Việt nam với việc thực thi điều ước quốc tế - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HOÀNG THỊ LAN

VIỆT NAM
VỚI VIỆC THỰC THI ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ
Chuyªn ngµnh

: LuËt quèc tÕ

M· sè

: 60 38 60

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Ng-êi h-íng dÉn khoa häc: TS. Hoµng Ngäc Giao

HÀ NỘI - 2008

MỤC LỤC
Trang


Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt

1

Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế với pháp luật quốc gia

15

1.2.1.

Vấn đề chuyển hóa điều ƣớc quốc tế thành pháp luật 15
quốc gia

1.2.2.

Mối quan hệ giữa điều ƣớc quốc tế và pháp luật quốc 19
gia ở Việt Nam

1.3.

Pháp luật quốc tế về việc thực thi điều ước quốc tế

1.3.1.

Những nguyên tắc của Công ƣớc Viên năm 1969 về việc 22
thực thi điều ƣớc quốc tế

1.3.2.

Quy định về việc thực thi điều ƣớc quốc tế ở một số quốc 25
gia

22


2.2.1.1. Trong lĩnh vực nhân quyền

42

2.2.1.2. Trong lĩnh vực kinh tế - thƣơng mại

54

2.2.1.3. Trong lĩnh vực môi trƣờng

73

2.2.2.

Khái quát thực trạng thực thi các điều ƣớc quốc tế tại Việt 81
Nam

2.2.2.1. Những thành công

81

2.2.2.2. Những hạn chế

82

Chương 3:

GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ

88


Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi đối với 101
Công ƣớc Basel về kiểm soát chất thải xuyên biên giới
và việc tiêu hủy chúng

94

KẾT LUẬN

106

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

108

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, việc giao lưu, hợp tác giữa các quốc gia ngày càng được tăng cường,
mở rộng. Hòa mình vào cùng sự phát triển chung của thế giới, tính từ năm 1955, Việt Nam đã ký kết rất
nhiều các điều ước quốc tế (riêng trong lĩnh vực kinh tế - thương mại là 1.082 điều ước).
Các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập rất đa dạng, thuộc các lĩnh vực quan trọng
trong xã hội. Hiện nay, ở Việt Nam còn 700 điều ước quốc tế có hiệu lực trong các lĩnh vực: thương mại,
nông nghiệp, công nghiệp, hàng hải, hàng không, đường bộ, đường sắt, lao động, hợp tác nghề cá và
phát triển thủy sản, du lịch, y tế, tài chính, tín dụng, khuyến khích và bảo hộ đầu tư tránh đánh thuế hai
lần, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Các điều ước quốc tế này đã góp phần tăng cường và mở rộng các quan
hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt, đặc biệt là đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường hợp tác
thương mại, thu hút đầu tư cũng như những nguồn lực phát triển chính thức.
Ngày 10 tháng 10 năm 2001, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Công ước Viên 1969
về Luật Điều ước quốc tế; tháng 6 năm 2005, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XI, Quốc hội nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện các điều ước quốc tế. Đây

và thực hiện các điều ước quốc tế năm 1989, Pháp lệnh về ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế năm
1998, Luật ký kết, gia nhập và thực hiện các điều ước quốc tế năm 2005 (cùng các nghị định sửa đổi, bổ
sung)...
Hiện nay, cũng có một số đề tài nghiên cứu về tình hình thực thi các điều ước quốc tế trong từng lĩnh
vực cụ thể, có các bài viết bàn về đưa gia những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi các điều ước
quốc tế ở Việt Nam (ví dụ: Bài viết Bàn về việc thực thi điều ước quốc tế ở Việt Nam của Tiến sĩ Hoàng
Ngọc Giao đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3 năm 2005, bài viết của tiến sĩ Lê Văn Bính về
Ký kết và thực hiện Điều ước quốc tế theo pháp luật Việt Nam, Tạp chí Quan hệ - Bộ Ngoại giao, 1999...).
Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình chuyên khảo nào nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ về
vấn đề này dưới khía cạnh là một đề tài khoa học độc lập.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
* Mục đích
Mục đích nghiên cứu của luận văn là xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn để đề ra phương hướng
và giải pháp nhằm thúc đẩy việc thực thi các điều ước quốc tế, đảm bảo tính nghiêm minh của những
điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập. Từ đó, cũng nhằm mục đích thúc đẩy mối quan hệ
của Việt Nam với các nước trên thế giới và với các nước là thành viên của các điều ước quốc tế mà
Việt Nam đã tham gia, rút ngắn khoảng cách về nhiều mặt giữa Việt Nam đối với các nước trên thế
giới.
* Nhiệm vụ


