ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm gan virus B là một trong những bệnh truyền nhiễm có tần suất mắc
cao, đã và đang là một vấn đề y tế ngày càng được cộng đồng thế giới quan
tâm do tính phổ biến và nguy hiểm của bệnh. Uớc tính có khoảng 350-400
triệu người trên Thế giới nhiễm virus viêm gan B và mỗi năm 4.000-5.500
trường hợp tử vong ở Hoa Kỳ Tỷ lệ viêm gan virus B đặc biệt cao ở Đông
Nam Á và Châu Phi, hơn 8% dân số là người mang kháng nguyên bề mặt của
virus viêm gan B. Hàng năm khoảng 1 triệu người chết vì virus viêm gan B,
như vậy có 2800 người chết/ngày, 115 người chết/giờ. Ở Việt Nam, bệnh
viêm gan thường do hai loại virus B và C gây ra, trong đó nghiêm trọng là
viêm gan virus B và số người nhiễm virus này dao động từ 15-20%, trong số
này có khoảng 12-16 triệu người bị nhiễm dương tính với kháng nguyên bề
mặt của virus.
Viêm gan B mạn tính thường không có triệu chứng lâm sàng rõ hoặc
hoàn toàn không có triệu chứng gì. Sau nhiều năm, triệu chứng đầu tiên khiến
bệnh nhân quan tâm là biểu hiện của biến chứng xơ gan mất bù hoặc ung thư
gan. Theo kết quả nghiên cứu Nguyễn Hoài Phong trên 75 bệnh nhân điều trị
viêm gan B mạn, số bệnh nhân viêm gan B không có biểu hiện triệu chứng
lâm sàng là 42%. Tuy nhiên, bệnh nhân có thể có một số triệu chứng như mệt
mỏi, chán ăn,…Vì vậy, các dấu ấn huyết thanh đóng vai trò quan trọng trong
việc chẩn đoán viêm gan do virus. Vấn đề đặt ra là cần phát hiện sớm các
trường hợp viêm gan virus B mạn để giúp cho thầy thuốc lâm sàng có chẩn
đoán sớm viêm gan do virus B và chỉ định đúng lúc thuốc kháng virus để có
thể ngăn ngừa bệnh chuyển sang xơ gan và ung thư gan nguyên phát.
1Điều trị viêm gan B mang tính chất lâu dài và thích ứng cho từng bệnh
nhân dựa trên những hiểu biết mới về chiến lược điều trị đã được các hội nghị
đồng thuận trên thế giới và khu vực đề ra. Mục tiêu của việc điều trị là ức chế
1.1.1. Lịch sử bệnh viêm gan virus
Trong những thập kỹ qua, sự hiểu biết về lịch sử tự nhiên và miễn
nhiễm bệnh viêm gan đã được mô tả. Từ thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XIX nhờ
lâm sàng và dịch tễ người ta mới phân biệt được 2 loại viêm gan là viêm gan
huyết thanh và viêm gan truyền nhiễm (viêm gan A). Viêm gan huyết thanh
thường do tiêm truyền nhất là truyền máu toàn phần, tiêm chích hoặc có thể
truyền từ mẹ sang con và đường tình dục. Năm 1965, Blumberg và cộng sự
lần đầu tiên tìm ra kháng nguyên bề mặt virus viêm gan B (HBsAg) và kháng
thể của nó là kháng thể bề mặt virus viêm gan B (anti-HBs). Năm 1970, Dane
đã xác định được hạt virus viêm gan B (virus viêm gan B). Từ đó, dần dần
người ta xác định được dịch tể học, virus học, diễn biến tự nhiên và điều trị
virus hướng gan này,.
