Sự tuân thủ điều trị và kết quả điều trị ARV ở bệnh nhân đang điều trị ngoại trú tại các phòng khám ngoại trú của tỉnh ninh bình, năm 2012 - Pdf 39

CỤC PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Tên đề tài:
Đánh giá sự tuân thủ điều trị và một số kết quả điều trị ARV
ở bệnh nhân HIV/AIDS tại các phòng khám ngoại trú
tỉnh Ninh Bình năm 2012

Chủ nhiệm đề tài

: Bs. CKII. Hoàng Huy Phương

Cơ quan thực hiện

: Trung tâm PC HIV/AIDS tỉnh Ninh Bình

Cơ quan quản lý đề tài : Cục Phòng chống HIV/AIDS
Mã số đề tài

:

Năm 2012


CỤC PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Tên đề tài:
Đánh giá sự tuân thủ điều trị và một số kết quả điều trị ARV
ở bệnh nhân HIV/AIDS tại các phòng khám ngoại trú
tỉnh Ninh Bình năm 2012

- Ths. Tạ Thị Lan Hương
- Bs. Ngô Thị Ngọc Lan
- Bs. Ngô Thị Hồng
- Bs. Hoàng Thị Hồng Hạnh
- CN. Nguyễn Thị Nga
7. Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 6/2012 đến tháng 12/2012


MỤC LỤC
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ.....................................3
1.Tên đề tài: Đánh giá sự tuân thủ điều trị và một số kết quả điều trị ARV ở bệnh
nhân HIV/AIDS tại các phòng khám ngoại trú tỉnh Ninh Bình năm 2012.................3
2.Chủ nhiệm đề tài: Bs. CKII. Hoàng Huy Phương..................................................3
3.Cơ quan thực hiện đề tài: Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh Ninh Bình......3
4.Cơ quan quản lý đề tài: Cục Phòng, chống HIV/AIDS..........................................3
5.Thư ký đề tài: Ths. Tạ Thị Lan Hương...................................................................3
6.Danh sách những người thực hiện chính:..............................................................3
Bs.CKII. Hoàng Huy Phương....................................................................................3
Ths. Tạ Thị Lan Hương.............................................................................................3
Bs. Ngô Thị Ngọc Lan...............................................................................................3
Bs. Ngô Thị Hồng......................................................................................................3
Bs. Hoàng Thị Hồng Hạnh........................................................................................3
CN. Nguyễn Thị Nga.................................................................................................3
7. Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 6/2012 đến tháng 12/2012..........................3
MỤC LỤC.................................................................................................................. i
DANH MỤC CÁC BẢNG...........................................................................................i
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ....................................................................................ii
Phần A. TÓM TẮT CÁC KẾT QUẢ NỔI BẬT CỦA ĐỀ TÀI.....................................1
Phần B. NỘI DUNG BÁO CÁO CHI TIẾT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.....................3
ĐẶT VẤN ĐỀ............................................................................................................3

NTCH
NC
PKNT
TB
TCD4
TTĐT
TT PC
TTYT
UNAIDS

(Virus gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người)
: Nhiễm trùng cơ hội
: Nghiên cứu
: Phòng khám ngoại trú
: Tế bào
: Tế bào lympho T mang phân tử CD4
: Tuân thủ điều trị
: Trung tâm phòng chống
: Trung tâm y tế
: Chương trình phối hợp của Liên hợp quốc về HIV/AIDS
(Jont United Nations programme on HIV/AIDS)

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu .................................................24
Bảng 2. Tỷ lệ sử dụng rượu, bia và ma túy theo giới của ĐTNC (n = 375) ............26
Bảng 3. Thông tin về điều trị ARV của ĐTNC ........................................................27
Bảng 4. Thông tin về sự hỗ trợ trong điều trị ARV của ĐTNC ...............................28


