
khâu thể hiện đặc tính nhóm nổi bật nhất.
Các kỹ năng hoạt động nhóm của HS còn được rèn luyện thông qua các dự án tiếp theo, khi
mà HS được yêu cầu thay đổi nhóm học tập, thay đổi nhiệm vụ. Điều này giúp HS có được nhiều
cơ hội học tập và rèn luyện các đức tính cần thiết cho hoạt động nhóm như tính kiên trì, tôn trọng
ý kiến đồng đội, tính thích nghi và kỹ năng tổ chức ...
CHƯƠNG II
THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG “CÁC
ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN” THEO MÔ HÌNH DHDA
10
2.1. Mục tiêu dạy học của chương “Các định luật bảo toàn”.
•
Kiến thức:
- HS hiểu được các khái niệm động lượng, công, công suất, năng lượng, động năng, thế năng,
cơ năng.
- HS nắm được mối quan hệ giữa công, động năng và thế năng.
- HS nắm được các định luật bảo toàn động lượng, định luật bảo toàn cơ năng. Từ đó am hiểu
quy luật biến đổi và chuyển hóa năng lượng trong một số trường hợp đơn giản.
•
lực.
- Thời gian thực hiện: Từ ngày 21/12 đến ngày 4/1 (2 tuần), tổng thời lượng trên lớp là 4 tiết.
11
- Tình huống sư phạm: “Bằng cách nào mà các động cơ tên lửa, các con tầu vũ trụ vẫn có thể
chuyển động được trong chân không vậy? Các nhà du hành vũ trụ trôi nổi trong không gian, phải
di chuyển bằng cách nào trong không gian? Các con mực ống không có vây nhưng vẫn chuyển
động tới trước được nhờ vào đâu?”
•
Mục tiêu của dự án:
Kiến thức:
- HS hiểu và khắc sâu các kiến thức về động lượng, động lượng của hệ vật, hệ kín, định luật
bảo toàn động lượng, chuyển động bằng phản lực.
- Hiểu và nắm rõ phạm vi chính xác của định luật bảo toàn động lượng, các khái niệm xung
lực.
Kỹ năng:
- HS có được các kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin tốt, kỹ năng hợp tác của các thành
viên trong nhóm, kỹ năng trình bày ý kiến, thảo luận và đưa ra chính kiến của bản thân.
- HS vận dụng được kiến thức về định luật bảo toàn động lượng giải thích được một số hiện
tượng trong thực tế có liên quan.
- HS vận dụng giải được một số bài tập điển hình của phần động lượng.
- HS có được các kỹ năng chế tạo sản phẩm, phân tích, tổng hợp và các kỹ năng tư duy bậc
cao khác nhằm sáng tạo sản phẩm.
- HS có được các kỹ năng tổ chức, sắp xếp một bài thuyết trình nhằm trình bày ý tưởng và bảo
vệ ý tưởng của mình.
Thái độ:
- HS có thái độ yêu thích môn học, hứng thú trong việc tìm kiếm các ứng dụng thực tế của
Xây dựng kế hoạch tổng quát về mặt thời gian:
TT
1.
2.
3.
Nội dung
Xin phép nhà trường, phụ
huynh.
Triển khai dự án
Thời gian
Ngày 07 tháng 12
Tiết 1 ngày 21/12 (thứ 2)
Tổ chức thảo luận, thống nhất
kế hoạch, phân công nhiệm vụ
Ghi chú
Phòng máy
Tiết 2 ngày 21/12 (thứ 2)
4.
Nộp báo cáo tiến độ dự án
Ngày 28/12 (thứ 2)
học tập, tạo sự thuận lợi cho dự án thành công.
Tổ chức hoạt động.
T
Thời
T
gian
Giáo viên
HS
Ghi chú
13
1.
2.
07/12
đến nhà trường.
07/12
3. 12/12
25
phút
1.
Giáo viên
HS
Ghi chú
- GV dùng tình huống thảo
- Tham gia thảo luận tình
GV dùng các
luận và bộ câu hỏi định
huống và bộ câu hỏi định
phương tiện
hướng để làm xuất hiện vấn hướng. Đề xuất các
trình chiếu tạo
đề cần nghiên cứu.
sự sôi động.
phút
các kiến thức
- GV đề xuất xác mục tiêu
- HS thảo luận và thống
cụ thể cho dự án, cho từng
nhất.
trọng tâm và
sản phẩm.
