1
2
3
Đặt vấn đề
Chấn thương sọ não (CTSN) là một chấn thương thường gặp với tỷ
lệ tử vong cao và hay để lại di chứng nặng. Theo một nghiên cứu tại
Pháp năm 1999, chấn thương sọ não nặng có tỷ lệ tử vong hoặc sống
trong tình trạng thực vật là 41%. Thở máy là biện pháp hồi sức hô hấp
được ưu tiên hàng đầu trong điều trị chấn thương sọ não nặng với mục
đích bảo vệ đường thở, duy trì chức năng hô hấp và chống tăng áp lực
nội sọ. Tuy nhiên, thở máy kéo dài có thể gây ra một số tai biến, biến
chứng nguy hiểm như tổn thương cơ học đường thở và phế nang, viêm
phổi thở máy…
Để giảm bớt các biến chứng do thở máy, người thầy thuốc thường
muốn kết thúc thở máy sớm ngay khi tình trạng bệnh nhân cho phép.
Phần lớn bệnh nhân thở máy (70-80%) có thể kết thúc thở máy dễ dàng
(ngưng thở máy). Số còn lại (20-30%) cần có thời gian cho bệnh nhân
phục hồi lại khả năng tự thở, sau đó mới có thể bỏ máy và rút ống nội
khí quản (ÔNKQ), quá trình này được gọi là cai thở máy (CTM). Theo
Tobin, cai thở máy chỉ được coi là thành công sau khi bệnh nhân được
bỏ máy thở và rút ống nội khí quản an toàn. Đây là hai giai đoạn của
quá trình cai thở máy, có đặc điểm sinh lý bệnh riêng nhưng có liên
quan chặt chẽ với nhau. Tuy nhiên, trong các trường hợp thở máy
chung, nhiều tác giả có quan điểm cho rằng cai thở máy thành công
đồng nghĩa với việc bỏ được máy thở do việc rút ÔNKQ thường thuận
lợi sau khi BN đã tự thở tốt. Còn trên các bệnh nhân chấn thương sọ
não nặng, có nhiều trường hợp sau khi bỏ được máy thở vẫn không thể
rút ống nội khí quản ngay được mà phải duy trì ống tại chỗ một thời
gian do tình trạng ý thức và đường thở không cho phép. Rõ ràng, rút
được ống nội khí quản mới thực sự kết thúc quá trình thở máy trên các
bệnh nhân này.
nói chung.
Cấu trúc của luận án
Luận án có 133 trang bao gồm: Đặt vấn đề 2 trang;Tổng quan tài
liệu 32 trang; Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 20 trang; Kết quả
nghiên cứu 37 trang; Bàn luận 38 trang; Kết luận và kiến nghị 3 trang;
Có 39 bảng, 11 biểu đồ, 6 hình và 3 sơ đồ. Tài liệu tham khảo có 161
bài (15 tài liệu tiếng Việt và 146 tài liệu tiếng Anh-Pháp). Phụ lục và
danh mục các công trình của tác giả;.
5
Chương 1: Tổng quan
1.1. Chấn thương sọ não nặng
Chấn thương sọ não thường được phân loại ban đầu theo mức độ
hôn mê thể hiện qua điểm Glasgow Coma Scale (GCS). Giá trị nhỏ
nhất của thang điểm này là 3 và lớn nhất là 15. Khi BN có GCS ≤ 8
được coi là CTSN nặng, GCS từ 9 – 12 là vừa và GCS ≥ 13 là nhẹ.
Ngày nay, việc chẩn đoán và theo dõi một BN CTSN nặng thường
dựa trên các khám xét lâm sàng, CT Scan sọ não, ALNS, siêu âm
Doppler xuyên sọ, độ bão hòa oxy tĩnh mạch cảnh trong và một số kỹ
thuật hiện đại khác (đo oxy tổ chức não, điện não liên tục…).
Vấn đề điều trị tăng ALNS được đặt lên hàng đầu trong giai đoạn
cấp tính bao gồm 3 nhóm biện pháp chính: điều trị ngoại khoa, hồi sức
cơ bản và hồi sức tích cực chống tăng ALNS tiến triển.