ii

phỏng vấn, 7,5% bệnh nhân cho biết đã bỏ ít nhất một liều thuốc ARV, 31,7%
bệnh nhân uống thuốc sai giờ trên 1 tiếng ít nhất một lần và 5,1% bệnh nhân
đã uống thuốc ARV không đúng cách ít nhất một lần theo chỉ định của bác sỹ.
Kết hợp cả 3 điều kiện trên, tỷ lệ tuân thủ điều trị ARV của bệnh nhân trong
vòng 1 tuần trước thời điểm phỏng vấn là 65,1%.
Những yếu tố cản trở đối với việc tuân thủ điều trị ARV là: đi làm xa
nhà, có sử dụng rượu và còn đang dùng ma túy.
Những yếu tố tăng cường việc tuân thủ điều trị ARV bao gồm: sống
cùng vợ hoặc chồng, phác đồ điều trị đơn giản, có biện pháp nhắc nhở uống
thuốc và có kiến thức tốt về tuân thủ điều trị ARV. Nghiên cứu cũng tìm hiểu
các yếu tố có liên quan tới kiến thức về điều trị ARV của BN, kết quả cho
thấy nữ giới,người đang tham gia sinh hoạt tại các câu lạc bộ/nhóm giáo dục
đồng đẳng, người được tập huấn trước điều trị đầy đủ thì có kiến thức tốt hơn.
94,9% BN không có NTCH sau 6 tháng điều trị cao hơn nhiều so với tỷ
lệ BN không có NTCH trước điều trị (57,8%) (p
94%.
Hầu hết BN (>94%) có số lượng tế bào miễn dịch CD4 sau điều trị tăng
so với trước điều trị. Trung vị số lượng tế bào CD4 trước và sau điều trị 6
tháng tăng lên 105 tế bào/mm3, sau 12 tháng tăng lên 176 tế bào/mm 3, sau 24
tăng 277 tế bào/mm3, sau 36 tháng tăng 311 tế bào/mm 3 và sau 48 tháng tăng
334 tế bào/mm3 so với thời điểm trước điều trị (p
HIV, hơn 7.000 ca nhiễm mới mỗi ngày, 6 triệu người đang điều trị ARV tại
các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình [58].
Ở Việt Nam, chưa từng có dịch bệnh nào lây lan rộng khắp và kéo dài
như dịch HIV/AIDS [2]. Tính đến 30/6/2012, cả nước có 204.019 người
nhiễm HIV đang còn sống được báo cáo, trong đó có 58.569 bệnh nhân AIDS
còn sống và đã có 61.856 người chết do AIDS [10]. Dịch vẫn đang tiếp tục
lây lan trên đất nước ta với trên 10.000 người nhiễm mới mỗi năm; hơn 75%
số xã, phường; 98% quận, huyện; 100% tỉnh, thành phố báo cáo có người
nhiễm HIV [2], [32].
Với sự gia tăng nhanh chóng của số người nhiễm HIV và số người
chuyển sang giai đoạn AIDS, công tác chăm sóc, điều trị người nhiễm
HIV/AIDS ngày càng trở nên cấp thiết. Cho đến nay, phương pháp điều trị
bằng thuốc kháng retrovirus (ARV) vẫn là phương pháp hiệu quả nhất giúp
người nhiễm HIV/AIDS nâng cao sức khoẻ, kéo dài tuổi thọ, giảm tử vong,
giảm các bệnh NTCH và giảm sự lây truyền HIV cho người khác. Những
nghiên cứu gần đây đã cho thấy điều trị ARV cho người nhiễm HIV là liệu
pháp dự phòng tốt, đây là quá trình liên tục kéo dài suốt cuộc đời và đòi hỏi
sự tuân thủ điều trị tuyệt đối [5]. Tuân thủ điều trị là uống đúng thuốc, đúng
giờ, đúng liều lượng thuốc, đúng cách được chỉ định và uống đều đặn suốt đời
[4]. Tuân thủ điều trị giúp duy trì nồng độ thuốc ARV trong máu nhằm ức chế
tối đa sự nhân lên của HIV, đủ thời gian cho phép hệ miễn dịch được phục
hồi, từ đó phòng ngừa các bệnh nhiễm trùng cơ hội, cải thiện chất lượng sống
cho người bệnh và tăng tỷ lệ sống sót [5], [12]. Nếu không tuân thủ sẽ dẫn
đến việc nồng độ thuốc trong máu thấp, làm xuất hiện các đột biến của HIV
kháng thuốc và thất bại điều trị [3], [27].