5. 5
phút
- GV đề xuất các mốc thời
- HS thảo luận và thống
Chú trọng ý
gian quan trọng: nộp báo
nhất các mốc thời gian
kiến thảo luận
14
HS
Ghi chú
- GV tổ chức cho HS phân
- Thảo luận, thống nhất
Cho HS tự lựa
nhóm một cách hợp lý (4
hình thức phân nhóm.
- Tổ chức bầu nhóm
chọn nhóm
nhóm), bầu nhóm trưởng.
học tập.
trưởng.
20
- GV hướng dẫn các nhóm
- Dưới sự chỉ đạo của
GV cần nhanh
thời gian chi tiết.
các nhóm mất
- Thảo luận, tìm cách tháo
trật tự, thiếu
gỡ các khó khăn.
hiệu quả.
- Thảo luận các phương
pháp thực hiện dự án.
3.
•
5
- GV thu lại một bản sao kế
phút
hoạch của nhóm.
Kế hoạch hoạt động: Nộp báo cáo tiến độ thực hiện dự án.
Mục đích:
- Theo dõi tiến độ thực hiện của HS, có các biện pháp thúc đẩy và hỗ trợ HS thực hiện
dự án kịp thời.
- Giúp HS thực hiện dự án một cách nghiêm túc.
Tổ chức hoạt động:
15
T
thức phối hợp nhóm).
•
Kế hoạch hoạt động: Tổ chức bắn tên lửa.
Mục đích:
- Nghiệm thu sản phẩm làm căn cứ đánh giá sự tìm hiểu và kết quả tìm hiểu của HS về
dự án.
- Giúp HS hoàn thiện dự án một cách hoàn hảo, đúng kế hoạch.
Tổ chức hoạt động:
T
Thời
T
gian
Giáo viên
- GV tập trung HS, phổ
1.
10
phút
biến nội quy, phân chia khu
vực chuẩn bị, nêu các yêu
cầu đặt ra
mang đủ chưa?
- Thảo luận để có được
16
thiết kế thích hợp nhất.
3.
- Theo dõi và hỗ trợ các
- Nhóm trưởng phân công
nhóm thiết kế, chế tạo tên
nhiệm vụ và tổ chức thực
lửa nước của nhóm.
hiện chế tạo tên lửa. Mọi
Chú trọng an
thắc mắc không giải quyết toàn lao động.
được trong nội bộ nhóm
phải nhờ GV giải quyết.
4.
5.
20
phút
nhóm thực hiện bắn tên lửa
thực tế sau khi đã có sự
điều chỉnh tên lửa tốt hơn.
An toàn phải
đặt lên hàng
đầu.
- Tiến hành bắn thực tế,
có sự so sánh với các
nhóm khác.
- GV yêu cầu HS tập trung
7.
10
phút
về khu vực chuẩn bị, nhận
Thảo luận các yêu cầu có
xét và yêu cầu HS thu dọn
đạt được không? Các đề
gian
- GV nêu yêu cầu trình bày
1.
10
phút
Chú trọng các
của mỗi nhóm về thời gian và
- Chuẩn bị để có phần
cách thức trình bày sao cho
trình bày hiệu quả nhất. trình bày sáng
mạch lạc và nổi rõ trọng tâm.
2.
40
phút
hình thức
tạo.
- GV tổ chức cho các nhóm
Kết thúc buổi báo cáo, các
3.
5
phút
thành viên và các nhóm lưu lại
bài thuyết trình, nộp phiếu học
tập các câu hỏi thảo luận.
•
Kế hoạch hoạt động: Tổ chức đánh giá – hợp thức hóa kiến thức.
Mục đích:
- Đánh giá kết quả thực hiện của dự án, qua đó công nhận thành quả làm việc của HS.
- Thảo luận, hợp thức hóa và khắc sâu các kiến thức trọng tâm.
- Tạo không khí sôi nổi, hăng hái trong các dự án sau.
- Đúc rút các kinh nghiệm thu được cho cả HS lẫn GV.
Tổ chức hoạt động:
T
Thời
T
gian
1.
động trước, thảo luận và
Ghi chú
- Chú ý
hướng HS trả
lời bộ câu hỏi
định hướng.
10
18
phút
- GV tổng kết các câu hỏi
thảo luận, hợp thức hóa và
khắc sâu lại kiến thức trọng
hỏi đáp.
- HS ghi nhận các kiến
thức trọng tâm.
tâm cho HS.
- GV tổng kết các ý kiến
- HS cùng ghi nhận các
nhận xét của HS, của các
5
phút
- Thống nhất phương thức
- HS thảo luận thống nhất
đánh giá.
phương thức đánh giá.