1.1.2. Tình hình nhiễm virus gây viêm gan B (HBV)
1.1.2.1. Nhiễm HBV trên thế giới
Sự phân bố HBV trên Thế giới không đồng đều. Tỷ lệ người mang
HBsAg ở Châu Á ước tính khoảng 5%-10%. Nhiễm HBV trên thế giới phân
thành ba vùng dịch với mức dịch lưu hành tại địa phương khác nhau:
- Vùng lưu hành dịch tễ cao: Là những vùng có tần suất mang HBsAg
trên 8%. Đó là những nước Châu Á (trừ Nhật Bản và Ấn Độ) và Châu Phi,
hầu hết các vùng Trung Cận Đông, vùng lưu vực sông Amazon, các nước
3thuộc khu vực Tây Thái Bình Dương, một số dân tộc vùng Bắc cực. Ở những
vùng này tỷ lệ nhiễm sớm, rất cao ngay sau khi trẻ mới ra đời, ở lứa tuổi nhỏ
và đạt đỉnh điểm ở tuổi vị thành niên. Phương thức lây truyền ở đây thường là
lây truyền dọc từ mẹ sang con.
- Vùng lưu hành dịch tễ trung bình: Gồm những vùng có tần suất mang
HBsAg mạn tính từ 2-7% gồm các nước Ấn Độ, một phần Trung Cận Đông,
Tây Á, Nhật Bản, các nước Đông Âu, khu vực Nam và Trung Mỹ. Phương
kháng nguyên bề mặt của HBV được tạo ra dư thừa tại bào tương của tế bào
gan, cho nên cũng mang đặc tính như HBsAg. Nồng độ của HBsAg trong
huyết thanh khoảng 10-100µg/ml (gấp 100-1000 lần so với lượng virion);
trong khi đó nồng độ của HBeAg thường > 10 µg/ml. Tiểu thể Dane có cấu
trúc hình cầu gồm 3 lớp: lớp bọc bên ngoài là kháng nguyên bề mặt (HBsAg);
vỏ capsid là 1 nucleocapsid được cấu tạo từ kháng nguyên lõi (HBcAg); lóp
trong cùng chứa cấu trúc DNA chuỗi đôi và các men như DNA polymerase,
protein kinase ,,.
5 Hình 1.2. Cấu trúc của HBV trong huyết thanh
(Nguồn: Hepatitis B virus infetion 2008)
1.1.3.2. Dấu ấn miễn dịch của virus viêm gan B
Khi virus thâm nhập cơ thể trong huyết thanh bệnh nhân nhiễm HBV tùy
theo từng giai đoạn bệnh. Có 3 cặp kháng nguyên- kháng thể: HBsAg-
HBsAb là kháng nguyên bề mặt hay vỏ của HBV. HBeAg- HBeAb kháng
nguyên gắn chặt với kháng nguyên nhân và dùng chất tẩy (detergent) để tách
ra HBcAg- HBcAb kháng nguyên nhân của HBV, phức hợp miễn dịch anti
HBsAg- IgM.
1.2. VIÊM GAN VIRUS B MẠN
1.2.1. Định nghĩa viêm gan mạn
Viêm gan mạn là biểu hiện của nhiều loại tổn thương gan do nhiều loại
nguyên nhân khác nhau; trong đó viêm và hoại tử tế bào gan liên tục kéo dài
trên 6 tháng. Thể nhẹ là thể không tiến triển hoặc tiến triển rất chậm, thể nặng
là thể viêm hoại tử dồn dập hoặc nhiều đợt tiến triển tấn công vào tế bào gan
để rồi cuối cùng đưa đến xơ và ung thư hóa.
1.2.2. Chẩn đoán viêm gan virus B mạn
1.2.2.1. Đặc điểm lâm sàng viêm gan virus B mạn
6
này biểu hiện bị viêm gan B với một tiến triển không dự đoán trước.
*Viêm gan B mạn kéo dài
Bệnh nhân có biểu hiện tăng mạn tính giá trị transaminase kèm với tồn
tại kháng nguyên HBs lâu dài và các dấu hiệu giải phẩu bệnh của tình trạng
viêm mạn tính. Nhìn chung thể viêm gan mạn này tiến triển tới khỏi trong
vòng 2-4 năm; nếu HBsAg âm tính, không xác định nồng độ HBV-DNA và
nồng độ ALT bình thường. Tuy nhiên, có thể chuyển sang thể viêm gan mạn
hoạt động gây biến chứng xơ gan sau viêm gan,.
