Sử dụng một số di tích lịch sử ở hà nội trong dạy học lịch sử việt nam lớp 11 THPT - Pdf 39

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH sử
===BDBŨICS=

NGUYỄN YĂN

SỬ DUNG MÔT SỐ DI TÍCH LICH
sử
Ở HÀ NÔI TRONG DAY HOC
LICH SỬ VIẼT NAM LỚP 11 THPT

Người hướng dẫn khoa học
TS. HOÀNG THANH TÚ

HÀ NỘI -


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được khóa luận này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi xin
bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới cô - TS Hoàng Thanh Tú, người đã trực tiếp hướng
dẫn và giúp đỡ em trong quá trình làm và hoàn thảnh khỏa luận này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo của trường
Đại học Sư phạm Hà Nội 2 nơi đã đào tạo tôi trong suốt 4 năm qua.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đinh, bạn bè, người thân đã động
viên, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Hà Nội, 03 ngày 05 tháng năm 2016
Sinh viên

Nguyễn Văn Tuất
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DHLS


SGK

Sách giáo khoa

THPT

Trung học phổ thông


MỤC LỤC

PHULƯC


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đường lối phát triển GD&ĐT của Đảng và Nhà nước ta đã xác định rõ:
"Giáo dục và đào tạo là nhân tố quyết định để phát huy tiềm năng trí tuệ và

năng lực sáng tạo của con người Việt Nam, là động lực quan trọng để đẩy mạnh
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa nước ta tiến nhanh và
vững, hội nhập với quốc tế thẳng lợi. Sánh vai với các cường quốc tiên tiến trên
thế giới”.[ 3.tr6]
Tuy nhiên, cho đến nay nền giáo dục và đạo tạo nước ta còn tồn tại nhiều
hạn chế. Cho nên giáo dục cần phải đổi mới và “Đổi mới mang tỉnh cách mạng”,
cần phải đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và lấy đổi mới phương pháp dạy
và học làm giải pháp then chốt cho mục tiêu giáo dục lấy người học làm trung
tâm, nhằm phát huy khả năng độc lập về suy nghĩ và t ính sáng tạo của học sinh,
thực hiện nguyên lý, học đi đôi với hành, giáo dục kết họp với lao động sản xuất,

phương tiện dạy học nhằm hình thành ở học sinh con đường nhận thức hiệu quả
nhất. Trong khi các bộ môn khoa học tự nhiên tìm đến phòng thí nghiệm làm nơi
nghiên cứu thực hành thì bộ môn lịch sử tìm đến các bảo tàng, hiện vật, tài liệu
trong đó di tích lịch sử chính là nơi học tập hữu ích, thiết thực cho việc học Lịch
sử ở trường phổ thông.
Di tích lịch sử là nơi lưu giữ và chứng nhân lịch sử của dân tộc các nước.
Từ lâu tham quan di tích được coi là hình thức dạy học quan ừọng, nhất là đối
với môn Lịch sử. Trong chương trình môn học Lịch sử đều có nội dung tham
quan các bảo tàng, di tích.
Tuy nhiên, trên thực tế, các trường phổ thông, nhất là các trường ở vùng
xa thủ đô, học sinh còn ít được tham gia các hoạt động ở các di tích dù chỉ một
lần để phục vụ cho việc dạy và học Lịch sử. Nguyên nhân là do các di tích ở xa
trường học nên việc tổ chức đi lại đến di tích của trường sẽ gặp nhiều khỏ khăn.


Mặt khác tổ chức các buổi hoạt động ngoại khóa hay đi tham quan thực tế các di
tích thì việc duy trì, bao quát lớp và nhắc nhở HS là điều không dễ dàng đối với
người GV, đòi hỏi GV phải là người có kinh nghiệm, chủ động và linh hoạt mới
làm được điều đó.
Việc đưa các học sinh đến tham quan ở du lịch được thì rất tốt, và việc
học tập rất cao, không chỉ nâng cao tính tích cực chủ động ừong học tập mà còn
tạo cho các em một khoảng không gian, thời gian thật ý nghĩa và vui tươi bởi các
em được tham gia học tập và tham gia những trò chơi ở đây (vừa học vừa chơi).
Khác với những hình thức dạy học khác, hình thức dạy học bằng các di
tích lịch sử còn khá mới mẻ, học tại di tích lịch sử học sinh sẽ được tận mắt
chứng kiến và quan sát những di tích đó như thế nào. Khi đó trong đầu các em
mường tượng ra được năm xưa nơi đây lịch sử nó được diễn ra như thế nào, từng
chi tiết sự kiện dàn xuất hiện trong đầu các em, việc học tập trở nên sinh động
hơn. Chính vì vậy, chúng tôi đã quyết định tiến hành thực hiện đề tài: “Sử dụng
một sổ di tích Lịch sử ở Hà Nội trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 11 THPT” với

