ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRỊNH VĂN CHIẾN
VAI TRÒ GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM TRONG QUÁ
TRÌNH ĐÀM PHÁN, KÝ KẾT, GIA NHẬP
VÀ THỰC HIỆN CÁC ĐIỀU ƢỚC QUỐC TẾ LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: Ts VŨ ĐỨC LONG
Hà Nội, 2013 3
MC LC
Lời cam đoan Trang
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ GIÁM SÁT
CỦA QUỐC HỘI TRONG QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN, KÝ KẾT, GIA
NHẬP VÀ THỰC HIỆN ĐIỀU ƢỚC QUỐC TẾ 16
1.1. Những vấn đề lý luận chung 16
1.1.1. Khái niệm về vai trò giám sát của Quốc hội Việt Nam trong quá trình
đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế 16
3.1. Phương hướng 88
3.2. Những yêu cầu khách quan và điều kiện cần thiết để nâng cao vai trò
giám sát của Quốc hội 91
3.3. Một số giải pháp 101
3.3.1. Nhóm giải pháp về đối nội 101
3.3.2. Nhóm giải pháp về đối ngoại 115
KẾT LUẬN…………………………………………………… ……… 115
DANH MC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………… 117
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng
định trong bối cảnh quốc tế và trong nước có rất nhiều khó khăn, thách thức,
nước ta vẫn đạt được những thành tựu quan trọng về kinh tế; độc lập, chủ
quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; hoạt động đối ngoại, hội
nhập quốc tế được mở rộng, vị thế, uy tín quốc tế của nước ta được nâng
cao Tuy nhiên, trong 5 năm tới, nước ta đứng trước nhiều thách thức lớn,
đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp, kinh tế nước ta tiếp
tục phục hồi, lấy lại đà tăng trưởng sau thời kỳ suy giảm, sẽ thực hiện nhiều
hơn các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương
Về tình hình thế giới: hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn,
nhưng sẽ có những diễn biến phức tạp mới, tiềm ẩn nhiều bất trắc khó lường.
Những căng thẳng, xung đột tôn giáo, sắc tộc, ly khai, chiến tranh cục bộ,
tranh chấp lãnh thổ, bạo loạn chính trị, can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn sẽ diễn
ra gay gắt; các yếu tố đe doạ an ninh phi truyền thống, tội phạm công nghệ
cao trong các lĩnh vực tài chính - tiền tệ, điện tử - viễn thông, sinh học, môi
trường còn tiếp tục gia tăng
Ecosocmic anh social council “Hội đồng kinh tế và xã hội”, ủy viên Hội đồng
chấp hành United nations development programme “Chương trình phát triển
Liên Hợp quốc”, United nations population fund “Quỹ dân số Liên Hợp
quốc” và Universal postal union “Liên minh Bưu chính thế giới” ), phát huy
vai trò thành viên tích cực của phong trào Không liên kết, Cộng đồng các
nước có sử dụng tiếng Pháp, Association of southeast Asian Nations “Hiệp
hội các quốc gia Đông Nam Á” … Có thể nói ngoại giao đa phương là một 7
điểm sáng trong hoạt động ngoại giao thời đổi mới. Những kết quả đạt được
trong mối quan hệ đan xen này đã củng cố và nâng cao vị thế quốc tế của đất
nước, tạo ra thế cơ động linh hoạt trong quan hệ quốc tế, có lợi cho việc bảo
vệ độc lập tự chủ và an ninh cũng như công cuộc xây dựng đất nước.
Trong quá trình hội nhập sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội, trước yêu cầu đổi mới hội nhập và phát triển, Việt Nam đã, đang và sẽ
tích cực chủ động mở rộng quan hệ hợp tác phát triển, sẵn sàng là bạn, là đối
tác tin cậy với các nước trên thế giới vì hòa bình, ổn định và phát triển trên cơ
sở tuân thủ luật pháp quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia. Vì vậy,
việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế là đòi hỏi khách quan, là
bệ phóng cho những tiềm năng của đất nước trỗi dậy, là cơ sở pháp lý để bảo
vệ quyền lợi chính đáng của dân tộc, của nhân dân, của doanh nghiệp… Tính
từ năm 1955 trở lại đây, Việt Nam đã ký kết rất nhiều các điều ước quốc tế.