*Thể viêm gan B mạn hoạt động
Không có tiêu chuẩn nào cho phép dự đoán nguy cơ một viêm gan B
cấp chuyển thành viêm gan mạn hoạt động. Thể viêm gan mạn hoạt động
sẽ diễn biến:
- Hoặc chuyển thành xơ gan sau viêm gan với nguy cơ gây ung thư
biểu mô gan.
- Hoặc khỏi bệnh với xơ hóa gan tồn dư nhẹ,.
Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm gan virus B mạn tính như sau
- HBsAg dương tính > 6 tháng
- Nồng độ huyết thanh HBV DNA > 20000UI/ml
- Nồng độ AST/ALT tăng liên tục và kéo dài
- Sinh thiết gan cho thấy mức độ viêm gan vừa hoặc nặng.
1.2.2.3. Đặc điểm cận lâm sàng viêm gan virus B mạn
Các chỉ điểm virus trong huyết thanh
8Các xét nghiệm huyết thanh thường dùng trong bệnh viêm gan siêu vi
B là HBsAg, HBeAg, anti-HBe, IgM anti-HBc, HBV- DNA. Xét nghiệm
huyết thanh rất cần thiết để xác định diễn biến tự nhiên của nhiễm HBV mạn
tính và chia giai đoạn bệnh. Trong giai đoạn dung nạp miễn dịch, một số lớn
bệnh nhân có chuyển đổi huyết thanh từ HBeAg thành anti-HBe.
+ HBeAg là một phần của gien lõi trong bộ gen của virus, là kháng
nguyên xuất hiện sớm thứ hai đồng thời với HBsAg. HBeAg (+) nói lên virus
đang thời kỳ phát triển và nhân lên. Đây là thời kỳ lây lan mạnh.
+ Sự có mặt của HBeAg cùng với HBV -DNA trong huyết thanh phản
ánh tình trạng đang nhân lên của virus. HBeAg là kháng nguyên phản ánh
chất lượng và không có ý nghĩa về mặt chẩn đoán. Trong trường hợp xảy ra
đột biến lõi, HBeAg không được tổng hợp nhưng sự nhân đôi của virus vẫn
diễn ra và điều này được chứng minh bằng sự hiện diện của HBV-DNA trong
huyết thanh bệnh nhân,.
- HBV-DNA (Hepatitis B virus Deoxyribo nucleotide acide)
+ Hepatitis B virus desoxyribonucleic (HBV-DNA) là acid nhân của
virus viêm gan B, được phát hiện trong huyết thanh của bệnh nhân trước khi
có các triệu chứng lâm sàng và gần như cùng lúc với HBsAg. HBV-DNA
thường giảm nhanh lúc ALT tăng tối đa và xảy ra chuyển đổi huyết thanh
sang anti-HBe. HBV-DNA giảm nhiều ở các bệnh nhân có sự bùng phát viêm
gan virus B mạn. Cũng như HBeAg, HBV-DNA (+) phản ánh sự nhân lên của
virus và có liên quan đến khả năng gây nhiễm của virus viêm gan B. Hầu hết
các trường hợp có HBeAg (+) đều có HBV-DNA (+). Một số trường hợp
HBeAg (-) nhưng có HBV-DNA (+). Đây có thể là những trường hợp có đột
biến tiền lõi khiến cho HBeAg không thể tổng hợp. Trong viêm gan virus B
mạn, HBV-DNA (+) cho phép khẳng định sự nhân đôi của HBV,.
10Các cận lâm sàng khác
- Men transaminase huyết thanh
Bản chất men Transaminase là những protein có tác dụng xúc tác phản
ứng hóa học mà bản thân nó không tiến hành hoặc tiến hành rất chậm nếu
không có men. Men có trong tất cả các tổ chức cơ quan với các tỷ lệ khác
nhau. Tế bào gan có sự định khu khá phong phú các men, tập trung ở bào
sàng. Xét nghiệm này là một phần của tất cả các quy trình tầm soát nhiều
giai đoạn và được chỉ định gần như thường quy ở tất cả các bệnh nhân có
bệnh. Một tổng phân tích tế bào máu được thực hiện bằng một thiết bị xét
nghiệm tự động định lượng hemoglobin và số lượng hồng cầu, bạch cầu, tiểu
cầu và đưa ra một số chỉ số, một công thức bạch cầu tự động. Theo khuyến
cáo điều trị viêm gan virus B mạn cần chỉ định trước khi bắt đầu điều trị và
theo dõi trong khi điều trị với các xét nghiệm cơ bản bao gồm cả công thức
máu, chức năng gan ,.