Nguyễn Thị Kim Thành, Tràn Thị Vân Anh với cuốn “Bảo tàng, di tích ncri
khơi nguồn cảm hứng dạy và học lịch sử cho học sinh phổ thông”, trong công trình

này, tác giả đã trình bày rất khái quát, dễ hiểu về mối quan hệ bổ ừợ giữa việc
truyền thụ kiến thức trong nhà trường với phương pháp tiếp cận mới ừong việc
dạy và học lịch sử từ bảo tàng và di tích.
Chu Ngọc Quỳnh với đề tài “Tổ chức hoạt động ngoại khóa lịch sử tại bảo
tàng Dân tộc học Việt Nam cho học sinh lớp 10 THPT” (Khóa luận tốt nghiệp, Đại

học Giáo dục - ĐHQGHN, 2013), nội dung của khóa luận đã đi sâu nghiên cứu,
đánh giá thực trạng, vai trò của việc sử dụng bảo tàng trong dạy học môn Lịch
sử.
Nhìn chung, tất các công trình nghiên cứu về sử dụng các di tích lịch sử


trong dạy học thì rất ít, và nếu có cũng chỉ nghiên cứu sâu về việc tổ chức tại bảo
tàng, còn di tích thì không có nhiều. Chính vì thế mà tôi đã quyết định chọn đề
tài “Sử dụng một số di tích ở Hà Nội trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 11 trung học
phổ thông”.

3. Đổi tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: sử dụng các di tích lịch sử ở Hà Nội trong dạy
học lịch sử Việt Nam lớp 11 THPT.
- Phạm vi khảo sát, thực nghiệm: Học sinh THPT các trường THPT ừên
địa bàn Hà Nội như trường: THPT Xuân Giang, THPT Đa Phúc, trung tâm
GDTX Sóc Sơn (Sóc Som - Hà Nội).
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích:
+ Trên cơ sở khẳng định vai trò của việc sử dụng di tích lịch sử trong
DHLS nói chung, đề tài nghiên cứu đề xuất các hình thức và biện pháp sử dụng

tíong dạy học lịch sử ở trường THPT.
- Đề xuất các biện pháp sử dụng một số di tích ở Hà Nội trong dạy học lịch
sử Việt Nam lớp 11 THPT.
7. Cấu trúc của đề tài.
Ngoài phàn mở đàu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục, khóa luận gồm có 2 chương:
Chương 1 : Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc sử dụng các di
tích lịch sử ở Hà Nội trong dạy học Lịch sử lớp 11 THPT.
Chương 2: Một số biện pháp sử dụng các di tích ở Hà Nội trong dạy học lịch sử
Việt Nam lớp 11 THPT. Thực nghiệm sư phạm.


Chương 1: cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TIỄN CỦA VIỆC sử DỤNG
CÁC DI TÍCH LỊCH sử Ở HÀ NỘI TRONG DẠY HỌC
LỊCH SỬ VIỆT NAM
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1.

Các khái niệm liên quan

Di tích lịch sử là những sản phẩm lao động sáng tạo của con người, sản
phẩm của văn hóa, văn minh trong các thời kì lịch sử. Trong di tích lịch sử có
nhiều loại di tích phản ánh cuộc đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của
Đảng. Di tích bao gồm những hiện vật, vật chất như nhà cửa, thành quách, y
phục, công cụ lao động... Như trong quá trình của lịch sử con người đã sáng tạo
ra những sản phẩm văn hóa đặc trưng cho thời đại mình hoặc người đời sau tạo
dựng nên nhằm tưởng niệm những gì đã qua. Những sản phẩm của lịch sử đó
còn lưu lại đến nay cũng được coi là di tích lịch sử, mang tính chất bằng chứng
của lịch sử: “Bằng chứng là những dấu vết của dĩ vãng còn để lại, nhằm mục đích
bảo tồn quá khứ hoặc chỉ dẫn cho hậu thế về những việc xảy ra trong qua khứ”. Bằng