4

Ninh Bình là tỉnh có số người nhiễm HIV tăng nhanh, số bệnh nhân



5

CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Tình hình dịch HIV/AIDS và chương trình chăm sóc, hỗ trợ, điều trị
HIV/AIDS trên thế giới, khu vực Châu Á và tại Việt Nam
1.1. Trên thế giới
Kể từ ca nhiễm HIV được phát hiện đầu tiên tại Mỹ từ năm 1981, cho
đến nay loài người đã trải qua 30 năm đối phó với một đại dịch quy mô lớn,
phức tạp; theo UNAIDS tính đến cuối năm 2010, có 34 triệu người đang bị
nhiễm HIV, riêng năm 2010 ước tính có 2,7 triệu ca nhiễm HIV mới và 1,8
triệu người tử vong do AIDS. So sánh với năm 1999, số người nhiễm mới
HIV đã giảm 22%. Hiện có hơn 6 triệu người đang điều trị ARV tại các nước
có thu nhập thấp và trung bình [8], [58].
Năm 1987, thử nghiệm điều trị đầu tiên với thuốc AZT
(Azydothimidine) được thực hiện.
Năm 1989 người ta đưa ra các hướng dẫn điều trị AZT cho những người
nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS trên cơ sở số lượng tế bào TCD4 của người
bệnh.
Đến năm 1996, thế giới bắt đầu sử dụng phác đồ điều trị phối hợp ít nhất
ba loại thuốc (HAART). Chương trình điều trị thuốc ARV từ đó đã làm giảm
đáng kể các trường hợp tử vong do AIDS, ước tính từ năm 1996 đến hết năm
2009 đã có khoảng 14,4 triệu năm tuổi thọ được cứu sống nhờ điều trị ARV
[33].
Khu vực cận Sahara Châu Phi tiếp tục phải gánh chịu những hậu quả
nặng nề hơn của dịch AIDS toàn cầu. Gần hai phần ba (63%) tổng số người
lớn và trẻ em đang sống với HIV trên toàn cầu là những người sống ở cận
Sahara Châu Phi. Tại khu vực này, 70% số người nhiễm HIV đang còn sống,
gần 37% người có đủ tiêu chuẩn điều trị đã được tiếp cận với ARV [33].

năm 2011. Song tỷ lệ hiện nhiễm HIV lại đang gia tăng ở những quốc gia vốn
có tỷ lệ hiện nhiễm thấp như Bangladesh, Pakistan (nơi tiêm chích ma túy là
hình thái lây truyền HIV chính) và Philippin. Hình thái lây truyền HIV tại
châu Á vẫn chủ yếu tập trung ở nhóm người tiêm chích ma túy, người bán
dâm, khách làng chơi và nam quan hệ tình dục đồng giới [8].
Ở Châu Á, số người đang được điều trị bằng thuốc ARV đã tăng gấp
chục lần kể từ năm 2003. Thái Lan là nước có cam kết và nhiều hành động
mạnh mẽ trong điều trị bằng thuốc ARV với hiệu quả về chi phí và kết quả


7

điều trị. Một số nước khác thuộc khu vực Tây Thái Bình Dương (bao gồm
Cam-pu-chia, Trung Quốc, Pa-pua Niu Ghinê) cũng đã xây dựng chương
trình chăm sóc, hỗ trợ và điều trị HIV/AIDS làm nền tảng cho việc mở rộng
điều trị thuốc kháng HIV với sự cam kết mạnh mẽ của Chính phủ về chỉ đạo,
tài chính và sự tham gia tích cực của các ban, ngành, đoàn thể trong xã hội
[33].
1.3. Ở Việt Nam
Số bệnh nhân AIDS và số ca tử vong có xu hướng giảm từ năm 2006,
do giai đoạn này số người được điều trị ARV tăng lên nhanh chóng.
Người

Năm

Biểu đồ 1. Số BN AIDS, tử vong mới và số lũy tích BN được điều trị ARV
tại Việt Nam từ năm 2004-2010 [13], [32]

