BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ ÚT HẰNG
TÌM HIỂU MỘT SỐ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TIÊU BIỂU CỦA HUYỆN NGHI XUÂN,
TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
VINH, 2015
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ ÚT HẰNG
TÌM HIỂU MỘT SỐ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TIÊU BIỂU CỦA HUYỆN NGHI XUÂN,
TỈNH HÀ TĨNH
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học
TS. TRẦN VŨ TÀI
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Khi tìm hiểu lịch sử tỉnh Hà Tĩnh, tôi rất say mê và khâm phục lịch sử,
văn hóa huyện Nghi Xuân – Vùng đất hội tụ giữa lịch sử và văn hóa, giữa
học vấn và văn chương, giữa tín ngưỡng tâm linh và cảnh quan du lịch . Vì
thế, tôi quyết định chọn đề tài Tìm hiểu một số di tích lịch sử văn hóa
tiêu biểu của huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
Nghi Xuân là vùng đất địa linh, nhân kiệt, mảnh đất địa đầu Hà
Tĩnh. Nghi Xuân có 99 đỉnh non Hồng chạy dài giáp huyện Can Lộc phía
Đông Nam và Thị xã Hồng Lĩnh phía Tây Nam; có hạ lưu sông Lam chảy
suốt mạn Tây Bắc làm thành thủy giới với Thành phố Vinh và huyện Hưng
Nguyên, Nghi Lộc – Nghệ An. Nghi Xuân có bờ biển ngang chạy suốt
phía Đông của huyện. Núi – sông – biển tạo cho Nghi Xuân thành “ Nghi
Xuân bát cảnh”, sơn thủy hữu tình. Một vùng đất khép kín ngàn đời nay,
trong tiến trình lịch sử đấu tranh với thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm,
Nghi Xuân được coi như phên dậu an toàn Khu so với cả nước.
Cảnh quan thơ mộng, linh khí thiêng liêng, Nghi Xuân đã sản sinh ra
nhiều thế hệ anh hùng tài tử. Chính người Nghi Xuân đã làm rạng rỡ quê
hương Nghi Xuân như: Danh nhân văn hóa thế giới, đại thi hào Nguyễn Du
và dòng họ Nguyễn Tiên Điền. Như Dinh điền sứ, nhà văn hóa, nhà thơ,
nhà quân sự xuất chúng Nguyễn Công Trứ… cùng bao nhiêu nhân tài trên
mọi lĩnh vực. Về chính trị - kinh tế có: Nguyễn Nghiễm, Ngụy Khắc Tuần,
5
Ngụy Khắc Đản, Nguyễn Công Trứ… Về quân sự có: Nguyễn Công Trứ,
Phan Thiết Hán, Đặng Đình An, Lê Hữu Đức, Trương Đình Quý… Về sử
học có Nguyễn Nghiễm, Trần Trọng Kim, Hà Văn Tấn… Về toán học có
Lê Hải Châu, về địa lý có Thánh sư Tả Ao, Đông hồ Lê Văn Diễn…Về kỹ
ngưỡng của nhân dân ta.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay đã có một số công trình liên quan tới việc nghiên cứu về
di tích lịch sử ở Hà Tĩnh nói chung và Nghi Xuân nói riêng. Tuy nhiên hầu
hết các công trình đó cũng chỉ mới đề cập một cách khái quát và chưa đi
sâu nghiên cứu cụ thể, đầy đủ các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn
huyện:
Cuốn “Việt sử bị lâm cung” của Xuân quận công Nguyễn Nghiễm
(1708 – 1776) nay còn truyền tụng.
Cuốn “Nghi Xuân địa chí” (Quyển I và Quyển II) của Đông hồ Lê Văn
Diễn được viết từ năm 1842 do UBND huyện Nghi Xuân xuất bản năm
2001. Bộ sách cung cấp những tư liệu của Nghi Xuân trên nhiều lĩnh vực tự
nhiên, kinh tế - xã hội và nhân văn, danh mục tổ chức hành chính và chức
sắc, tục lệ, di tích đền miếu thời phong kiến của huyện.