4.
10
phút
- Tập hợp kết quả đánh giá
- Hoàn thiện phiếu đánh
và tiến hành đánh giá.
giá và nộp lại cho GV.
5.
•
- GV phát biểu tổng kết dự
án, khen thưởng (nếu có).
Xây dựng các công cụ kiểm tra, đánh giá.
Căn cứ vào ba lần báo cáo, GV có sự đánh giá điểm quá trình của nhóm.
Trong các buổi báo cáo sản phẩm dự án, GV cùng mỗi HS đều có một phiếu đánh
giá sản phẩm để có những đánh giá kịp thời trong buổi báo cáo. Cuối buổi, phiếu sẽ
được thu lại và tính trung bình, đó là điểm sản phẩm của dự án.
Phương pháp tính điểm của dự án như sau:
- Điểm đánh giá quá trình (ĐQT): Do GV chấm thông qua theo dõi tiến độ làm việc của
các nhóm.
- Điểm sản phẩm (ĐSP): Là trung bình cộng từ các phiếu đánh giá của mỗi HS và cả
của GV.
- Điểm tổng cộng của dự án (ĐTC) được tính như sau:
ĐTC = (ĐQT .0,3 + ĐSP.0,7)
Phiếu đánh giá sản phẩm:
Tên sản phẩm: BÀI THUYẾT TRÌNH
TT
1.
2.
3.
1.
2.
Yêu Cầu
NỘI DUNG
Phần kiến thức (đủ các kiến thức về động lượng, định
lý biến thiên động lượng, các ứng dụng) – Thiếu trừ
5đ/1 nội dung.
Phần ứng dụng (nguyên lý hoạt động tên lửa nước, lịch
sử phát triển tên lửa nước, các ứng dụng lý thú khác)
Có các hình ảnh, phim, flash minh họa …
1.
Nói to, rõ, truyền cảm.
2.
Có các hình thức lôi cuốn người nghe khác
TỔNG ĐIỂM
100
Tên sản phẩm: TÊN LỬA NƯỚC
TT
Yêu Cầu
1.
Sử dụng tiết kiệm vật liệu, dùng các vật liệu thân thiện
môi trường.
Thao tác nhanh gọn, có thứ tự hợp lý thể hiện sự tổ
chức, chỉ đạo, phân công và sắp xếp công việc trôi
chảy.
Dọn dẹp vệ sinh sau khi chế tạo sạch sẽ, nhanh gọn.
2.
3.
4.
CHƯƠNG III
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1. Kết quả thực hiện
3.1.1. Nhận xét về tiến trình dạy học theo dự án
21
Tiến trình DHDA thực hiện ở môn Vật lý THPT tuy còn nhiều khó khăn nhưng đã tạo được
luồng không khí mới trong HS và GV. Để tổ chức tốt, người GV phải đầu tư chuyên môn công
phu, từ khâu xây dựng ý tưởng, xây dựng bộ câu hỏi và lựa chọn kiến thức trọng tâm … nhằm đạt
được các mục tiên kiến thức, kỹ năng, thái độ và hơn nữa là tăng cường khả năng hợp tác nhóm.
Học sinh thì phải tự lực học tập, dành nhiều thời gian nghiên cứu, phối hợp thực hiện và sáng tạo
phương án làm việc hiệu quả từ đó phát huy được các yếu tố tư duy bậc cao. Xuất phát từ tính
mới mẻ của phương pháp và đặc thù sáng tạo của yêu cầu mà HS tham gia với thái độ rất hồ hởi,
hứng thú, tạo sự thành công nhất định trong hình thành tinh thần học tập vật lý hăng say của HS.
Bài học tiến hành theo mô hình DHDA, về căn bản cũng có nhiều khác biệt với tiến trình dạy
học truyền thống, đã thể hiện rõ chủ trương lấy HS làm trung tâm, đồng thời phần nào thỏa mãn
định hướng cá thể hóa trong dạy học. Chương “Các định luật bảo toàn” vật lý 10 THPT được tổ
chức theo mô hình DHDA đã phần nào thể hiện tính khả thi và hiệu quả vượt trội so với một số
phương pháp dạy học truyền thống hiện nay.