Với mục đích nghiên cứu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Nghiên cứu cơ sở pháp lý của Việt Nam và công ước Viên trong việc quy định việc thực thi các
điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập;
- Đánh giá vai trò của việc thực thi các điều ước quốc tế đối với xã hội Việt Nam. Phân tích thực
trạng thực thi các điều ước quốc tế nói chung và một số điều ước quốc tế của từng lĩnh vực cụ thể trong
xã hội Việt Nam. Từ đó tổng kết, đánh giá thực trạng thực thi các điều ước quốc tế ở Việt Nam.
- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn việc thực thi các điều ước quốc tế, cùng với việc học hỏi kinh
nghiệm của một số nước trên thế giới trong cùng lĩnh vực, tác giả có đưa ra một số đề xuất phương hướng
và giải pháp khả thi góp phần nâng cao hiệu quả thực thi các điều ước quốc tế trong xã hội Việt Nam đáp

Ba là, luận văn đã đề xuất những phương hướng và giải pháp có tính khả thi, góp phần nâng cao hiệu
quả thực thi các điều ước quốc tế trong xã hội Việt Nam
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung và thực tiễn về việc thực thi điều ước quốc tế
Chương 2: Thực trạng thực thi điều ước quốc tế ở Việt Nam
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị để nâng cao hiệu quả việc thực thi điều ước quốc tế ở Việt Nam.

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬN VĂN
Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ THỰC TIỄN
VỀ VIỆC THỰC THI ĐIỀU ƢỚC QUỐC TẾ
1.1. Những vấn đề lý luận chung về điều ƣớc quốc tế và việc thực thi điều ƣớc quốc tế
1.1.1. Khái niệm về điều ước quốc tế
Để điều chỉnh và nâng cao hiệu quả các mối quan hệ quốc tế của mình với các nước và các tổ chức
quốc tế, nước ta ký kết rất nhiều điều ước quốc tế song phương, tham gia nhiều điều ước quốc tế đa
phương về nhiều lĩnh vực khác nhau. Và tất nhiên nước ta phải có trách nhiệm thực hiện các cam kết quốc
tế quy định trong các điều ước quốc tế này.
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 1 Công ước Viên 1969 về Luật điều ước quốc tế: “Điều ước quốc
tế là một thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được luật quốc tế điều chỉnh,
không phụ thuộc vào việc thỏa thuận đó được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc hai hay nhiều
văn kiện có quan hệ với nhau, cũng như không phụ thuộc vào tên gọi của các văn kiện đó”. Từ quy định
trên, tác giả rút ra một số đặc điểm của điều ước quốc tế
- Điều ước quốc tế phải là một thỏa thuận quốc tế.
- Điều ước quốc tế phải được ký kết giữa các quốc gia.
- Điều ước quốc tế phải được thỏa mãn bằng văn bản.
- Điều ước quốc tế phải do luật pháp quốc tế điều hành
- Điều ước quốc tế có thể được cấu thành bởi một văn bản hoặc nhiều văn bản
- Tên gọi của điều ước quốc tế