Cuốn “An tĩnh cổ lục” của tác giả người Pháp Hippolyte Le Breton do
Nguyễn Đình Khang và Nguyễn Văn Phú dịch với sự hiệu đính của
Chương Thầu và Phan Trọng Báu được nhà xuất bản Nghệ An phối hợp
với Trung tâm văn hóa và ngôn ngữ Đông Tây ấn hành năm 2005. Cuốn
sách đã nêu lên một số di tích lịch sử Nghệ An và Hà Tĩnh.
Cuốn “Di tích danh thắng Hà Tĩnh” của tác giả Trần Tấn Hành (chủ
biên) do Sở VHTT Hà Tĩnh xuất bản năm 1997. Cuốn sách đã tập hợp
được di tích và danh thắng trên quê hương Hà Tĩnh. Các di tích khảo cổ
học, lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và các danh lam thắng cảnh.
7
Cuốn “Người Nghi Xuân” do Nhà xuất bản Văn Hóa Thông tin ấn
hành năm 2002 và 2013. Trong đó có phần “Đất Nghi Xuân” và “Người
Nghi Xuân” nổi tiếng trên mọi lĩnh vực lịch sử, chính trị, kinh tế, khoa học,
chân thực về vấn đề nghiên cứu.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
Để có thể tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thành đề tài này,
phương pháp luận sử học Mác xít và tư tưởng Hồ Chí Minh chính là
phương pháp, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quá trình hoàn thành đề tài.
Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương
pháp nghiên cứu cụ thể chuyên ngành như:
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic
- Phương pháp điền dã, sưu tầm, xác minh tư liệu lịch sử
4. Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các di tích lịch sử cấp quốc gia tiêu
biểu ở Nghi Xuân – Hà Tĩnh như: Di tích lịch sử đặc biệt cấp quốc gia Khu
lưu niệm Nguyễn Du; Đền thờ nhà văn hóa, nhà thờ Nguyễn Công Trứ;
Đình Hội Thống; Đền Củi; Đình Hoa Vân Hải và Đền thờ Nguyễn Xí.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Ở đề tài này chúng tôi đi tìm hiểu một cách toàn diện và hệ thống lịch
sử hình thành, quá trình trùng tu tôn tạo, các nhân vật lịch sử được thờ
phụng, kiến trúc điêu khắc của những di tích lịch sử văn hóa đã nêu trên.
Ngoài ra ,chúng tôi tìm hiểu thêm về lễ hội ở một số di tích được nghiên
cứu trong phạm vi đề tài.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung khảo sát các di tích lịch sử tiêu biểu trên địa bàn
huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh trên các khía cạnh: Nguồn gốc lịch sử, diện
mạo, đặc điểm kiến trúc và các giá trị văn hóa – lịch sử của di tích.
5. Đóng góp của luận văn
9
ngõ phía Bắc của tỉnh Hà Tĩnh. Thiên nhiên đã ưu ái cho Nghi Xuân cảnh
quan sơn thủy hữu tình, hai bề núi non Hồng Lĩnh, một bề Sông Lam tràng
giang và một bờ biển ngang đại hải chạy suốt chiều dài của huyện mà
không có huyện nào ở Nghệ - Tĩnh có được.
Phía Nam và Tây là 99 ngọn Hồng Lĩnh trập trùng quanh năm mây
phủ được xếp vào một trong 21 danh sơn Việt Nam. Hồng Lĩnh vừa là một
trong 8 cảnh quan trong “Nghi Xuân bát cảnh” của huyện vừa là phên dậu
che chắn, bảo vệ Nghi Xuân trong suốt quá trình thăng trầm của lịch sử .
Phía Đông giáp bờ biển ngang dài 32km từ Cửa Hội (Đan Nhai quy
phàm) đến Cửa Lạch Kèn xã Cương Gián. Biển Nghi Xuân có nhiều hải
sản quý hiếm như hải sâm, rắn biển, mực, cá… mở ra tiềm năng du lịch
biển đã và đang được khai thác phục vụ du khách và đời sống dân sinh.