đổi mới phương pháp dạy học lịch sử, việc sử dụng một số di tích trong dạy học
lịch sử Việt Nam lớp 11 thì đó là môt việc nên làm. Bởi với hình thức này,
không chỉ truyền tải cho HS một khối lượng kiến thức càn thiết. Mặt khác, nói
cũng tạo sự hứng thú cho HS, vì chúng có thể trực tiếp tham gia vào bài học.
- Ý nghĩa:
+ về cung cấp kiến thức: với hình thức này, đem lại cho HS một vốn

kiến thức căn bản về các di tích lịch sử. Đồng thời, thấy được vai trò và ý nghĩa
của các di tich đó ừong sự nghiệp phát triển của lịch sử nước ta. Các di tích lịch
sử cung cấp tư liệu kiến thức về các thời kì đã qua của lịch sử thông qua các
hình ảnh, hiện vật, bia tượng và các thước phim tư liệu.
Ví dụ: Với hình ảnh và những thước phim về ga Hà Nội đã cung cấp
cho HS một nguồn tư liệu quý để từ đó HS thấy được sự chuyển biến mạnh mẽ
của nước ta khi Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất.
+ về phát triển kỹ năng: hình thức dạy học có sử dụng một số di tích


lịch sử ở Hà Nội ừong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 11 THPT hiệu quả thì yêu
cầu người GV cần sử dụng đa dạng các kỹ năng dạy học để đem lại hiệu quả
cho bài giảng. Vì thế, nó rèn cho HS kỹ năng thuyết trình, thảo luận nhóm,
phân tích, so sánh...
Ví dụ: tại nhà tù Hỏa Lò GV cho HS tham quan di tích trước sau đó yêu
cầu HS. Hãy nhập vai làm một hướng dẫn viên của nhà tù giới thiệu cho du
khách và bạn bè trong lớp về nhà tù Hỏa Lò thông qua các nguồn tư liệu và các
hiện vật có còn được giữ tại đây. Từ đó nó sẽ rèn cho HS rất nhiều kỹ năng từ
thuyết trình cho đến ứng xử, làm việc nhóm, HS tự tin horn nhiều...
+ về giáo dục thái độ: Với việc nhận biết được nội dung về các di tích

lịch sử ừong dạy học lịch sử. Để từ đó hình thành ở HS lòng yêu quê hưorng,
đất nước. Tự hào dân tộc, biết om các anh hừng đã hi sinh vì đất nước, thái độ

ra đời khiến việc đi lại của chúng ta thuận tiện hon, nhưng mặt khác nó lại
đem lại một thiệt hại lớn cho đất nước ta. Khi đó việc khai thác, bóc lột của
Pháp ngày càng thuận tiện hơn.
Sử dụng có cách chọn lọc những di tích tiêu biểu nổi bật để làm sáng tỏ
nội dung mà bài học yêu càu. Nội dung nói về di tích thì phải phù họp với nội
dung bài học yêu cầu.
Sử dụng một cách khoa học tránh việc đi diễn tả, giới thiệu sâu về các
di tích mà làm cho nội dung kiến thức của bài học không được truyền tải hết
cho học sinh, ảnh hưởng đến thời gian của tiết dạy.
Ví dụ: Khi học về nội dung “Phong trào kháng chiến ở Bắc Kì trong
những năm 1873 - 1874”, nằm trong bài 20 “Chiến sự lan rộng ra cả nước. Cuộc
kháng chiến của nhân dân ta từ năm 1973 đến năm 1884. Nhà Nguyễn đầu
hàng”,GV sẽ sử dụng di tích “Ô Quan Chưởng” để nói về sự đấu tranh của

nhân dân Hà Nội tại đây đấu trả chống Pháp khi Pháp tiến đánh bắc Kì lần 1.
Khi nói thì chúng ta không cần phải đi sâu về sự hình thành của “Ô Quan
Chưởng” qua các giai đoạn lịch sử, mà chúng ta chỉ cần nhấn nhắc đến những

vẫn đề nổi bật và nổi ừội mà thôi như: giải thích cho học sinh biết tại sao


trước kia của ô này có tên là “cửa Ô Thanh Hà ”, hay nói đây là của ô chính
còn sót lại cho đến ngày nay, tại đây diễn ra chiến đấu của 100 b inh sĩ triều
đình như thế nào. Neu học sinh đến được tận nơi thì chúng ta có thể sử dụng
bằng cách là chia học sinh thành các nhóm đống vai là người hướng dẫn viên
du lịch để giới thiệu cho khách du lịch về “Ô Quan Chưởng
1.2.
C
ơ sở
thưc

