NGHIÊN cứu đặc điểm lâm SÀNG, cận lâm SÀNG và ĐÁNH GIÁ kết QUẢ điều TRỊ hội CHỨNG NGƯNG THỞ KHI NGỦ ở TRẺ HEN PHẾ QUẢN - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BỘ Y TẾ

NGUYỄN HOÀNG YẾN

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG NGƯNG THỞ
KHI NGỦ Ở TRẺ HEN PHẾ QUẢN

ĐỀ CƯƠNG DỰ TUYỂN NGHIÊN CỨU SINH

HÀ NỘI – 2015
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ


TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN HOÀNG YẾN

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG NGƯNG THỞ
KHI NGỦ Ở TRẺ HEN PHẾ QUẢN
Chuyên ngành : Nhi khoa
Mã số

: 62720135


lượng cuộc sống của người bệnh. Hen trở thành gánh nặng bệnh tật cho gia
đình, y tế và xã hội.
Trong những năm gần đây tỷ lệ hen có xu hướng ngày càng gia tăng,
hậu quả là tỷ lệ tàn phế hô hấp, tử vong và những tổn thất về kinh tế, xã hội
do hen cũng tăng cao. Theo báo cáo của tổ chức y tế thế giới (WHO), hiện
nay trên thế giới có khoảng 300 triệu người mắc hen, chiếm 6-8% ở người lớn
và 10-12% trẻ ở lứa tuổi học đường. Các con số này còn tiếp tục tăng trong
những năm tới, ước tính vào năm 2025 sẽ có 400 triệu người trên thế giới
mắc hen. Ở Việt nam, chưa có số liệu chính xác về số người mắc và tử vong
do hen, theo Nguyễn Năng An ước tính khoảng 4 triệu người mắc hen và
khoảng 3000 người tử vong mỗi năm.
Những thiệt hại do hen gây ra không chỉ là các chi phí trực tiếp cho
điều trị, mà còn làm giảm khả năng lao động, gia tăng các trường hợp nghỉ
làm, nghỉ học. Ở Mỹ có khoảng 12-15 triệu dân mắc HPQ (chiếm 4-5% dân


số), chi phí trực tiếp và gián tiếp cho HPQ tốn trên 6 tỉ đô la mỗi năm, chiếm
tới 1% ngân sách cho y tế Mỹ. Tuy nhiên các chi phí cho hen sẽ giảm đi một
nửa nếu người bệnh được phát hiện sớm, điều trị dự phòng đúng và kiểm soát
hen tốt.
Từ năm 1992 “chiến lược toàn cầu về phòng chống hen” (GINA) đã
được hình thành, và được cập nhập liên tục hàng năm để tăng cường kiểm
soát, điều trị và dự phòng hen. Những phương pháp dự phòng hen có hiệu
quả, an toàn và thuận tiện đã làm giảm tỷ lệ hen nặng cũng như giảm chi phí
cho điều trị cơn hen cấp, đưa người bệnh trở lại cuộc sống bình thường hoặc
gần như bình thường.
Những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng, ở bệnh nhân hen, một số tình
trạng bệnh lý đi kèm có thể làm cho bệnh nặng hơn, khó kiểm soát hơn và
thường xuyên có những cơn hen kịch phát. Một trong những bệnh đồng mắc
đi kèm thường hay gặp ở trẻ em bị hen là hội chứng ngủ ngáy và ngưng thở

hầu hết các lĩnh vực y học. Môi trường đào tạo với các cán bộ khoa học nghiêm
túc, có trình độ và nhiệt tình trong công tác giảng dạy sẽ giúp NCS không chỉ
nâng cao về mặt kiến thức mà còn cả thái độ ứng xử và phương pháp làm việc
khoa học.
Trường Đại học Y Hà Nội có rất nhiều giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ hiện
đang công tác, giảng dạy tại trường và tại Bộ môn Nhi. Đây là nơi đầu tiên
trong nước đào tạo NCS chuyên ngành Nhi. Với kinh nghiêm đào tạo sau đại
học nói chung và cho NCS nói riêng, trường có thể tạo điệu kiện cho thí sinh
hoàn thành tốt quá trình học tập của mình. Trường Đại học Y Hà Nội là môi


trường mà tôi đã được đào tạo từ khi là Bác sĩ chuyên khoa, sau này là Thạc sĩ
Y học và bây giờ là lựa chọn đầu tiên khi có ý định học NCS.