Hệ thống chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng đã
được khởi động từ năm 1996, khi đó phạm vi chương trình điều trị ARV mới

Đến ngày 20/11/2012, số người nhiễm HIV còn sống của tỉnh là 2.304
người, trong đó số bệnh nhân AIDS còn sống là 807 người, phân bố trên cả
8/8 huyện, thị xã, thành phố; 140/146 xã, phường (chiếm 95,9% số xã
phường) phát hiện có người nhiễm. Huyện có lũy tích số người nhiễm HIV
cao nhất là huyện Kim Sơn (879 người), tiếp đến là huyện Hoa Lư (549 người
nhiễm) và TP Ninh Bình (495 người nhiễm) [28], [29].
Kết quả giám sát cho thấy, dịch HIV/AIDS ở Ninh Bình vẫn đang trong
giai đoạn dịch tập trung, tuy nhiên HIV bắt đầu lây lan ra cộng đồng, dịch có
xu hướng chững lại không tăng nhanh như những năm trước nhưng về cơ bản
chưa khống chế được dịch. Nhận thức của cộng đồng về HIV/AIDS được cải


9

thiện, số người tự nguyện đến tư vấn, xét nghiệm và đăng ký điều trị nhiễm
trùng cơ hội, ARV ngày một tăng, đến tháng 10/2012 số bệnh nhân AIDS
được điều trị ARV tại các phòng khám ngoại trú là 519 người (tăng gấp 18
lần so với năm 2007) [26], [29].
Từ năm 2005, Ninh Bình bắt đầu triển khai chương trình chăm sóc, hỗ
trợ và điều trị cho người nhiễm HIV. Số bệnh nhân được tiếp cận điều trị với
thuốc ARV ngày càng tăng, năm 2006 có 30 người, năm 2008 là 100 người,
năm 2010 là 310 người, năm 2012 là 519 người. Hiện chương trình điều trị
ARV được triển khai chủ yếu ở 2 phòng khám ngoại trú tại Trung tâm PC
HIV/AIDS tỉnh và Trung tâm Y tế huyện Kim Sơn [26].
Chương trình điều trị tuy mới được triển khai ở Ninh Bình, nhưng đã
nhận được sự đồng thuận cao của cộng đồng và gia đình người nhiễm do hiệu
quả điều trị mang lại. Tuy nhiên, công tác điều trị còn gặp nhiều khó khăn do
cơ sở vật chất và nguồn nhân lực cho phòng chống AIDS nói chung và cho
chương trình điều trị HIV/AIDS nói riêng còn hạn chế [26].
2.2. Những nghiên cứu về tuân thủ điều trị, kết quả điều trị và các yếu tố