* Chủ nghĩa nhị nguyên (chủ nghĩa lưỡng hệ - Dualiste): quan niệm pháp luật quốc tế và pháp luật
quốc gia là hai bộ phận của một hệ thống thống nhất, hoàn toàn độc lập với nhau.
- Chủ nghĩa nhị nguyên cực đoan.
- Chủ nghĩa nhị nguyên luận dung hòa.
Tóm lại, điểm khác biệt duy nhất giữa hai học thuyết này là vị trí độc lập hoặc vị trí trên dưới của hai
hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia.
1.2.2. Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia ở Việt Nam
Để bảo đảm ưu tiên thực hiện các cam kết trong các điều khoản quốc tế mà nhà nước đã ký kết hoặc
gia nhập, trong nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam thường có quy định về vấn đề này thì ở mỗi văn
bản cũng thể hiện khác nhau Nhưng nhìn chung các luật, pháp lệnh đều thể hiện rõ thái độ của Nhà nước
ta là coi trọng các cam kết quốc tế, ưu tiên thực hiện các quy định của điều ước quốc tế khi các quy định
này khác với quy định của luật hoặc pháp lệnh. Việc ưu tiên thực hiện các điều ước quốc tế là cần thiết để
bảo đảm các điều ước quốc tế được thực hiện nghiêm chỉnh.
1.3. Pháp luật quốc tế về việc thực thi điều ƣớc quốc tế
1.3.1. Những nguyên tắc của Công ước Viên năm 1969 về việc thực thi điều ước quốc tế.
Một số các nguyên tắc và quy phạm của Luật điều ước quốc tế được quy định trong Công ước Viên năm
1969 về Luật điều ước.


Nguyên tắc tự nguyện ký kết các điều ước quốc tế.
- Nguyên tắc thực hiện các cam kết quốc tế một cách có thiện chí (nguyên tắc pacta servanda).
Nguyên tắc sự thay đổi các điều kiện
Có một số điều kiện xuất hiện có thể dẫn đến sự chấm dứt hiệu lực của một điều ước, cụ thể:
+ Sự vi phạm điều ước của một quốc gia thành viên;
+ Đối tượng gắn liền với việc thi hành điều ước không còn tồn tại (Điều 61);
+ Các hoàn cảnh tồn tại vào lúc ký kết điều ước đã hoàn toàn thay đổi (Điều 62)
+ Bùng nổ xung đột vũ trang giữa các quốc gia thành viên (Điều 73);
+ Xuất hiện một quy phạm Jus cogens mới (Điều 64).
- Nguyên tắc thực hiện một điều ước thì tốt hơn là hủy bỏ điều ước đó (favor contractus).
1.3.2 Quy định về việc thực thi điều ước quốc tế ở một số quốc gia

Nam nhưng xét dưới góc độ lập pháp, tính đến trước năm 1989 Nhà nước ta mới ban hành Pháp lệnh ký
kết và thực hiện điều ước quốc tế được ban hành. Đây là một văn bản pháp luật đầu tiên có tính chất
chuyên ngành của Việt Nam quy định các vấn đề cơ bản trong lĩnh vực này. Sau khi có Pháp lệnh, Hội
đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 182 ngày 28/5/1992 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh về ký
kết và thực hiện điều ước quốc tế.
- Năm 1998: Sau gần 10 năm thực hiện, Pháp lệnh ký kết và thực hiện điều ước quốc tế năm 1989
đã bộc lộ một số khiếm khuyết, bất cập. Vì vậy, ngày 20/8/1998 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành
Pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế năm 1998 thay thế cho Pháp lệnh 1989.
- Năm 2005, đã ban hành Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế.
2.1.2. Pháp luật hiện hành của Việt Nam về việc thực thi điều ước quốc tế
+ Hiến pháp năm 1992.
+ Các bộ luật, luật (Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hàng Hải, Bộ luật Lao động, Luật khoáng sản…), Luật
ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005,. Trong luật này có 1 chương gồm 4 mục, 26
điều (từ Điều 71 đến Điều 96) quy định về các hoạt động của quá trình thực thi các điều ước quốc tế bao
gồm lên kế hoạch thực hiện điều ước quốc tế, giải thích, sửa đổi bổ sung, gia hạn, chấm dứt hiệu lực, từ
bỏ, rút khỏi, tạm đình chỉ thực hiện toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế.
+ Các văn bản dƣới luật (Nghị định, Thông tƣ…) ví dụ: Nghị định số 26/2008/NĐ- CP về sử dụng kinh phí
ngân sách nhà nƣớc bảo đảm cho công tác điều ƣớc quốc tế và công tác thỏa thuận quốc tế, Chỉ thị số
14/CT-TTg về các biện pháp tăng cƣờng kiểm tra, đôn đốc, thực hiện các điều ƣớc quốc tế trong lĩnh vực
kinh tế - thƣơng mại; Thông tƣ 65/2008/TT-BTC hƣớng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách
nhà nƣớc bảo đảm cho công tác điều ƣớc quốc tế và công tác thỏa thuận quốc tế, Quyết định số
06/2006/QĐ-BTP của Bộ trƣởng Bộ Tƣ pháp về việc ban hành quy chế thẩm định điều ƣớc quốc tế.
2.2. Thực trạng thực thi các điều ƣớc quốc tế ở Việt Nam
2.2.1. Thực trạng thực thi các điều ước quốc tế ở Việt Nam trong một số lĩnh vực cụ thể
2.2.1.1 Trong lĩnh vực nhân quyền
a) Việt Nam đã ký kết, gia nhập 8/10 công ƣớc trong lĩnh vực nhân quyền: Công ƣớc về quyền dân sự,
chính trị, Công ƣớc về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội; Công ƣớc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng
tộc; Công ƣớc Quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ; Công ƣớc quyền trẻ em
và hai Nghị định thƣ bổ sung về trẻ em trong xung đột vũ trang và chống sử dụng trẻ em trong các hoạt
động mại dâm và tranh ảnh khiêu dâm; Công ƣớc quốc tế về ngăn ngừa và trừng trị tội ác diệt chủng,