Chỉ định thở máy trong CTSN nặng được đặt ra trên những BN có
biểu hiện suy hô hấp rõ (lâm sàng - cận lâm sàng) và/hoặc có hôn mê
với Glasgow ≤ 8 điểm. Thời gian thở máy đối với các BN có tổn
thương não nặng có thể kéo dài với các thuốc an thần, giảm đau liều
cao.
1.2. Cai thở máy trong chấn thương sọ não nặng
1.2.1. Khái niệm về các giai đoạn của quá trình cai thở máy chung
Theo Tobin, một chuyên gia hàng đầu về thở máy, CTM là một quá
> 70 mmHg hay
SpO2 > 95% với PEEP < 5 cmH
2
O và FiO
2
≤ 0,4 hoặc PaO
2
/ FiO
2
>
200 . Tuy nhiên, việc áp dụng các tiêu chuẩn sẵn sàng CTM này cho
các BN CTSN nặng đã gặp phải một số khó khăn do còn thiếu những
chỉ số đặc hiệu. Một số tác giả cho rằng, ngoài những thông số cơ bản
về hô hấp, tình trạng ý thức và đường thở cũng cần được đưa vào bảng
tiêu chuẩn này. Ngoài ra, chỉ số ALNS < 20 mmHg trong vòng 24 – 48
giờ hay hình ảnh bể đáy nhìn thấy rõ, không bị chèn ép hay xóa mờ trên
CT Scan cũng được coi là một tiêu chuẩn khách quan, phản ánh tình
trạng ổn định về thần kinh để sẵn sàng CTM cho các trường hợp này.
Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có một bảng tiêu chuẩn thống nhất về
các chỉ số thần kinh để có thể đánh giá chính xác khả năng sẵn sàng
CTM cho nhóm BN này.
Việc thực hiện bỏ máy thở cần được tiến hành ngay sau khi BN đáp
ứng được các tiêu chuẩn sẵn sàng CTM. Có hai phương thức để thực
hiện bỏ máy thở, có thể cho BN tự thở ngay qua ÔNKQ (thử nghiệm tự
thở - SBT: Spontaneous Breathing Trial) hoặc giảm dần sự hỗ trợ của
máy trong vài giờ đến vài ngày trước khi bỏ máy bằng các chế độ thở
phù hợp (PSV, SIMV, CPAP). Lựa chọn cách làm nào là tùy thuộc vào
tình trạng BN, kinh nghiệm của bác sỹ, trang thiết bị hiện có của khoa
phòng… Đối với BN tổn thương não có rối loạn hoạt động hô hấp do
nguyên nhân trung tâm, chế độ thở SIMV kết hợp với PS có lẽ hợp lý
yếu thực hiện dựa trên kinh nghiệm và cách làm của từng bệnh viện.
Thủ thuật mở khí quản đã trở thành một can thiệp ngày càng phổ
biến tại các khoa hồi sức chung cũng như hồi sức thần kinh nói riêng.
Ngày nay sẽ là không hợp lý khi các bác sỹ kiên trì để ÔNKQ ở những
BN cai thở máy khó, trong khi không có chỉ định rút. Điều này rất hay
gặp trên các BN CTSN nặng, hôn mê kéo dài không thể bỏ máy và rút
8
ÔNKQ được. Tỷ lệ mở khí quản trên các BN hồi sức thần kinh thường
cao hơn so với nhóm BN khác. Một số nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ này
dao động từ 16 – 29% ở BN thần kinh trong khi ở BN hồi sức ngoại
chung chỉ là 2,9% . Về thời điểm mở khí quản cho BN CTSN phải thở
máy, các hội nghị về CTM vẫn chưa đưa ra được một mốc thời gian cụ
thể. Một vài nghiên cứu gợi ý nên thực hiện sớm (từ 7 – 10 ngày đầu)
do giảm được các biến chứng liên quan đến đặt ÔNKQ kéo dài. Tuy
nhiên một số khác thì lại cho rằng nên thử rút ÔNKQ trước nếu không
được hãy xem xét mở khí quản. Hiệu quả của mỗi cách làm này còn
nhiều ý kiến trái chiều và hầu hết những nghiên cứu này đều hạn chế về
mặt phương pháp nghiên cứu.