khoảng 1,24 liều thuốc ARV trong tháng qua [40].
Nghiên cứu về kết quả điều trị ARV:
Tsertsvadze và cộng sự (2009) ở Geogia tiến hành nghiên cứu kết quả
điều trị ARV trên 594 BN cho kết quả: 55/594 trường hợp thất bại điều trị,
trong đó 47 trường hợp thất bại về vi rút học, 7 trường hợp thất bại về miễn
dịch, 1 trường hợp thất bại về lâm sàng; trong những trường hợp thất bại về vi
rút học thì có 72% là do kháng thuốc tự nhiên và 28% là do không tuân thủ
điều trị [57].
Tác giả Paterson và cộng sự nghiên cứu trên 81 bệnh nhân cho thấy
việc tuân thủ liên quan có ý nghĩa với kết quả về vi rút học (p
tình với quan điểm “có thể chống lại HIV mà không dùng thuốc”, 80% đồng ý
rằng nếu không uống ARV đúng liều lượng và đủ >95% thì HIV có thể kháng
lại thuốc [42].
Để nâng cao hiểu biết cho bệnh nhân, Wong IY và cộng sự đã xây
dựng một chương trình giáo dục cho bệnh nhân bằng cách sử dụng băng
video nhằm tăng sự hiểu biết của bệnh nhân về nguy cơ kháng thuốc ARV và
uống thuốc đúng cách, từ đó BN có ý thức tuân thủ uống thuốc tốt hơn. Kết
quả đánh giá sau khi xem băng video, hầu hết bệnh nhân đã nắm được cách sử
dụng thuốc và tác dụng phụ của thuốc. Tác giả cũng khẳng định đây là nền
tảng để giúp tăng cường sự tuân thủ của người bệnh [59].
• Sử dụng rượu bia, ma túy:
Nghiên cứu về các rào cản tuân thủ, tác giả Kalichman SC và cộng sự
đã nghiên cứu về sự liên quan giữa tuân thủ điều trị và việc sử dụng rượu bia
trên 145 BN điều trị ARV cho kết quả: 40% có sử dụng rượu bia trong quá
trình điều trị, trong đó 25% đã ngừng sử dụng thuốc kháng vi rút ARV khi họ
sử dụng rượu bia. Kết quả phỏng vấn cho thấy, mặc dù người bệnh biết việc
sử dụng rượu bia với ARV có thể dẫn tới bị ngộ độc, nhưng họ không thể cai
được rượu bia nên đã ngừng thuốc khi dùng rượu bia. Qua đây các tác giả
khuyến cáo rằng, thầy thuốc cần phải thường xuyên giáo dục cho BN hiểu
rằng, họ cần phải tiếp tục uống thuốc ARV ngay cả khi họ vẫn đang sử dụng
rượu [45].
Lopez E và cộng sự tiến hành nghiên cứu năm 2007 so sánh sự tuân thủ
ARV giữa 2 nhóm: đang sử dụng thuốc gây nghiện và không sử dụng chất
gây nghiện cho kết quả: sự tuân thủ ở nhóm không sử dụng chất gây nghiện
tốt hơn so với nhóm kia [48].
Nghiên cứu của nhiều tác giả khác trên thế giới cũng đưa ra kết luận: sử
dụng rượu bia, ma túy có liên quan với sự tuân thủ điều trị ARV kém ở người
nhiễm HIV [39], [42], [43]. Theo các tác giả, những người uống rượu, ma túy
có khả năng hay quên thuốc ARV hơn, điều này dẫn tới việc giảm nồng độ
thuốc và giảm sự tuân thủ điều trị.

có mối quan hệ tốt và kỹ năng nói chuyện với bệnh nhân, phát hiện các rào
cản của bệnh nhân, có kỹ năng tư vấn tuân thủ tốt và hiệu quả của các dịch vụ
sẵn có - là những yếu tố tích cực làm tăng cường khả năng tuân thủ của bệnh
nhân [49].
Chesney MA cũng đưa ra kết luận tương tự: mối quan hệ không tốt với
người cung cấp dịch vụ; hệ thống y tế không đáp ứng được nhu cầu hiện tại


14

của bệnh nhân... là những yếu tố liên quan có ý nghĩa tới sự tuân thủ điều trị
ARV kém ở bệnh nhân HIV/AIDS [41].
2.2.2. Nghiên cứu tại Việt Nam
Các nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy tỷ lệ BN tuân thủ điều trị ARV
trung bình khoảng 60%, dao động tùy từng nghiên cứu và đối tượng nghiên
cứu. Nhiều yếu tố có mối liên quan đến TTĐT đã được các nghiên cứu kết
luận như các yếu tố về nhân khẩu học, yếu tố về kiến thức và hành vi cá nhân,
gia đình, người hỗ trợ, cộng đồng...
Nghiên cứu về mức độ tuân thủ điều trị:
Kết quả nghiên cứu trên 163 bệnh nhân tại 8 quận của Hà Nội năm
2007 tìm hiểu sự tuân thủ uống thuốc ARV bằng phương pháp phỏng vấn trực
tiếp bệnh nhân nhớ lại hành vi uống thuốc trong vòng 1 tháng, 3 tháng và 6
tháng vừa qua cho kết quả: trong vòng 6 tháng tỷ lệ quên hoặc uống muộn là
58,3%, tỷ lệ này trong vòng 3 tháng là 54%, trong vòng 1 tháng là 46% [18].
Nghiên cứu tương tự tại quận 10 TP Hồ Chí Minh năm 2009, phỏng
vấn trực tiếp 400 bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên hệ thống từ danh sách
bệnh nhân đang điều trị tại PKNT quận 10 cho kết quả tỷ lệ tuân thủ điều trị
trong vòng 1 tháng qua là 67% [15].
Nghiên cứu của Võ Thị Năm và cộng sự năm 2009 trên 267 bệnh nhân
đang điều trị ARV được từ 6 tháng trở lên tại 5 PKNT tại TP Cần Thơ cho kết