+ Hồng cầu
Đếm số lượng hồng cầu (một phần của xét nghiệm tế bào máu) là xét
nghiệm sinh học thường được chỉ định. Các chỉ số hồng cầu cung cấp các
thông tin quí giá nhằm đánh giá khả năng hoạt động của tủy xương và nó
cũng dễ có các biến đổi trong rất nhiều tình trạng bệnh lý thường gặp trên
lâm sàng
+ Bạch cầu
Số lượng bạch cầu người trưởng thành bình thường là 7000- 9000/mm³
máu ở nam và 6000- 8000/mm³ máu ở nữ. Ở trẻ em và phụ nữ có thai số
lượng bạch cầu cao hơn. Số lượng bạch cầu tăng trong bệnh nhiễm khuẩn cấp
tính, đặc biệt tăng cao trong bệnh bạch cầu cấp hoặc mạn tính. Số lượng bạch
cầu giảm trong các trường hợp bị nhiễm độc, nhiễm xạ, suy tủy.
+ Tiểu cầu
Các tiểu cầu được hình thành trong tủy xương và lưu hành trong máu
dưới dạng hình đĩa không nhân. Đời sống của tiểu cầu trong vòng tuần hoàn
12kéo dài khoảng 8-12 ngày; sau đó chúng được lách loại bỏ khỏi dòng tuần
hoàn. Bệnh nhân có số lượng tiểu cầu trong khoảng 50000-150000/mm
3
;
gan hoạt động sau khi chuyển đổi huyết thanh HBeAg; hậu quả của viêm gan
virus B rất nghiêm trọng là xơ gan và ung thư gan.
1.2.3.2. Nhiễm virus viêm gan B và ung thư tế bào gan (HCC)
Ung thư nguyên phát hầu hết là loại ung thư biểu mô tế bào gan chiếm
90% còn lại 10% ung thư khác. Ở nước ta nguyên nhân chủ yếu gây ung thư
gan là do virus viêm gan B. Các nghiên cứu dịch tễ học đã chỉ ra rằng khu
vực có tỷ lệ cao nhiễm viêm gan B là khu vực có tỷ lệ mắc cao nhất của HCC
như các nước trong khu vực Đông Á - Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc và
Nhật Bản, là nơi có tỷ lệ nhiễm viêm gan B rất cao. Tại Đài Loan tỷ lệ mắc
HCC tương đối cao, sự kết hợp của HBV và ung thư biểu mô tế bào gan ở trẻ
em chiếm tỷ lệ cao hơn so với người lớn. Ở trẻ em viêm gan B bị HCC chiếm
70% - 80% so người lớn. Nhật Bản, viêm gan B hiện nay chính là "nguyên
nhân" của HCC như ở phương Tây. Tuy nhiên, viêm gan B vẫn còn phổ biến
ở châu Á,.
<1%
2-6% với viêm gan B HBeAg(+)
8-10% với viêm gan B HBeAg(-) < 0,2%
2-3%
7-8% 20-50%
20-50%
14
Nhiễm HBV mạn tính
Ung thư biểu mô tế bào gan
Xơ gan mất bù
Xơ gan còn bù
Viêm gan B mạn Không hoạt động
Tử vong
1.3.3.1. Thời điểm sau 12 tuần điều trị ( Đánh giá đáp ứng điều trị sớm)
Gần đây, nhiều chuyên gia về bệnh gan đã thống nhất đề nghị một lộ
trình điều trị viêm gan siêu vi B mạn và đánh giá kết quả điều trị bằng các
đồng phân nucleos(t)ides dạng uống. HBV-DNA được thực hiện sau 12 tuần
để đánh giá đáp ứng hoặc thất bại điều trị. Nếu nồng độ HBV-DNA giảm > 1
log 10 IU/ml so với trước điều trị là bệnh nhân có đáp ứng tiên phát, tiếp tục
dùng thuốc đang điều trị và làm lại HBV-DNA vào tuần 24 và theo dõi định
kỳ mỗi 6 tháng. Trường hợp nồng độ HBV-DNA giảm < 1 log 10 IU/ml nên
thêm một loại thuốc khác có tác dụng mạnh hơn. Đồng thời xem xét tình
trạng chuyển đổi huyết thanh HBeAg (mất HBeAg (+) và xuất hiện anti-HBe)
ở bệnh nhân mang HBeAg (+) và bình thường hóa ALT,,,.