phần rất lớn trong việc hoàn thiện nhân cách học sinh. Cộng thêm vào đó là
những giáo viên dạy sử luôn cho học sinh bị động tiếp thu kiến thức một cách
thụ động đọc chép, nếu có giảng dạy thì chỉ giảng qua loa không sâu. Hom thế
nữa còn yêu cầu cao ở học sinh, nghiêm khắc với học sinh, chính vì vậy mà có
tình trạng học sinh vừa “ghét” môn học lại vừa “ghét” giáo viên dạy luôn. Mặc
dù giáo viên có sử dụng phương pháp mới, có phát huy tính tích cực và tư duy
của học sinh và đa số học sinh đều tham gia hoạt động, nhưng bên cạnh đó
cũng có một vài học sinh cá biệt không chú ý đến bài học. Những học sinh này
thường tập trung ở những dãy bàn cuối lớp, trong giờ không làm việc riêng thì
mất trật tự nói chuyện, nói tự do trong giờ học. Có khi còn lợi dụng những lúc
thảo luận nhóm để nói chuyện với bạn bè. Có những học sinh do ham choi hoặc
do bận công việc gia đình không chuẩn bị bài trước, cho nên giáo viên đặt câu
hỏi hoặc đặt vấn đề nào đó cho giải quyết thì các em lúng túng, không trả lời
được làm ảnh hưởng đến thời gian tiết học. Hay giáo viên có hỏi tất các nôi
dung trong SGK, học sinh biết nhưng không giờ tay phát biểu. Khi hỏi các em
lý do thì bảo chán không muốn học không muốn giơ tay. Trên đây là thực trạng
của việc dạy và học môn Lịch sử hiện nay.
Hiện nay, việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung và dạy học Lịch
sử nói riêng trong trường phổ thông không chỉ là phong trào mà còn là một yêu
cầu bắt buộc đối với giáo viên. Nhưng ừên thực tế, kết quả khảo sát và điều tra
xã hội học cho thấy tỷ lệ giáo viên thực hiện được các yêu cầu này chưa nhiều


và họ gặp nhiều khó khăn, trong đó khó khăn lớn nhất là do
các thói quen đọc chép, thuyết giảng, lệ thuộc sách giáo khoa. Điều này tạo ra
thói quen thụ động của trò. Để chống lại thói quen này, nhiều giáo viên đã chủ
động trong việc tìm tòi những cách thức mới trong truyền đạt kiến thức, song
do nhận thức chưa đầy đủ nên việc đổi mới phương pháp chưa hiệu quả. Ví
dụ: Nhằm mục đích phát huy tính tích cực của học sinh, trong nhiều tiết học
từ đàu tới cuối chỉ thấy giáo viên hỏi, học sinh trả lời, hoặc cả tiết học, học

Với việc sử dụng này sẽ giúp giáo viên nhận biết được tình hình các trường đã
áp dụng phương pháp này như thế nào, và nếu ứng dụng trong bài học thì có
hiệu quả không.
về điều tra khảo sát được tiến hành ở một số trường THPT như : Trường

THPT Xuân Giang, THPT Đa Phúc, Trung tâm GDTXSS..
về phương pháp tiến hành: điều tra bằng phiếu thăm dò ý kiến của giáo

viên và học sinh tại các trường THPT nói trên.
1.2.1.2. Nội dung điều tra
Nội dung điều ừa, khảo sát tập trung ở các vấn đề cơ bản sau:
Đối với GV: Nội dung điều tra tập trung về việc thực trạng, mức độ và
cách thức sử dụng một số di tích ở Hà Nội trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp
11. Ưu, nhược điểm của việc sử dụng một số di tích ở Hà Nội trong dạy học
lịch sử Việt Nam. Quan niệm của GV về vấn đề sử dụng một số di tích ở
Hà Nội trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 11. Cuối cùng là, khảo sát
vấn đề GV có cách đánh giá và đề xuất một số biện pháp để sử dụng các
di tích trong dạy học hiệu quả hơn.
Đối với học sinh, nội dung điều tra tập trung ý kiến của học sinh về việc
sử dụng một số di tích lịch sử ở Hà Nội ừong dạy học lịch sử Việt Nam lóp 11.
Mặt khác, cũng tập trung vào điều tra mức độ hứng thú của học sinh khi giáo
viên đưa việc sử dụng các di tích ở Hà Nội, vận dụng vào dạy học Lịch sử. Ý
kiến của học sinh khi đươc giáo viên sử dụng các di tích trong quá trình dạy


học.
1.2.1.3.