1.3. Các chỉ số tiên lượng kết quả cai thở máy
Các chỉ số tiên lượng có vai trò quan trọng trong quá trình thực
hiện CTM, nó cho phép giảm thiểu sự phụ thuộc của kết quả CTM vào
kinh nghiêm hay khả năng chuyên môn của từng cá nhân bác sỹ. Dựa
vào các chỉ số này, người ta có thể xác định đúng thời điểm BN có khả
năng tự thở lại và duy trì hô hấp tự nhiên. Điều này giúp tránh được cả
hai xu hướng CTM sớm hoặc muộn quá, đều có nguy cơ làm tăng tỷ lệ
các biến chứng liên quan đến thở máy. Thông qua các chỉ số này, người
thầy thuốc còn có thể đánh giá được mức độ hồi phục của các cơ quan
trong cơ thể, hiểu rõ được nguyên nhân CTM thất bại trên từng BN và
đề ra cách giải quyết hợp lý nhất.
1.3.1. Các phương pháp nghiên cứu về tiên lượng cai thở máy
xuất hay tỷ suất chênh hiệu chỉnh (OR: odd adjusted) của mỗi bệnh
nhân khi được cai thở máy thành công là bao nhiêu.
1.3.2. Các chỉ số tiên lượng kết quả bỏ máy thở
Bao gồm các chỉ số tiên lượng được khả năng tự thở của BN không
cần sự hỗ trợ của máy. Đó là các nhóm chỉ số đánh giá tình trạng oxy
hóa máu (PaO
2
, SaO
2
, PaO
2
/FiO
2
), chỉ số thông khí ngoài (f, Ve, Vt,
f/Vt) và cơ học hô hấp (Cst), sức các cơ hô hấp (Pimax), hoạt động hô
hấp gắng sức (P
0.1
) và các chỉ số kết hợp (CROP,WI).
1.3.3. Các chỉ số tiên lượng kết quả rút ống nội khí quản
Bao gồm các chỉ số tiên lượng được khả năng duy trì đường thở
thông thoáng sau khi rút ÔNKQ. Đó là nhóm các chỉ số đánh giá sức ho
(Pemax, CPF), tình trạng ý thức (điểm Glasgow), tình trạng đường thở
(số lượng đờm, phản xạ ho).
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
10
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Những BN chấn thương sọ não nặng điều trị tại khoa Hồi sức tích
cực - (Bệnh viện 175) và khoa Hồi sức ngoại - (Bệnh viện nhân dân
115) từ tháng 1/2009 đến tháng 2/2011.
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
(2007). Bác sỹ điều trị là người quyết định thời điểm bắt đầu CTM dựa
trên các tiêu chuẩn chung về lâm sàng, cận lâm sàng. Trước các thời
n =
11
điểm bỏ máy thở và rút ÔNKQ, bác sỹ trong nhóm nghiên cứu được
thông báo và tiến hành thu thập, đo đạc các chỉ số nghiên cứu. Các
trường hợp thất bại phải cho thở máy lại hoặc đặt lại ÔNKQ cũng được
quyết định bởi bác sỹ điều trị. Bác sỹ trong nhóm nghiên cứu ghi nhận
lại nguyên nhân, triệu chứng tại thời điểm thất bại.
2.2.1. Khảo sát đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu
Bao gồm các yếu tố dịch tễ học (tuổi, giới, nguyên nhân gây CTSN,
hiện diện của yếu tố rượu bia), chỉ số về độ nặng SAPS II (Simplified
Acute Physiology Score), biểu hiện thần kinh và hình ảnh CT Scan sọ
não khi vào viện, một số biện pháp điều trị và biến chứng trong khi
điều trị, thời gian liên quan đến thở máy và cai thở máy, kết quả điều trị
cuối cùng.