động, thù địch.
- Cơ chế bảo đảm nhân quyền chƣa hiệu quả. Hiện nay, nƣớc ta vẫn chƣa có một cơ quan chuyên trách về
vấn đề thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền; chƣa có một quy chế chặt chẽ trong việc xử lý các tố cáo và vi
phạm nhân quyền.
- Sự thiếu hụt các nguồn vật chất bảo đảm.
2.2.1.2 Trong lĩnh vực kinh tế - thương mại
Đây là lĩnh vực mà Việt Nam đã tham gia ký kết, gia nhập nhiều công ƣớc quốc tế. Có thể kể đến các công
ƣớc nhƣ Công ƣớc Paris, Thỏa ƣớc Madrid, Nghị định thƣ Madrid, Công ƣớc Berne....
Số lƣợng các điều ƣớc quốc tế về kinh tế - thƣơng mại mà Việt Nam đã tham gia ký kết rất nhiều, để
nghiên cứu có tập trung, trong phần này, tác giả đề cập đến các luật và quy định của Việt Nam cần thiết
phải sửa đổi, bổ sung khi gia nhập tổ chức thƣơng mại thế giới WTO và thực thi hiệp định thƣơng mại
Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) và sau khi Việt Nam trở thành thành viên của các điều ƣớc quốc tế về lĩnh vực
kinh tế - thƣơng mại khác. Trong quá trình phân tích, tác giả có đánh giá những thành công và những
hạn chế của từng nhóm vấn đề trong quá trình Việt Nam thực thi các công ƣớc quốc tế về kinh tế - thƣơng
mại. Các lĩnh vực mà tác giả đề cập đến trong phần này gồm:


a) Về các quy định liên quan đến thƣơng mại hàng hóa:
+ Về đối xử Tối huệ quốc và không phân biệt đối xử.
+ Về đối xử quốc gia (NT).
+ Về hành động khẩn cấp đối với nhập khẩu.
b) Các quy định liên quan đến sở hữu trí tuệ.
+ Về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
+ Về quyền sở hữu công nghiệp.
c) Các quy định liên quan đến thƣơng mại dịch vụ.
+ Về đối xử tối huệ quốc, đối xử quốc gia và tiếp cận thị trƣờng.
+ Về các dịch vụ kinh doanh.
d) Các quy định liên quan đến pháp luật về đầu tƣ nƣớc ngoài.
+ Về quan niệm đầu tƣ.
+ Về đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status