Kết quả điều tra


trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 11 thì đại đa số học sinh cho rằng việc sử
dụng này rất cần thiết. Còn lại chiếm 10,2% học sinh cho rằng việc đưa các di
tích dạy học lịch sử ở Hà Nội vào trong dạy học có cần thiết không thì các học
sinh đó cho rằng không cần thiết và có cũng được không có cũng được. Khi hỏi
lý do thì các em cho biết, do môn này các em cảm thấy nhàn chán từ cấp 2 rồi,
lên đến cấp 3 lại được học cô giáo chỉ đọc cho HS chép bài ch ính vì thế mà các
em coi việc sử dụng này là không cần thiết. Mức độ các em học sinh được đi
tham quan theo hình thức một buổi ngoại khóa thì lại chưa bao giờ có. Bởi hiện
nay, các di tích đã dần bị lãng quên bởi những trung tâm thưong mại với nhiều
trò chơi giải trí, chính vì lẽ đó mà các khu di tích chủ yếu cho những người
trung niên, và một vài bạn thanh thiếu niên dam mê, yêu thích lịch sử. Còn đại
đa số là vắng bóng học sinh ở các khu di tích. Khi lấy ý kiến của các em học
sinh về việc sử dụng một số di tích lịch sử ừong dạy học đem lại hiệu quả hơn,
thì có em Nguyễn Đức Trung, học sinh lớp 11E, trường THPT Xuân Giang,
“Em rất đồng tình với việc đưa các di tích lịch sử trong dạy học và em cũng hỉ vọng
vẩn đề nghiên cứu của đề tài nhanh chóng được thực hiện để cho em và các bạn học
sinh lớp 11 sẽ được học môn Lịch sử vui ham, thú vị và hấp dẫn hơn”. Điều đó cho

thấy, không phải tất cả HS đều quay lưng với môn lịch sử của chúng ta, mà HS
đang quay lưng với chính phương pháp dạy học lịch sử của chúng ta. Khảo sát
về việc sử dụng một số di tích ở Hà Nội ừong dạy học lịch sử có càn thiết
không, thì đa số học sinh cho là việc sử dụng này là rất cần thiết và cần thiết,
chiếm 90,5%, còn lại rơi vào những học sinh các biệt không quan trọng tất cả


các môn. Vì vậy có 9,5% HS cho là có cũng được, không cũng được. Khảo sát
về hình thức dạy học ngoại khóa có sử dụng các di tích lịch sử ở Hà Nội thì đa
số chiếm đến 100% HS cho là việc sử dụng như vậy sẽ rất hấp dẫn đối với bài
học lịch sử.





Việt Nam
2.1.1.

Đảm bảo tính tư tưởng, tính khoa học

Lịch sử là bản thân cuộc sống mà loài người phải trải qua. Hiện thực LS là khách quan, chỉ có một nhung
nhận thức LS lại có nhiều, tùy theo trình độ, tính yêu cầu, quyền lợi, con người tìm hiểu LS. Trong những nhận thức
khác nhau về LS chỉ có một nhận thức đứng, đó là nhận thức phản ánh LS khách quan đúng như nó nội tại trên cơ sở
Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng cộng sản.
Sử dụng các di tích lịch sử vào bài học nó càn phải đảm bảo đúng nội dung trong SGK, sử dụng phải đảm
bảo đủ thời gian họp lý cho bài dạy. Tất cả những nội dung GV cung cấp cho học sinh về di tích đó cần phải xác thực