2.2.2. Khảo sát các chỉ số tiên lượng kết quả bỏ máy thở
Kết quả bỏ máy thở được đánh giá sau khi tiến hành bỏ máy thở để
BN tự thở qua ống T với lưu lượng oxy khoảng 5 - 8 lít/phút. Thời gian
để BN tự thở qua ống chữ T được quyết định bởi bác sỹ điều trị,
khoảng thời gian này thường ≥ 2 giờ. Nếu BN tự thở tốt (không xuất
hiện các triệu chứng không thích ứng) cho đến khi được rút ÔNKQ thì
được coi là thành công. Nếu BN xuất hiện một trong các triệu chứng
không thích ứng trong khoảng thời gian này thì được coi như thất bại,
phải cho thở máy lại với chế độ thích hợp (PS, SIMV, A/C). Các triệu
chứng này biểu hiện bằng các rối loạn về tuần hoàn (mạch > 140
lần/phút, HA tăng > 160 mmHG…), hô hấp (thở gắng sức, tần số > 35
lần/phút, SaO
2
< 90%) và thần kinh (ý thức xấu đi, rối loạn thần kinh
2.2.4. Xử lý số liệu
Các số liệu thu thập được xử lý và phân tích bằng phần mềm thống
kê SPSS for Window (phiên bản 17.0). Dùng phương pháp hồi quy
Logistic để khảo sát yếu tố tiên lượng: những biến số có mối liên quan
với kết quả điều trị được đưa vào phân tích hồi quy đơn biến. Tất cả các
biến được lọc ra ở bước hồi quy đơn biến sẽ được đưa vào phân tích hồi
quy đa biến logistic (Multiple Logistic Regression). Một số chỉ số cũng
được phân tích ở 2 nhóm bỏ máy / rút ÔNKQ thành công và thất bại
như một test chẩn đoán kết quả bỏ máy / rút ÔNKQ để tìm độ nhạy, độ
đặc hiệu.
13
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Từ tháng 1/2009 đến tháng 12/2010 có 105 BN CTSN nặng
phải thở máy tại hai khoa hồi sức (Bệnh viện 175 và Bệnh viện nhân
dân 115) đủ tiêu chuẩn vào nghiên cứu.
3.1. Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu
3.1.1. Đặc điểm chung
Tuổi trung bình của BN trong nghiên cứu là 33,8 ± 12,6 với số BN
ở độ dưới 50 chiếm 89,6%. BN nam giới chiếm đa số 86/105 BN
(82%), BN nữ giới có 19/105 BN (18%).
Nguyên nhân gây CTSN do tai nạn giao thông có 88/105 BN
(83.8%), tai nạn sinh hoạt 11/105 BN (10,5%) và tai nạn lao động
6/105 BN (5,7%).
3.1.2. Đặc điểm liên quan đến các bệnh nhân có theo dõi ALNS
Bảng 3.8: Một số đặc điểm liên quan đến thủ thuật đặt catheter
Đặc điểm Số BN Tỷ lệ (%)
Liên quan với
CĐ phẫu thuật
Có mổ 17 48,6
Không mổ 18 51,4
Trong tổng số 105 BN nghiên cứu có 88 BN được bỏ máy thành
công ở lần đầu tiên chiếm 83,9% và 17 BN thất bại ở lần đầu tiên chiếm
16,1%.
Bảng 3.16: Chỉ số cơ học phổi và các chỉ số thông khí ngoài
Chỉ số Sau khi bỏ
máy 30 phút
Bỏ máy thở thành
công (n=88)
Bỏ máy thở thất
bại (n=17)
p
X
± SD
X
± SD
V
E
(L/phút)
10,1±2,1 10,3±2,3
>0,05
f (lần/phút)
24,6±4,1 27,8±5,6
<0,05
Vt (ml)
408±93 352±115
<0,05
f/Vt
63,8±25,8 81,6±61,9
<0,05
Bảng 3.17: Các chỉ số về áp lực nội sọ, áp lực tưới máu não và GCS
bỏ máy (
X
± SD)
(mmHg)
69,2±12,8 68,3±11,4 - -
>0,0
5
GCS
trước bỏ
máy
X
± SD
8,4±0,7 7,7±0,5 - -
<0,0
5
≥ 8
< 8
70
18
8
9
3,26
0,11
-
0,73
<0,0
5
Bảng 3.21: Kết quả phân tích hồi quy đa biến logistic
Chỉ số OR CI 95% p
f sau 30 phút 0,17 0,04-0,41 > 0,05
Độ
nhạy
Độ
đặc
hiệu
Tiên
đoán
(+)
Tiên
đoán
(-)
LR
Áp lực nội sọ
(mmHg)
< 20 0,90 0,80 0,96 0,57 4,5
GCS ≥ 8 0,80 0,53 0,69 0,83 1,47
3.3. Giá trị tiên lượng kết quả rút ống nội khí quản của các chỉ số
nghiên cứu
Trong tổng số 105 BN có 102 trường hợp được rút ÔNKQ sau khi
bỏ máy và tự thở tốt (có 3 BN phải mở khí quản trước đó). Số BN rút
ÔNKQ thành công lần đầu tiên là 84/102 chiếm 82,4%; số thất bại ở
lần rút đầu tiên là 18/102 chiếm 17,6%.