1.3.3.2. Thời điểm 12 tuần sau khi kết thúc đợt điều trị
Sau 12 tuần điều trị bệnh nhân được đánh giá lại ở thời điểm 24 tuần,
48 tuần, 72 tuần; tùy theo đáp ứng của từng cá thể mà có lộ trình điều trị tiếp
theo hoặc kết thúc điều trị. Đáp ứng kéo dài được chứng minh là có liên quan
đến cải thiện kết quả lâm sàng và tăng khả năng mất HBsAg.
Theo nghiên cứu Ting-Tsung Chang (2009) về đánh giá đáp ứng siêu vi
và nguy cơ kháng thuốc của HBV sau 24, 48 tuần điều trị ở bệnh nhân viêm
gan virus B mạn tính cho thấy nồng độ HBV-DNA tại tuần 12 sẽ xác định
được có thất bại điều trị hay không; và nồng độ HBV-DNA tại tuần 24 sau
điều trị sẽ giúp thầy thuốc xem xét liệu có chỉnh liều điều trị hay không với
các thuốc điều trị kháng virus đường uống như: Lamivudin, Tenofovir.
Nghiên cứu của Phạm Thị Lệ Hoa, Nguyễn Hữu Chí (2006) cho thấy
đáp ứng virus sớm với mức giảm nồng độ HBV-DNA > 1 copies/ml
sau 3
tháng và liên quan có ý nghĩa đáp ứng huyết thanh học và virus B.
1.3.4. Các thuốc điều trị trong viêm gan virus B mạn
16
mạn. Kết quả cho thấy có cải thiện mô học chiếm 62,5%, không cải thiện mô
học chiếm 37,5% của 2 nhóm HBeAg (+) và HBeAg (-).
1.4. VAI TRÒ CỦA FERRITIN, SẮT HUYẾT THANH TRONG VIỆC
ĐÁP ỨNG ĐIỀU TRỊ VIÊM GAN B MẠN TÍNH
1.4.1. Vai trò của tình trạng quá tải sắt ở bệnh nhân viêm gan virus B
Sắt là một kim loại cần thiết cho cơ thể, để tổng hợp hemoglobin tạo
hồng cầu, phản ứng oxy hóa khử. Khi tích lũy sắt dư thừa sẽ gây ra rối loạn
chức năng các cơ quan thông qua sản xuất chuỗi phản ứng oxy hóa. Bình
thường có sự cân bằng của quá trình chuyển hóa sắt trong cơ thể để tồn trữ và
lưu thông. Cơ chế bài tiết thụ động, sắt có thể dễ dàng tích lũy. Tổng lượng
sắt trong cơ thể khoảng 3-4g; sắt trong hemoglobin khoảng 60% và ở
myoglobin, cytochromes, catalase, peroxidase khoảng 10% sắt toàn cơ thể.
Dưới 1% có trong tuần hoàn gắn với transferin. Khoảng 35% ở dạng dự trữ
như Ferritin và hemosiderin chủ yếu ở đại thực bào của gan, lách, tủy xương,
tế bào nhu mô gan, cơ và các cơ quan khác. Trong một nghiên cứu của Ana
LC Martinelli (2004) và cộng sự cho thấy tranferin bảo hòa tăng cao chiếm
27,1% và tăng dự trữ sắt trong gan xảy ra thường xuyên ở những bệnh nhân
viêm gan B không có xơ gan.