tránh lệch lạc, xuyên tạc lịch sử hay bịa lịch sử. Nội dung nói về các di tích cần bố trí khoa học, quan trọng thì nói
tranh trường họp nói miên man học s inh không hiểu bài. Luôn luôn đổi mói hình thức dạy để cho bài học phong phú
hơn.
2.1.2. Đảm bảo phù hợp với mục tiêu nội dung, bài học
Đây là một nguyên tắc hàng đầu và không thể thiếu khi sử dụng kiến thức văn học. Mỗi chương, bài đều có
những nhiệm vụ nhận thức nhất định, đều phải đạt được yêu cầu cụ thể về giáo dục, giáo dưỡng và phát triển. Do đó,
mỗi nội dung nói về di tích đó cần phải cung cấp đày đủ kiến thức mà người GV cần truyền đạt cho HS. Tuy nhiên,
có không ít di tích đã đi vào quá khứ rất ít người biết đến. Vì vậy, cần đòi hỏi giáo viên phải nghiên cứu kỹ, đọc
nhiều tài liệu có liên quan để đảm bảo tài liệu đó phù hợp với mục, bài cụ thể.
2.1.3. Đảm bảo phát huy tính tích cực của học sinh
Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập luôn là một yêu càu, nhiệm vụ quan
trọng trong dạy học. Để đảm bảo nguyên tắc này, trước hết giáo viên phải chú ý trong việc lựa chọn di tích lịch sử có
liên quan đến nội dung lịch sử đang học nhưng chỉ cần giáo viên giới thiệu qua về di tích đó, là học sinh hiểu ngay vì
nó được trình bày đơn giản. Những đoạn tài liệu như thế chỉ mang tính chất minh họa. Vì vậy, giáo viên nên chọn

- Hiểu được nguyên nhân sâu xa và trực tiếp phong trào càn Vương. Trình bày được diễn biến những cuộc khởi
nghĩa tiêu biểu như: Bãi Sậy, Hương Khê và cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế.
- Trình bày được những biểu hiện của sự chuyển biến về kinh tế Việt Nam đầu thế kỉ XX, những chuyển biến
về xã hội với sự ra đời của các giai cấp, tầng lớp mới.
- Giải thích được nguyên nhân của sự chuyển biến về kinh tế, xã hội
- Giải thích nguyên nhân xuất hiện của những phong trào yêu nước đầu
thế kỉ XX, nguyên nhân thất bại.
về kỹ năng

- Phân tích, đánh giá tổng họp, hệ thống hóa sự kiện lịch sử, so sánh đặc điểm, đánh giá tính chất, ý nghĩa các
sự kiện quan ừọng, biết rút ra các nhận xét, kết luận.
- Kỹ năng quan sát và sử dụng tranh ảnh, lược đồ, bẳn đồ
- Kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm, thuyết trình và sử dụng phương
tiện hỗ trợ hiệu quả việc học tập.


về thái độ
- Giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn, lòng biết ơn tổ tiên, các vị anh hùng dân tộc đã chiến đấu đến
cùng để xây dụng và bảo vệ Tổ quốc
- Giáo dục tinh thần yêu nước
- Nâng cao lòng yêu thích, say mê với môn Lịch sử, ý thức quyết tâm vươn lên trong học tập.
Lịch sử Việt Nam từ khi Pháp bắt đầu xâm lược nước ta từ năm 1858 đến kết thúc chiến tranh thế giới thứ
nhất 1918 trong chương trình Lịch sử lớp 11 THPT được chia làm 4 phần với những nội dung chính sau đây:
Nước Việt Nam giữa thể kỉ XIX - đến trước cuộc xâm lược của tư bản Pháp
Chế độ phong kiến bước vào thời kì khủng hoảng suy yếu (về chính trị, kinh tế).
Yêu cầu đặt ra lúc này thực hiện cải cách duy tân đất nước, thúc đẩy sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, tăng
cường tiềm lực quốc phòng để đối phó có hiệu quả với âm mưu xâm nhập và xâm lược từ bên ngoài.
Cuộc xâm lực của tư bản Pháp tới gần đòi hỏi phải tăng cường đoàn kết, t ính táo để không sa vào cạm bẫy của
kẻ thù
Thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam và cuộc kháng chiến của nhân dân ta

hạn chế về điều kiện lịch sử, giai cấp, xã hội, do đó vẫn chưa thể giành được thắng lợi.
Trước sự bế tắc về đường lối cứu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX,
Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước mới cho dân tộc.
2.3. Xác định những di tích ở Hà Nội cần và có thể sử dụng trong dạy học
lieh sử Viêt Nam 1858 đến 1918 « «
Căn cứ vào mục tiêu, nội dung của phàn LSVN từ 1858 đến 1918, GV có thể chọn được 4 di tích Lịch sử tiêu
biểu có liên quan như sau:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status