Bảng 3.27: Kích thước ÔNKQ và biến chứng trong khi điều trị
Chỉ số
Rút NKQ
thành công
(n=84)
Rút NKQ
thất bại
(n=18)
10
8
1,89
0,67
-
5,35
>0,0
5
RL điện
giải
Không
Có
68
16
11
7
2,7
0,91
-
8,07
>0,0
5
Viêm phổi
Không
Có
72
12
13
5
2,31
GCS
X
± SD 8,5±0,7 7,8±0,9 - -
<0,0
1
≥ 8
< 8
77
7
12
6
3,24
0,05-
0,64
<0,0
5
Phản xạ
ho
(+)
(-)
71
13
10
8
1,05
0,11-
0,95
<0,0
5
Thử
≥ 4 giờ
2-4 giờ
66
18
8
10
2,41
1,21-
9,66
<0,0
1
18
Bảng 3.32: Kết quả phân tích hồi quy đa biến logistic
Chỉ số OR CI 95% p
Kích thước ống NKQ 0,91 0,15-1,71 >0,05
GCS trước khi rút 3,18 0,04-0,4 <0,05
Phản xạ ho 1,01 0,13-0,86 >0,05
Thử nghiệm bơm nước
muối
3,72 1,97-13,4 <0,05
Thời gian giữa 2 lần hút
đờm
2,31 1,33-8,71 <0,05
Bảng 3.34: Độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương tính -
âm tính, LR của GCS ở các ngưỡng khác nhau
Chỉ số Ngưỡng
Độ
nhạy
Độ
đặc
nước muối (+)
0,73 0,85 0,90 0,36
2,0-
13,8
T giữa 2 lần hút đờm
(>4h)
0,78 0,56 0,75 0,35
2,0-
14,8
19
Chương 4: Bàn luận
4.1. Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu
4.1.1. Đặc điểm dịch tễ học
Số BN ở độ tuổi nhỏ dưới 50 chiếm đa số (90%) trong nghiên
cứu, với độ tuổi trung bình là 33,8 ± 12,6 và tỷ lệ nam giới là 82%. Đây
là một đặc trưng của các BN CTSN ở Việt nam cùng với nguyên nhân
gây ra chấn thương thường do tai nạn giao thông. Số BN bị CTSN do
tai nạn giao thông trong nghiên cứu của chúng tôi là 83,8%, còn lại là
do tai nạn lao động và tai nạn sinh hoạt. Tỷ lệ BN nam giới, trẻ tuổi bị
CTSN do tai nạn giao thông cũng thường là đặc điểm dịch tễ chung mà
các tác giả trong nước đưa ra trong các nghiên cứu về vấn đề này.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã ghi lại điểm SAPS II (Simplified
Acute Physiology Score II) lúc vào viện nhằm xem xét giá trị tiên
lượng kết quả CTM của chỉ số này. Điểm trung bình SAPS II của
nghiên cứu là 26,7 ± 4,5. Kết quả này tương đương với nghiên cứu của
Coplin và của Navalessi có SAPS II là 27,5. Theo giá trị của chỉ số này
thì BN trong nghiên cứu của chúng tôi ở mức độ nặng nhưng chưa ảnh
hưởng đến chức năng sinh tồn. Tuy vậy, đánh giá này tỏ ra không
tương xứng với mức độ trầm trọng về sọ não của BN (GCS ≤ 8 điểm).
Trong nghiên cứu của chúng tôi, đối tượng nghiên cứu là các
thuật, chỉ có 2 trường hợp nhiễm trùng tại chỗ quanh chân catheter.