Một báo cáo ở Anh về đặc điểm Ferritin; tác giả thấy rằng Ferritin
huyết thanh (SF) tương quan với tổng lượng sắt trong cơ thể nên dùng để ước
lượng sắt cơ thể tại một thời điểm. Sắt cần thiết cho cơ thể, nhưng cực kỳ độc
hại khi lượng dư thừa tồn tại mà cơ thể không có con đường bài tiết tốt đối
với sắt. Hiện tượng tăng liên tục của sắt quá 1-2 mg /ngày sẽ dẫn đến tình
trạng quá tải sắt, và gây tổn thương cơ quan bao gồm cả gan và tim. Nguyên
nhân thường gặp là viêm, đặc điểm khác biệt chính là bệnh gan qua kiểm tra
chức năng gan, mức độ xơ hóa và tắc nghẽn tĩnh mạch cửa liên quan đến
18lượng sắt,. Theo tác giả Devrajani B.R (2010) nghiên cứu trên 42 bệnh nhân
với nhóm HBV-DNA (+) ở thời điểm 6 tháng điều trị (p=0,013). Nồng độ
Ferritin giảm ở thời điểm 3 tháng điều trị là có ý nghĩa so với trước khi điều
trị (p=0,05); và giảm nồng độ Ferritin ở nhóm bệnh nhân có ALT bình thường
đáng kể hơn so với nhóm có ALT bất thường vào thời điểm sau 12 tháng điều
trị (p=0,048). Nghiên cứu Nguyễn Ngọc Rạng(2011) cho thấy tỷ lệ hiện hành
số người mắc bệnh viêm gan B mạn có tăng Ferritin là 10,3%.
1.5. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VIÊM GAN B MẠN TÍNH Ở TRONG
VÀ NGOÀI NƯỚC
1.5.1. Nghiên cứu viêm gan B mạn tính ở Việt Nam
Từ nhiều năm nay đã có một số công trình nghiên cứu về dịch tể học,
đặc điểm của viêm gan vrus B được công bố và thời gian gần đây các nghiên
cứu về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, sinh học phân tử, rối loạn chuyển
hóa Ferritin và sắt huyết thanh hay đáp ứng điều trị của thuốc kháng virus
được các tác giả Việt Nam đề cập đến.
Phạm Thị Thu Thủy(2000), nghiên cứu trên 1911 bệnh nhân viêm gan
B,C mãn tính trong 4 năm, đa số tập trung lứa tuổi 30-50, nam nhiều hơn nữ,
viêm gan siêu vi B chiếm đa số 58,39%. Kết quả có sự tăng Ferritin,
traneferin, sắt huyết thanh trên bệnh nhân viêm gan siêu vi B, C. Có mối
tương quan giữa men gan và Ferritin. Bệnh nhân có nồng độ Ferritin trong
huyết thanh thấp thì tiên lượng tốt đối với điều trị.
Đinh Dạ Lý Hương(2003), nghiên cứu về hiệu quả của Lamivudin
trong điều trị viêm gan siêu vi mạn tính cho thấy viêm gan siêu vi B mãn tính
20có men gan tăng > 2 lần, điều trị Lamivudine 100mg/ngày/một năm. Tỷ lệ
chuyển đổi huyết thanh HBeAg sau 1 năm 38%. Tỷ lệ đáp ứng kéo dài sau
khi ngưng thuốc 53% với thời gian theo dõi trung bình là 6 tháng. Thuốc làm
bình thường hóa men gan trên đa số bệnh nhân, dung nạp tốt và không có tác
dụng phụ nghiêm trọng.
HBV-DNA giảm xuống dưới ngưỡng phát hiện sau 3, 6, 12 tháng lần lượt
24%, 52%, 84%.
Lê Hữu Song, Nguyễn Trọng Chính(2012), nghiên cứu hiệu quả bước
đầu của Tenofovir trong điều trị viêm gan B mạn tính ở 305 bệnh nhân cho
thấy khả năng ức chế HBV của Tenofovir là rất tốt. Kết quả cho thấy không
có sự khác biệt về hiệu quả giữa các biệt dược, cho đến nay chưa có thông
báo nào xác định có HBV-DNA kháng Tenofovir sau 4 năm theo dõi qua.