4. NHỮNG DỰ ĐỊNH VÀ KẾ HOẠCH ĐẠT ĐƯỢC NHỮNG MỤC TIÊU
MONG MUỐN
4.1. Kế hoạch thời gian
- Tháng 8/2015: Thông qua đề cương nghiên cứu.
- Tháng 9/2015 đến 3/2017: Thu thập số liệu.
- Tháng 6/2017: Thông qua các chuyên đề, tổng quan.
- Tháng 3/2017 đến 5/2017: Xử lý số liệu.
- Tháng 6/2017 đến 10/2017: Viết luận án và bảo vệ cấp Bộ môn.
4.2. Dự định lựa chọn đối tượng và phương pháp nghiên cứu
- Xác định cỡ mẫu với khoảng 100 trường hợp (30 trường hợp nhóm chứng).
- Đối tượng nghiên cứu có đủ tiêu chuẩn chọn mẫu.
- Địa điểm nghiên cứu: Bộ môn Nhi- Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Nhi
Trung Ương.
- Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến cứu.
- Biến số nghiên cứu chính bao gồm: Một số đặc điểm cá nhân người

qủa sinh bệnh học trên huyết động học, chuyễn hóa và tâm thần kinh. Đặc biệt
những hậu qủa của OSAS ở trẻ em trên sự phát triển tâm thần kinh rất nguy
hại vì có thể làm trẻ chậm phát triển về tâm thần kinh, giảm khả năng học tập
và trí nhớ. Ngoài ra trẻ bị OSAS có thể mắc chứng trầm cảm hay hiếu động
qúa mức. Do vậy những tác hại của OSAS trên trẻ em cần được chẩn đoán và
điều trị kịp thời, đặc biệt là ở trẻ bị hen vì ở những trẻ này đã có sự tắc nghẽn
thường xuyên của đường dẫn khí nếu bệnh hen không được kiễm soát tốt.
Thêm vào đó là những trường hợp OSAS nặng ở trẻ em và ngay cả ở người
lớn vẫn có thể gây đột tử khi ngủ.
5.1.3. Về đo chức năng hô hấp
- Thăm dò chức năng hô hấp bằng phế dung kế: Phương pháp này đòi
hỏi trẻ phối hợp hít vào và thở ra gắng sức. Hen thường biểu hiện bằng rối
loạn thông khí tắc nghẽn, được đánh giá bằng các thông số sau:


+ FEV1


Đo biện độ chuyển động ngực và bụng và tư thế khi ngủ nhở vào bộ phận cảm
ứng gắn ở đai thắt lưng.



Cường độ và thời gian ngáy
Về tim mạch


Điện tâm đồ (ECG).

5.2.KINH NGHIỆM VÀ SỰ CHUẨN BỊ VỀ VẤN ĐỀ DỰ ĐỊNH NGHIÊN CỨU
5.2.1. Kinh nghiệm
Dự định thực hiện đề tài nghiên cứu này, bản thân NCS đã có 7 năm
kinh nghiệm làm việc trong chuyên ngành Nhi khoa, thường xuyên chẩn đoán
và điều trị cho các bệnh nhân bị hen phế quản. Mặc dù tại bệnh viện đa khoa
tỉnh Phú Thọ chưa có các thiết bị đánh giá chức năng hô hấp và máy đa ký hô
hấp, song những bệnh nhân được chuyển điều trị tại bệnh viện Nhi trung ương
đều được chúng tôi tham khảo, học tập cách chẩn đoán, phương pháp điều trị
bệnh của các Thầy, Cô và các anh chị để rút kinh nghiệm cho bản thân.
Những bệnh nhân sau điều trị vẫn được chúng tôi thăm khám theo định kỳ. Về
kinh nghiệm nghiên cứu khoa học, bản thân tôi là thạc sĩ y học chuyên ngành
Nhi khoa năm 2012 , trong quá trình học cao học, tôi đã được học về phương
pháp nghiên cứu khoa học, đã hoàn thành luận văn cao học được đánh giá tốt.
Trong quá trình làm việc, tôi cũng đã có 2 bài báo về bệnh hen phế quản và hội
chứng ngưng thở khi ngủ đăng trên tạp chí y học trong nước và nước ngoài.
5.2.2. Sự chuẩn bị
Để thực hiện tốt luận án và đúng thời gian quy định, tôi đã nhận được sự



Phần II
ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
HPQ

: Hen phế quản

OSAS

: Obstructive sleep apnea syndrome
(Hội chứng ngừng thở khi ngủ)

GINA

: Global Initiative For Asthma

WHO

: Tổ chức y tế thế giới

AHI

: Apnea-hypopnea index
(Chỉ số ngưng thở - giảm thở khi ngủ)