Nghiên cứu của Harris (2002) trên 146 BN được đặt catheter trong nhu
mô não cũng cho thấy tỷ lệ tai biến rất thấp. Thủ thuật được thực hiện
trên 120 trường hợp bởi các bác sỹ hồi sức trong đó có 33 trường hợp
cần sự có mặt của các BS ngoại thần kinh. Tác giả không ghi nhận các
biến chứng liên quan như chảy máu trong sọ hay nhiễm trùng nặng .
Một nghiên cứu khác của Bochichio (1996) tiến hành trên 120 BN được
đặt catheter nhu mô não bởi các bác sỹ hồi sức. Ngoài việc ghi nhận tỷ
lệ biến chứng liên quan tương đương với các nghiên cứu khác do bác sỹ
ngoại thần kinh thực hiện. Tác giả còn nhận thấy tỷ lệ tai biến, biến
chứng do thủ thuật này còn thấp hơn tỷ lệ tai biến của thủ thuật đặt
catheter tĩnh mạch trung tâm, một kỹ thuật thường quy ở khoa hồi sức .
Tóm lại, đây là một kỹ thuật đơn giản, có thể làm tại khoa hồi sức bởi
các bác sỹ không chuyên khoa ngoại thần kinh, với tỷ lệ thành công cao
và ít tai biến, biến chứng liên quan.
21
4.2. Giá trị tiên lượng kết quả bỏ máy thở của các chỉ số nghiên cứu
4.2.1. Kết quả bỏ máy thở
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 17/105 BN (16,1%) trong
nghiên cứu của chúng tôi thất bại sau khi được bỏ máy thở. Đây là tỷ lệ
khá thấp khi so với các kết quả trên BN thở máy ở hồi sức chung nhưng
tương đương với tỷ lệ bỏ máy thất bại của Vallverdu trên BN thần kinh
(9%). Tác giả cũng ghi nhận tỷ lệ có tới 60,6% số BN bị COPD phải
lắp lại máy thở sau bỏ máy thất bại. Theo Stevens, giai đoạn bỏ máy
trên các BN tổn thương não thường thuận lợi hơn so với nhóm BN thở
máy khác nếu tình trạng thần kinh ổn định và không có các biến chứng
về hô hấp, tim mạch.
4.2.2. Kết quả phân tích đơn biến và đa biến
Qua bước phân tích đơn biến các chỉ số lâm sàng (mạch, HA, nhịp
thở, SpO
cao 0,87 ở ngưỡng f/Vt = 68. Kết quả này cho thấy có thể sử dụng chỉ
số này ở ngưỡng 68 để tiên lượng các BN bỏ máy thành công sau khi
thực hiện giai đoạn này 30 phút chứ không sử dụng như là test sàng lọc
như ở các nghiên cứu khác.
4.2.5. Điểm Glasgow Coma Scale
Kết quả phân tích hồi quy đa biến logistic tại bảng 3.21 cũng
cho thấy GCS là một trong 3 yếu tố tiên lượng độc lập kết quả bỏ máy
thở với tỷ suất chênh OR = 1,65. So với tỷ suất chênh OR của f/Vt và
ALNS là 2,61 và 5,19; rõ ràng giá trị tiên lượng của điểm GCS không
cao bằng.
Kết quả tại bảng 3.23 cho thấy giá trị độ nhạy 0,80; độ đặc hiệu
0,53; LR 1,47 và diện tích dưới đường cong ROC 0,734 (biểu đồ 3.10)
của GCS ở ngưỡng 8 điểm. Với giá trị độ nhạy khá cao nhưng độ đặc
hiệu chỉ ở mức thấp như vậy, chúng tôi thấy rằng có thể sử dụng GCS
kết hợp với chỉ số f/Vt vừa nêu trên làm cơ sở để ra quyết định lâm
sàng. Trên thực tế, điểm GCS ≥ 8 trước khi bỏ máy nên được coi như
một tiêu chuẩn để sàng lọc chọn ra các BN có khả năng bỏ máy thở.
Sau đó, chỉ số f/Vt ở thời điểm sau khi bỏ máy 30 phút được sử dụng
với mục đích xác định những BN có thể tự thở tốt sau khi bỏ máy ≥ 2
giờ.