quả: cân nặng trung bình của bệnh nhân so với thời điểm bắt đầu điều trị tăng
2 kg; tỷ lệ bệnh nhân duy trì phác đồ bậc 1 sau 12 tháng là 89,8%, sau 24
tháng là 87,1%; số lượng tế bào CD4 tăng nhanh theo khoảng thời gian được
sử dụng thuốc: số lượng tế bào CD4 trung bình khi bắt đầu điều trị là 131,7
TB/mm3 máu, sau 6 tháng điều trị tăng lên là 245 TB/mm 3 máu, sau 12 tháng
là 274 TB/mm3 máu, sau 18 tháng là 371 TB/mm 3 máu, sau 24 tháng là 395
TB/mm3 máu [22].
Trong một nghiên cứu khác tại 30 phòng khám ngoại trú được lựa chọn
ngẫu nhiên tại một số tỉnh, thành phố ở Việt Nam do Cục PC HIV/AIDS thực
hiện năm 2010 đưa ra kết luận: tỷ lệ duy trì điều trị ARV tương đối tốt sau 12
tháng nhưng thấp hơn ở nhóm nghiện chích ma túy, sau 6 tháng trung vị CD4
tăng thêm 91 tế bào/mm3 máu, sau 12 tháng tăng thêm 137 tế bào, sau 24
tháng tăng 206 tế bào; phần lớn BN ít có biểu hiện tác dụng phụ, tuy nhiên có
thể do việc ghi chép theo dõi tác dụng phụ chưa được thường quy [13].


16

Nghiên cứu tại Thanh Hóa năm 2010 ở trên cũng đưa ra kết quả: sau 6
tháng điều trị, 85,2% bệnh nhân đã hết nhiễm trùng cơ hội, trung bình cân
nặng tăng 3,1kg; trung vị số lượng TCD4 tăng 153 TB/mm3. 67,2% bệnh
nhân đã cho kết quả điều trị tốt: tăng cân, không có nhiễm trùng cơ hội, tăng
số lượng TCD4 [27].
Nghiên cứu đánh giá kết quả chương trình điều trị ARV tại huyện Mai
Sơn, tỉnh Sơn La giai đoạn 2009-2010 cho kết quả: 73% BN có cân nặng tăng
sau 6 tháng điều trị và duy trì ở tỷ lệ 73% tại thời điểm sau 12 tháng điều trị;
87,3% BN không còn biểu hiện NTCH sau 6 tháng điều trị và duy trì tỷ lệ
87,3% tại thời điểm sau 12 tháng điều trị; tỷ lệ BN có số lượng tế bào CD4
tăng sau 6 tháng điều trị là 93,7%, sau đó giảm nhẹ tại thời điểm sau 12 tháng
điều trị 88,9% [30].

cho thấy: phần lớn BN nắm được các nguyên tắc phối hợp thuốc và tác dụng
phụ của thuốc. Hầu hết BN biết nguyên tắc uống thuốc đúng giờ. Tác hại do
không TTĐT là: “gây chủng kháng thuốc”: 62,6%, “không ức chế sự tăng
sinh vi rút”: 57,1%. Gần 98% BN biết cần phải uống thuốc 2 lần/ngày và
khoảng cách giữa 2 lần uống là 12 tiếng. Nghiên cứu cũng đưa ra bằng chứng
có ý nghĩa về mối liên quan giữa tuân thủ điều trị với kiến thức tốt về điều trị
và tuân thủ điều trị ARV (p
19

Nghiên cứu tại Thanh Hóa cho kết quả những bệnh nhân có sự hỗ trợ
tích cực từ phía người nhà trong quá trình điều trị sẽ tuân thủ tốt hơn 2,9 lần
những người không được hỗ trợ tích cực (p


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status