3.1.2. Nhận xét về tính tích cực, tự lực và kỹ năng làm việc theo nhóm của HS thông qua
dự án học tập
Qua quan sát, ghi chép và khảo sát, chúng tôi có những nhận xét định tính như sau:
Thứ nhất, các dự án học tập đã phát huy một cách nổi bật tính tích cực, tự lực của HS. Ở mỗi
tiết học, số lượng HS đưa ra chính kiến và nhận xét ngày càng nhiều và mạnh dạn hơn. Tính chủ
động thể hiện rõ rệt khi chính các em là người đề xuất các nội dung của kế hoạch và các tiêu chí
đánh giá giữa các nhóm. Số lượng những thắc mắc về kiến thức học tập cũng được các em thường
xuyên đưa ra để thảo luận với các bạn trong nhóm và với giáo viên hướng dẫn.
Thứ hai, các dự án học tập đã phát huy khả năng làm việc theo nhóm của học sinh một cách rõ
động độc lập và phối hợp trong nhóm học tập, qua đó nâng cao hiệu quả dạy học một cách chắc
chắn. DHDA là mô hình dạy học khả thi ở cấp độ THPT, có đầy đủ khả năng giúp HS lĩnh hội
kiến thức đồng thời tăng cường tính tích cực, tự lực và khả năng làm việc theo nhóm của HS.
3.2. Kết luận chương 3
Tuy còn nhiều khó khăn và nhiều điểm cần hoàn chỉnh nhưng quá trình TNSP cũng cho thấy
tính ưu việt của mô hình DHDA so với các phương pháp dạy học truyền thống. Điều kiện tiên
quyết để có được thành công từ DHDA là yếu tố con người. Người quản lý cần có cái nhìn toàn
diện về mô hình DHDA, người dạy cần có sự tìm hiểu nghiêm túc và chuẩn bị chu đáo mỗi khi tổ
chức một dự án học tập cho HS. Bên cạnh đó, việc lựa chọn dự án phù hợp với nội dung học tập,
và sự tinh tế trong phân chia nhóm học tập cũng đóng vai trò không nhỏ trong sự thành công của
DHDA.
Mở rộng ra, đề tài hướng đến khẳng định lợi ích từ việc triển khai rộng rãi mô hình DHDA ở
các môn học, các lớp học ở trường THPT, không phải như một phương pháp thay thế toàn diện
mà là một mô hình tổ chức linh hoạt, phù hợp với điều kiện môn học tạo cơ hội học tập công bằng
23
cho học sinh, vừa đảm bảo yêu cầu hướng đến HS là trung tâm quá trình dạy học vừa hướng đến
mục tiêu cá thể hóa trong dạy học.
KẾT LUẬN CHUNG
Dạy học không còn là quá trình truyền thụ kiến thức đơn thuần. Dạy học ngày nay đòi hỏi
không những cung cấp cho người học những kiến thức cần thiết mà còn xây dựng cho người học
các kỹ năng tư duy bậc cao, kỹ năng tự học, kỹ năng độc lập nghiên cứu và cả kỹ năng phối hợp
làm việc theo nhóm. Từ đó, định hướng dạy học là hướng đến tích cực hóa hoạt động của HS, tạo
cơ hội học tập công bằng cho HS, phát huy khả năng tiềm tàng của người học, giúp họ tự lực xây
dựng các kiến thức và phẩm chất cần thiết cho tương lai. DHDA là một mô hình dạy học thể hiện
rõ các quan điểm này.
DHDA là mô hình dạy học phức hợp, trong đó người học được lôi cuốn tham gia một cách
tích cực vào tìm hiểu một vấn đề hấp dẫn, vừa liên quan đến kiến thức cần học vừa liên quan đến
từ nhà quản lý giáo dục, xã hội đến người GV và HS. Nhưng yếu tố quan trọng nhất vẫn là sự
quyết tâm đổi mới và hướng đến các mục tiêu dạy học cao hơn của người GV.
Trong khuôn khổ giới hạn của đề tài, chúng tôi mới chỉ triển khai thực nghiệm được ở một lớp
của một trường THPT, do đó không tránh khỏi khiếm khuyết. Trong thời gian tới, với sự giúp đỡ
của nhà trường và đồng nghiệp, chúng tôi sẽ triển khai ở nhiều khối lớp, nhiều trường với nhiều
đối tượng khác nhau. Với hướng đi đó, chúng tôi tin tưởng đề tài sẽ đóng góp phần nào vào việc
đổi mới phương pháp dạy và học Vật lý ở trường THPT.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ GD – ĐT – Viện chiến lược phát triển GD – ĐT (1999), Dự thảo chiến lược phát triển đến
năm 2010, Hà Nội.
[2] Bộ Giáo dục và đào tạo (2007), Sách giáo khoa Vật lý 10, NXB Giáo dục.
25