“Theo Chỉ thị số 14/2008/CT- TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày
22/4/2008 chỉ tính riêng trong lĩnh vực kinh tế - thương mại là 1.082 điều
ước, trong đó 700 điều ước quốc tế hiện còn hiệu lực về thương mại, nông
nghiệp, công nghiệp, hàng hải, hàng không, đường bộ, đường sắt, lao động,
hợp tác nghề cá và phát triển thuỷ sản, du lịch, y tế, tài chính, tín dụng,
khuyến khích và bảo hộ đầu tư, tránh đánh thuế hai lần, bảo hộ quyền sở hữu
trí tuệ” [7, tr 1].
trình đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế? Đây là một
nội dung mới, cần phải nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống làm cơ sở để
hoạch định những chính sách, những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu
lực và hiệu quả của các điều ước quốc tế, đáp ứng và thúc đẩy sự hợp tác
quốc tế toàn diện, vững bền, mang tầm vóc quốc gia, dân tộc. 9
Nhận thức được tầm quan trọng trên, tác giả đã đề xuất vấn đề cần
nghiên cứu là “Vai trò giám sát của Quốc hội Việt Nam trong quá trình đàm
phán, ký kết, gia nhập và thực hiện các điều ước quốc tế ” làm Luận văn
thạc sỹ luật học, chuyên ngành Luật Quốc tế. Việc nghiên cứu vấn đề này có
ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn trong việc đổi mới tổ chức và
nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội; phân định rõ vị trí, vai trò của
các cơ quan nước trong quá trình đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện
điều ước quốc tế; nâng cao hiệu lực, hiệu quả của các điều ước quốc tế mà
nước ta là thành viên, thúc đẩy quá trình phát triển của đất nước, tạo đà cho sự
thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu về hoạt động giám sát
của Quốc hội nói chung và hoạt động giám sát trong quá trình đàm phán, ký
kết, gia nhập và thực hiện các điều ước quốc tế nói riêng, như:
- Đề tài nghiên cứu khoa học Đổi mới hoạt động giám sát và xây dựng
quy trình giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc
hội, đây là một đề tài nhánh thuộc đề tài trọng điểm quốc gia: “Luận cứ khoa
học để xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động của Quốc hội”
do Văn phòng Quốc hội chủ trì được triển khai nghiên cứu từ tháng 10 năm
2000. Tuy nhiên, đề tài này được nghiên cứu trong bối cảnh Luật Hoạt động
giám sát của Quốc hội chưa ra đời.
- Cuốn sách “Quyền giám sát của Quốc hội – nội dung và thực tiễn từ
quan nhà nước trong hoạt động đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện các
điều ước quốc tế.
11
3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn đặt trọng tâm nghiên cứu vào các vấn đề lý luận và thực tiễn
đặt ra cho Quốc hội trong việc thực hiện chức năng giám sát tối cao đối với
hoạt động của các cơ quan nhà nước trong quá trình đàm phán, ký kết, gia
nhập và thực hiện điều ước quốc tế. Qua việc phân tích, tổng hợp hệ thống
pháp luật thực định liên quan đến công tác này và qua thực trạng hoạt động
giám sát của Quốc hội để từ đó tìm ra được những hạn chế, bất cập của hoạt
động giám sát, đánh giá tính hợp lý, khả thi của hệ thống pháp luật, những
vấn đề còn tồn tại, những quy định chưa phù hợp hay những nội dung cần
nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các văn bản pháp luật Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay, góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý để Quốc hội, các
cơ quan của Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao và góp phần hoàn
thiện cơ sở pháp lý để các cơ quan nhà nước tiến hành các hoạt động đàm
phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế.