Phạm Minh Tuấn, Trịnh Thị Xuân Hòa(2012), nghiên cứu mối liên
quan giữa tải lượng virus với một số biểu hiện lâm sàng ở bệnh nhân viêm
gan virus B mạn tính với 65 bệnh nhân, tuổi trên 20, được chẩn đoán viêm
gan virus B mạn tính điều trị nội, ngoại trú không thấy có mối liên quan giữa
tần suất xuất hiện một số triệu chứng lâm sàng (mệt mỏi, chán ăn, vàng da, )
với tải lượng virus. Có mối liên quan giữa tải lượng virus và HBeAg.
1.5.2. Nghiên cứu nước ngoài
Viêm gan virus B thời gian gần đây đã được các nhà khoa học và
chuyên gia quan tâm nghiên cứu nhiều hơn cho thấy đặc điểm nhiễm virus
viêm gan B với tình trạng tăng Ferritin, sắt huyết thanh và đáp ứng điều trị
sớm của thuốc kháng virus ở bệnh nhân viêm gan virus B mạn tính.
Liaw Fan-Yun và cộng sự(2004), nghiên cứu điều trị Lamivudin cho
bệnh nhân viêm gan B mạn tính. Áp dụng điều trị ngẫu nhiên, mù đôi, thử
nghiệm kiểm soát giả dược của Lamivudine ở bệnh nhân viêm gan B mãn tính
và xơ gan hoặc xơ hóa cho thấy Lamivudine giảm tiến triển của bệnh; do đó
22giảm biến chứng lâm sàng, có hiệu quả trong việc giảm tỷ lệ ung thư biểu mô
tế bào gan.
Zheng-Wen Liu và cộng sự(2004), nghiên cứu sự thay đổi của Ferritin
huyết thanh ở 38 bệnh nhân viêm gan virus B mạn tính được điều trị
Lamivudin liều uống 100mg/ngày sau 3, 6, 12 tháng điều trị cho thấy 50%
khi điều trị có thể dựa vào tỷ lệ HBsAg/HBV-DNA dự đoán đáp ứng siêu vi
dài hạn để điều trị thuốc kháng virus ở bệnh nhân viêm gan virus B mạn.
KimYu Jin, Sinn Hyun Dong, Geum Youn Gwak(2012), Đánh giá hiệu
quả điều trị và an toàn của Tenofovir ở 29 bệnh nhân viêm gan B mãn tính
sau khi thất bại với các loại thuốc kháng virus khác cho thấy 28/29 bệnh nhân
chiếm 96,6% đáp ứng siêu vi sau 12 và 24 tháng với nồng độ HBV-DNA
giảm 3,9 log IU/ml, chuyển đổi huyết thanh HBeAg là 7,4%, 12%, 27%
tương ứng với thời điểm sau 6, 12 và 18 tháng điều trị.
Nghiên cứu Myo Nyein Aung(2013), so sánh kết quả điều trị với tải
lượng virus và xác định các yếu tố dự báo cho thấy 52% số bệnh nhân viêm
gan B mãn tính với tải lượng virus ban đầu < 6,5 log 10 copies/ml và 31% có
tải lượng ban đầu ≥ 6,5 log 10 copies/ml, đồng thời dự báo chuyển đổi
HBeAg và ALT trở về bình thường trong vòng 6 tháng đầu điều trị. Nếu nồng
độ ALT tăng > 1,5 lần so với giá trị bình thường (40 IU/ml) có thể dẫn đến
đáp ứng siêu vi không đầy đủ đối với thuốc kháng virus.
Lee I Cho, Kwon Young So, Kim Han Jeong(2014), nghiên cứu tính
hiệu quả và an toàn điều trị Tenofovir ở 17 bệnh nhân viêm gan B mãn tính
không đạt được đáp ứng siêu vi bằng thuốc chống virus khác trong thời gian
42 tháng liên tục. Kết quả nồng độ HBV-DNA không thể phát hiện được (≤
20IU/ml) là 14,3%, 41,7% và 100% tương ứng với thời gian 12, 24, 48 tháng
điều trị.
2425