4.2.6. Áp lực nội sọ
Theo dõi giá trị ALNS trước khi bỏ máy thở cho thấy chỉ số
trung bình trên các BN bỏ máy thất bại cao hơn có ý nghĩa so với các
trường hợp thành công (22,6±2,0 so với 19,7±1,8 với p < 0,01) (bảng
23
3.17). Tuy nhiên, giá trị ALTMN vẫn được duy trì trên 60 mmHg và
khác nhau không có ý nghĩa giữa hai nhóm bỏ máy thành công và thất
bại (69,2±12,8 và 68,3±11,4; p > 0,05). Phân tích kết quả nghiên cứu
theo dạng bảng 2 x 2 nhằm so sánh kết quả bỏ máy giữa các BN có
ALNS < 20 và ≥ 20 mmHg cũng cho thấy có sự khác nhau có ý nghĩa
ngoại vi, sinh hóa máu, khí máu động mạch), chúng tôi nhận thấy chỉ
có f, Vt, f/Vt, Glasgow và ALNS trước khi bỏ máy là có liên quan đến
kết quả bỏ máy thở.
Đưa các chỉ số trên vào phân tích hồi quy đa biến logistic thì thấy
chỉ còn Glasgow trước khi rút ÔNKQ, thử nghiệm bơm nước muối,
thời gian giữa 2 lần hút đờm là những chỉ số tiên lượng độc lập kết quả
rút ÔNKQ cho các BN trong nghiên cứu.
4.3.6. Điểm Glasgow Coma Scale
Khác với giai đoạn bỏ máy thở, điểm GCS là một chỉ số được
quan tâm nghiên cứu và có giá trị tiên lượng cao trong giai đoạn rút
ÔNKQ. Kết quả tại bảng 3.29 cho thấy điểm GCS trung bình ở nhóm
rút ÔNKQ thành công (8,5±0,7) cao hơn có ý nghĩa so với nhóm thất
bại (7,8 ± 0,9) với p < 0,05. Phân tích kết quả nghiên cứu theo dạng
bảng 2 x 2 nhằm so sánh kết quả rút ÔNKQ giữa các BN có GCS < 8
và ≥ 8 cũng cho thấy có sự khác nhau có ý nghĩa (p < 0,05 tại bảng
3.29). Kết quả phân tích hồi quy đa biến logistic tại bảng 3.32 cho thấy
GCS là một trong 3 yếu tố tiên lượng độc lập kết quả rút ÔNKQ với
OR = 3,18. Kết quả này trùng hợp với kết quả của Namen khi tác giả
nhận thấy GCS là yếu tố tiên lượng độc lập có giá trị nhất qua các phép
phân tích thống kê . Nghiên cứu của Mokhlesi và cộng sự trên 122 BN
cũng cho thấy GCS < 10 là yếu tố tiên lượng độc lập khả năng rút
ÔNKQ thất bại với OR = 13. Các tác giả này cho rằng nguyên nhân
thất bại thường liên quan đến rối loạn các phản xạ bảo vệ đường thở
(phản xạ ho, nuốt). Tình trạng này thường xảy ra khi vỏ não và các cấu
trúc não có chức năng hoạt hóa bị ức chế trong các trường hợp hôn mê.
Hậu quả dẫn đến tình trạng ùn tắc đờm dãi và nguy cơ hít dịch vào
đường hô hấp trên sau khi rút ÔNKQ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy diện tích dưới đường cong nhận
dạng (ROC) của điểm GCS là 0,824. Kết quả này của chúng tôi cũng
phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Văn Tín trên các BN nội khoa có
Phân tích các giá trị tiên lượng của hai chỉ số tại bảng 3.35 cho
thấy chỉ có thử nghiệm bơm nước muối là có thể được sử dụng trên lâm
sàng với độ nhạy 0,73, độ đặc hiệu 0,85 và giá trị tiên đoán dương 0,90.
Còn các giá trị của thời gian giữa 2 lần hút đờm đều thấp dưới 0,80. So
sánh về thử nghiệm bơm nước muối giữa nghiên cứu của chúng tôi và