EDS

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hen phế quản (HPQ) gọi tắt là hen, là tình trạng viêm mạn tính đường
thở kết hợp với tăng phản ứng của đường dẫn khí. Hen gặp ở mọi lứa tuổi,
diễn biến lâu dài, ảnh hưởng đến khả năng học tập, lao động cũng như chất
lượng cuộc sống của người bệnh. Hen trở thành gánh nặng bệnh tật cho gia
đình, y tế và xã hội.
Trong những năm gần đây tỷ lệ hen có xu hướng ngày càng gia tăng,
hậu quả là tỷ lệ tàn phế, tử vong và những tổn hại về kinh tế, xã hội do hen
cũng tăng cao. Theo báo cáo của tổ chức y tế thế giới (WHO), hiện nay trên
thế giới có khoảng 300 triệu người mắc hen, chiếm 6-8% ở người lớn và 1012% trẻ ở lứa tuổi học đường [1], [2]. Các con số này còn tiếp tục tăng trong
những năm tới, ước tính vào năm 2025 sẽ có 400 triệu người trên thế giới
mắc hen. Ở Việt Nam, chưa có số liệu chính xác về số người mắc và tử vong
do hen, theo Nguyễn Năng An ước tính khoảng 4 triệu người mắc hen và
khoảng 3000 người tử vong mỗi năm.
Những thiệt hại do hen gây ra không chỉ là các chi phí trực tiếp cho
điều trị, mà còn làm giảm khả năng lao động, gia tăng các trường hợp nghỉ
làm, nghỉ học. Ở Mỹ có khoảng 12-15 triệu dân mắc HPQ (chiếm 4-5% dân
số), chi phí trực tiếp và gián tiếp cho HPQ tốn trên 6 tỉ đô la mỗi năm, chiếm
tới 1% ngân sách cho y tế Mỹ. Tuy nhiên các chi phí cho hen sẽ giảm đi một
nửa nếu người bệnh được phát hiện sớm, điều trị dự phòng đúng và kiểm soát
hen tốt [1], [3].
Từ năm 1992 “chiến lược toàn cầu về phòng chống hen” (GINA) đã
được hình thành, và được cập nhập liên tục hàng năm để tăng cường kiểm
soát, điều trị và dự phòng hen. Những phương pháp dự phòng hen có hiệu
quả, an toàn và thuận tiện đã làm giảm tỷ lệ hen nặng cũng như giảm chi phí
cho điều trị cơn hen cấp, đưa người bệnh trở lại cuộc sống bình thường hoặc
gần như bình thường.




20

Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, tỷ lệ mắc hen, đặc biệt là hen
ở trẻ em có xu hướng gia tăng. Mặc dù bộ Y tế đã đưa ra phác đồ hướng dẫn
điều trị và dự phòng HPQ nhưng tình hình trẻ hen phế quản phải nhập viện
vẫn còn cao. Điều này ảnh hưởng đến bản thân trẻ bị bệnh, gia đình và xã hội.
Trẻ nhập viện phải nghỉ học, giảm chất lượng cuộc sống, tăng chi phí điều trị,
tăng gánh nặng cho ngành y tế. Cho đến nay những nghiên cứu và hiểu biết
về các bệnh lý liên quan đến giấc ngủ không có nhiều và đặc biệt là chưa có
nghiên cứu nào về hội chứng ngừng thở khi ngủ ở trẻ em bị hen phế quản.Vì
vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm
sàng và đánh giá kết quả điều trị hội chứng ngừng thở khi ngủ ở trẻ hen
phế quản" với mục tiêu sau:
1. Khảo sát tỷ lệ mắc ngưng thở khi ngủ ở trẻ bị hen phế quản.
2. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng trẻ hen bị ngưng thở khi

ngủ.
3. Đánh giá hiệu quả kiểm soát hen sau điều trị can thiệp ở trẻ hen bị
ngưng thở khi ngủ.

Chương 1


21

TỔNG QUAN
1.1. ĐỊNH NGHĨA
+ Hen là một bệnh viêm mạn tính với nhiều kiểu hình liên quan đến
yếu tố di truyền và môi trường tương tác khác nhau, cho đến nay vẫn có một