4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục tiêu nghiên cứu
Qua việc làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về giám sát tối cao
của Quốc hội trong hoạt động đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều
ước quốc tế, Luận văn sẽ đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện
các quy định của pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan
của Quốc hội về đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục tiêu nghiên cứu nói trên, Luận văn có những nhiệm vụ chủ
yếu sau đây:
Việc nghiên cứu chủ yếu sử dụng ba phương pháp: Nghiên cứu lý
thuyết, nghiên cứu so sánh pháp luật và đối chiếu với thực tiễn:
Việc nghiên cứu lý thuyết tập trung vào các quy định của pháp luật về
hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc
hội trong quá trình đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế
của các cơ quan nhà nước theo Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước
quốc tế.
Phương pháp nghiên cứu so sánh được áp dụng trong trường hợp đối
chiếu các quy định của pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ
quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội trong quá trình đàm phán, ký kết, gia
nhập và thực hiện điều ước quốc tế, thực tiễn tổ chức hoạt động giám sát của
Quốc hội nhằm tìm ra những nhân tố hợp lý và những tồn tại hiện nay.
Để đảm bảo lý thuyết và thực tiễn luôn được đặt song song với nhau,
việc nghiên cứu các hoạt động giám sát của Quốc hội trong quá trình đàm
phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế cụ thể là một phần không
thể thiếu được trong Luận văn này. Những hoạt động giám sát của Quốc hội
trong quá trình đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế được
đưa vào một cách hợp lý để chứng minh một cách chi tiết và hỗ trợ cho việc
phân tích các vấn đề pháp lý được đưa ra.
6. Ý nghĩa khoa học
Với mục đích, phạm vi và nhiệm vụ đặt ra, nội dung của Luật văn có
những điểm mới sau:
Một là, Luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cũng như
thực tiễn hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam nói chung và trong đàm
phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế nói riêng. Các nghiên
cứu sẽ đóp góp vào việc giải đáp các vấn đề được đặt ra, như: “ Cơ sở pháp lý 14
cho hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu
Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng trong việc xây dựng và hoàn thiện
quy định của pháp luật nước ta về hoạt động giám sát của Quốc hội, về hoạt
động đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế, cải thiện và
hoàn thiện bộ máy nhà nước để thực hiện tối ưu ba quyền lập pháp, hành pháp
và tư pháp.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về vai trò giám sát của Quốc hội
trong quá trình đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế;
- Chương 2: Thực trạng quy pháp luật và thực tiễn tác động của việc
theo dõi, xem xét, đánh giá của Quốc hội đối với hoạt động của các cơ quan
nhà nước trong quá trình đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước
quốc tế;
- Chương 3: Phương hướng và kiến nghị nâng cao vai trò giám sát của
Quốc hội trong quá trình đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước
quốc tế.
16
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ GIÁM SÁT CỦA
QUỐC HỘI TRONG QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN, KÝ KẾT, GIA
NHẬP VÀ THỰC HIỆN ĐIỀU ƢỚC QUỐC TẾ
1.1. Những vấn đề lý luận chung
1.1.1. Khái niệm về vai trò giám sát của Quốc hội Việt Nam trong quá trình
đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ƣớc quốc tế
Theo từ điển Tiếng Việt thì “vai trò” được hiểu “là tác dụng, chức
Hiến pháp và pháp luật đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước. Theo từ điển
Luật học của Viện pháp lý, Bộ Tư pháp thì:
“Giám sát tối cao được hiểu là quyền của Quốc hội thực hiện giám sát
việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội trong toàn bộ hoạt
động của Nhà nước. Hiến pháp năm 1959 mới chỉ ghi nhận quyền của Quốc
hội giám sát việc thi hành Hiến pháp (Điều 50). Quyền giám sát tối cao của
Quốc hội trong toàn bộ hoạt động của Nhà nước lần đầu tiên được ghi nhận
tại Điều 82 Hiến pháp năm 1980 và được tiếp tục ghi nhận tại Điều 83 Hiến
pháp năm 1993. Quyền giám sát tối cao của Quốc hội được thực hiện thông
qua hoạt động giám sát của Quốc hội tại kỳ họp, hoạt động giám sát của Ủy
ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn
đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội. Tại kỳ họp, Quốc hội thực hiện
quyền giám sát tối cao trong hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ
tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao trong việc tuân thủ Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội thông qua 18
việc xem xét, phê chuẩn các báo cáo của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ
tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao; chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hôi, Thủ tướng Chính phủ,
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao.
Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc
hội, Đoàn đại biểu Quốc hội trong phạm vi quyền hạn của mình giám sát việc
tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội trong
hoạt động của các cơ quan, tổ chức thông qua việc xem xét các báo cáo, kiểm
tra tình hình thực tế tại chỗ cũng như tiếp xúc với cử tri tại các địa phương”
[4]. Theo từ điển Hán – Việt của Đào Duy Anh thì “giám sát là xem xét và
đàm hạch” [1].
Về bản chất, giám sát là việc Quốc hội thu thập thông tin về hoạt động
dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội
theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu
sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội,
pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội”. [17].
Như vậy, nội dung của khái niệm hoạt động giám sát của Quốc hội theo
quy định của pháp luật, bao gồm: Chủ thể giám sát, chủ thể bị giám sát, hậu
quả của hoạt động giám sát, cơ sở của hoạt động giám sát, các phương thức
để thực hiện hoạt động giám sát.
Nói đến hoạt động giám sát là nói đến hoạt động của các cơ quan dân
cử gồm có Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Thẩm quyền giám sát của
Quốc hội rất rộng lớn, được ghi nhận trong các văn bản pháp luật có tính chất
pháp lý cao nhất: “Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao trong toàn bộ
hoạt động của Nhà nước” [16]. Điều này xuất phát từ bản chất nhà nước, nhà 20
nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân. Nhân dân bầu ra Quốc hội trên nguyên tắc trực tiếp,
phố thông, bình đẳng và bỏ phiếu kín. Thông qua Quốc hội, nhân dân thực
hiện quyền làm chủ của mình, các đại biểu Quốc hội với lá phiếu bầu của
nhân dân họ sẽ thay mặt nhân dân thực hiện các chức năng của Quốc hội là
lập hiến, lập pháp; quyết định những vấn đề quan trọng và giám sát tối cao
trong toàn bộ hoạt động của nhà nước và xã hội.
Hoạt động giám sát của Quốc hội trong quá trình đàm phán, ký kết, gia
nhập và thực hiện điều ước quốc tế được hiểu là hoạt động của Quốc hội, các
cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội dùng các phương tiện công cụ của
mình để tiến hành tìm hiểu việc thực thi pháp luật quy định về hoạt động đàm
phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế. Là cơ sở để Quốc hội
xem xét, phê chuẩn, rút khỏi, bảo lưu … các điều ước quốc tế do Chủ tịch
nước trình ra Quốc hội, là cơ sở để Quốc hội sửa đổi các văn bản pháp luật
các hoạt động đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế.
Về hậu quả pháp lý của giám sát tối cao: Quốc hội ban hành Nghị quyết
để biểu dương, phê phán, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh do Quốc hội
bầu hoặc phê chuẩn; ban hành Nghị quyết yêu cầu các cơ quan bãi bỏ toàn bộ
hoặc một phần văn bản quy phạm pháp luật trong đó có điều ước quốc tế…và
hoạt động giám sát tối cao được tiến hành trên các phương thức luật định.
Hoạt động giám sát của Quốc hội trong quá trình đàm phán, ký kết, gia
nhập và thực hiện điều ước quốc tế là một quá trình liên tục từ khi đàm phán
đến việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế. Điều này xuất phát từ
yêu cầu của thực tiễn, bên cạnh hoạt động xây dựng pháp luật thực định với
một quy trình luật định chặt chẽ nhằm bảo đảm Quốc hội xây dựng được 22
những đạo luật có tính khả thi cao thì việc giám sát hoạt động đàm phán, ký
kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế cũng rất quan trọng vì có nhiều
quy định của điều ước quốc tế được áp dụng trực tiếp kể cả khi có quy định
trái với các quy định của luật thực định, hơn nữa khác với quy trình xây dựng
pháp luật, Quốc hội trực tiếp tiến hành cho ý kiến vào nội dung dự án luật
ngay từ khi “thai nghén” còn trong hoạt động đàm phán, ký kết, gia nhập và
thực hiện điều ước quốc tế phần lớn là do các cơ quan của Chính phủ, các chủ
thể được Quốc hội trao quyền tiến hành trên cơ sở quy định của pháp luật, vì
vậy, hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội trong lĩnh vực này lại càng có ý
nghĩa quan trọng nhằm tránh việc lạm quyền, tránh những thiệt hại về chính
trị, kinh tế…do sự ràng buộc của điều ước quốc tế mà nước ta đã ký kết, tham
gia hoặc khi thực thi những điều ước quốc tế này. Mặc khác, thông qua hoạt
động giám sát tối cao, Quốc hội còn bảo đảm sự tuân thủ pháp luật của các cơ
quan nhà nước trong hoạt động đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều
ước quốc tế …
Mặc dù Hiến pháp có ghi nhận Quốc hội có quyền giám sát tối cao
“Theo quy định tại Khoản 1, Điều 1, Công ước Viên 1969 về Luật Điều
ước quốc tế thì điều ước quốc tế được hiểu là một thỏa thuận quốc tế được ký
kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được luật quốc tế điều chỉnh, không
phụ thuộc vào việc thỏa thuận đó được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất
hoặc hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau, cũng như không phụ thuộc
vào tên gọi của các văn kiện đó” [29].
Điều ước quốc tế là sản phẩm của quá trình vừa đấu tranh vừa hợp tác
giữa các chủ thể của Luật quốc tế, trong đó chứa đựng các quy phạm pháp lý
quốc tế làm công cụ, phương tiện để xây dựng, duy trì, phát triển quan hệ hợp 24
tác quốc tế trên mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ, cũng như mọi khuôn khổ song
phương, đa phương, hoặc thông qua tổ chức quốc tế.
Điều ước quốc tế có chủ thể, có nội dung, hình thức thể hiện nhất định
và căn cứ pháp lý để tiến hành xây dựng điều ước quốc tế.
Về chủ thể của điều ước quốc tế: trước hết, sự ra đời, tồn tại và phát
triển của điều ước quốc tế là kết quả của quá trình đấu tranh, thương lượng
của ít nhất hai chủ thể của luật quốc tế tham gia có thể là trong quá trình đàm
phán, ký kết, thực hiện hoặc trong quá trình gia nhập, ký kết, thực hiện điều
ước quốc tế. Việc đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế
thể hiện quyền năng của chủ thể luật quốc tế mà chủ yếu là các quốc gia.
Một thỏa thuận được ký kết giữa một bên là quốc gia và bên kia là một
công ty hoặc một cá nhân không có tư cách đại diện cho quốc gia đó không
phải là điều ước quốc tế. Quốc gia, Chính phủ là một thực thể pháp lý và thực
hiện việc ký kết, gia nhập điều ước quốc tế thông qua một con người cụ thể
được Quốc gia, Chính phủ ủy quyền thực hiện, có thể là người đứng đầu quốc
gia, người đứng đầu Chính phủ hoặc người đứng đầu các bộ, các cơ quan của
nhà nước hoặc Quốc hội. Do đó, đôi khi các quốc gia còn gọi điều ước quốc
tế ký kết giữa nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu Chính phủ và người đứng
công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác…[18].
Hiệp ước: Chủ yếu dùng trong các điều ước quốc tế giữa Nhà nước với
Nhà nước về hòa bình, hữu nghị, về liên minh, về hoạch định biên giới quốc gia.
Hiệp định: Được dùng phổ biến nhất giữa Chính phủ với Chính phủ về
hợp tác trong các lĩnh vực khác nhau (Hiệp định lãnh sự; Hiệp định giao
thông đường bộ, Hiệp định thương mại, Hiệp định quá cảnh, Hiệp định vận
tải hàng không v.v ) và về các Dự án cụ thể.