xã hội. Hiện nay trên thế giới có khoảng 300 triệu người mắc hen, dao động
từ 4-12% dân số ở các nước phát triển và đang phát triển [1].
Theo ước tính của tổ chức y tế thế giới (WHO), cứ 10 năm tỷ lệ mắc
hen tăng lên 20-50%, đặc biệt 20 năm qua tốc độ ngày càng tăng nhanh hơn.
Tỷ lệ mắc hen ở mỗi vùng, mỗi lứa tuổi rất khác nhau, hay gặp ở những nước
công nghiệp có nền kinh tế phát triển, có tốc độ đô thị hóa cao, ít gặp hơn ở
các nước kém phát triển.
Các nước như: Anh, Australia, Newzeland có tỷ lệ mắc hen cao trong
khi đó Uzơbekistan là nước có tỷ lệ mắc hen thấp nhất thế giới là 1,4%.
Ở Mỹ có khoảng 12-15 triệu dân mắc HPQ (chiếm 4-5% dân số), chi
phí trực tiếp và gián tiếp cho HPQ tốn trên 6 tỷ đô la mỗi năm, chiếm tới 1%
ngân sách cho y tế Mỹ, trong đó chi phí cho nằm viện khoảng 4,5 tỷ đô la.[7]
Tại Việt nam, theo điều tra trước năm 1985 tỷ lệ mắc HPQ là 1-2%. Tỷ
lệ HPQ tại một số vùng dân cư nội thành Hà nội năm 1997 là 3,15%, trong đó
tỷ lệ mắc hen ở học sinh dưới 13 tuổi: 3,3%. Năm 2001 ước tính có 4 triệu
người mắc HPQ [8].
Những nghiên cứu của trung tâm miễn dịch dị ứng – miễn dịch lâm sàng
bệnh viên Bạch Mai dự báo tỷ lệ mắc HPQ ở nước ta là 6-7%. Tỷ lệ hen ở học
sinh một số trường trung học phổ thông tại Hà nội năm 2006 là 8,74% [9]
Những nghiên cứu gần đây của Nguyễn Văn Đoàn - trung tâm miễn
dịch dị ứng – miễn dịch lâm sàng bệnh viên Bạch Mai dự báo tỷ lệ mắc HPQ
ở nước ta là 3,9%, trong đó tỷ lệ hen ở trẻ em là 3,1%[10].
1.2.2. Tử vong do HPQ
Tỷ lệ tử vong do HPQ là rất nhỏ. Tuy nhiên những năm gần đây số
người tử vong do HPQ có xu hướng tăng lên, trung bình trên thế giới có 4060 người trong 1 triệu dân chết vì HPQ. Ở Mỹ năm 1977 có 1674 trường hợp
tử vong vì HPQ, đến năm 1998 đã có trên 6000 trường hợp tử vong vì HPQ
[3], [7].
Tại Việt Nam, hiện chưa có thống kê đầy đủ về số ca tử vong do hen
trong cả nước, nhưng ngày càng có nhiều người tử vong do hen. Tuy nhiên


1.3.1.2. Yếu tố môi trường


24

Môi trường sống đóng vai trò rất quan trọng trong khởi phát bệnh hen.
Một nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ hen ở các nước đang phát triển thấp hơn ở
các nước đã phát triển. Tỷ lệ hen của trẻ em Trung Quốc thấp hơn tỷ lệ hen ở
trẻ em các nước phương tây. Tuy nhiên điều đáng ngạc nhiên là tỷ lệ hen của
trẻ em gốc Trung Quốc di cư sang Mỹ lại tương tự tỷ lệ hen của trẻ em tại
nước bản địa[17]. Tương tự, nghiên cứu năm 1991 tại Melbourne, Australia
cho thấy tỷ lệ hen phế quản ở trẻ châu Á nhập cư tăng dần theo thời gian sống
tại Australia[18]. Sự thay đổi này chứng tỏ môi trường sống đóng vai trò quan
trọng trong hình thành bệnh hen ở trẻ em.
1.3.2. Yếu tố thuận lợi gây HPQ
 Tuổi
HPQ có thể khởi phát ở bất kỳ lứa tuổi nào, khoảng 30% xuất hiện ở trẻ
lúc 1 tuổi, trẻ dưới 6 tháng ít gặp HPQ. Thông thường hay gặp ở trẻ trên 1
tuổi và 80-90% số trẻ em xuất hiện triệu chứng hen trước 5 tuổi. HPQ có thể
khỏi hoặc giảm nhẹ ở tuổi dậy thì. Theo Hodek có 10,3% trẻ HPQ khỏi hẳn ở
tuổi dậy thì; 41,8% cơn hen giảm nhẹ và có 4,2%-10,8% HPQ xuất hiện ở
tuổi dậy thì, khoảng 10% HPQ xuất hiện ở tuổi trên 60


Giới

Ở trẻ em dới 5 tuổi, tỷ lệ HPQ ở trẻ trai nhiều hơn trẻ gái. Năm 2000,
Cagney và cộng sự nghiên cứu trên 2020 trẻ từ 5-14 tuổi tại Western Sydney
– Australia và thấy rằng yếu tố nguy cơ phát triển HPQ ở trẻ trai gấp 1,5 lần
trẻ gái [19]


Yếu tố kích phát hen
Triệu chứng HEN

Hình 1.1: Tóm tắt cơ chế bệnh sinh của hen phế quản
1.4.1. Viêm đường thở [7], [21]
- Viêm là quá trình chủ yếu trong cơ chế bệnh sinh của hen phế quản.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status