Phía Bắc và Tây Bắc giáp đoạn cuối sông Lam trong xanh đổ ra Cửa
Hội. Đoạn sông Lam nước lợ, cá tôm quanh năm. Trong đó có loại cá
Vược, cá Sú là loài đặc sản cá biệt có giá trị kinh tế cao. Dọc theo hữu ngạn
sông Lam chảy qua địa phận Nghi Xuân là 8 cảnh quan đặc biệt của “Nghi
11
Xuân bát cảnh” do Hoàng Giáp Bùi Dương Lịch (1757 – 1827) sáng tác ca
ngợi cảnh đẹp tự nhiên Nghi Xuân. Tiêu biểu là những tác phẩm như Hồng
Sơn liệt chướng (Núi Hồng giăng dài); Hoa phẩm thắng triền (Chợ Hoa
Phẩm thắng cảnh ven sông); Uyên Trừng danh dự (Chùa Giằng nổi tiếng);
Quần Mộc bình sa (Lùm cây trên bãi cát bằng); Cô Độc lâm lưu (Núi cô
độc giữa dòng); Giang Đình cổ độ (Giang Đình bến cũ); Đan Nhai quy
phàm (Thuyền về Cửa Hội); Song Ngư hý thủy (Đôi cá dỡn nước).
Phía Tây giáp đoạn giữa sông Lam gặp sông La, có hai cầu mới Bến
Thủy hiên ngang vắt qua sông thơ mộng. Phía tả sông Lam là núi Quyết,
núi Thành phía hữu sông Lam là “Hồng Sơn liệt chướng” soi bóng đôi bờ.
Bên kia là thành phố Vinh hiện đại nguy nga tráng lệ .
chạy qua như Xuân Giang, Xuân Mỹ, Tiên Điền… Vùng này bằng phẳng
nhưng cồn khô, cát bạc chỉ phù hợp với trồng lạc, trồng dưa hơn trồng lúa
nước. Bù lại, ở đây là đất học hành khoa bảng vì thế mới có câu “quan
Tiên Điền” truyền miệng. Sông Lam trước lúc đổ ra biển đã tạo nên vùng
đất cát bồi trung du này. Do “thiên không thời, địa không lợi” nên cư dân
vùng này ngoài chăn nuôi, trồng cây công nghiệp ra còn lợi dụng đường
sông để buôn bán ngược ngàn, xuôi bể. Chợ Giang Đình bao đời nay trên
bên dưới thuyền tấp nập, thương lái khắp nơi đổ về buôn bán đông vui. Bến
Giang Đình, ngoài chức năng giao lưu sinh sống, còn là bến đò duy nhất
cho các sỹ tử trẩy kinh và các ông nghè vinh quy bái tổ qua lại. Vì thế, bến
Giang Đình thành chứng tích lịch sử lâu đời, niềm tự hào của cả huyện
Nghi Xuân.
Vùng ven biển ngang chiếm 70% diện tích cả huyện, có bờ biển ngang
dài 32km có nhiều hải sản khai thác. Vì thế, vùng biển ngang Nghi Xuân là
nơi quần cư của 11 xã còn lại của huyện. Địa mạo vùng này được kiến tạo
bởi phù sa biển. Sóng gió liên hồi đã bồi đắp nên miền duyên hải này
những cồn, đụn cát chạy dài ngăn cách làng với biển. Dân sống tập trung,
mật độ cao, xã biển Xuân Hội lấy nghề ngư làm nghiệp sinh sống chính.
Ngoài ra, các xã khác còn lại đều nông ngư kết hợp nuôi trồng thủy sản, gia
súc và trồng lạc, trồng dưa đỏ.
13
Khí hậu Nghi Xuân nói chung là nhiệt đới gió mùa, hình thành hai
mùa rõ rệt. Mùa hạ, mùa thu mưa nóng ẩm, mùa đông khô lạnh. Khí hậu
trong năm được chia thành hai mua chính ứng với hai chế độ gió mùa. Gió
mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam.
Gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau.
Nhiệt độ trong các tháng này thấp, thường dưới 22 0C, đặc biệt là các tháng
12, tháng 1 và 2 có lúc xuống dưới 15 0C. Khác với các tỉnh ở Bắc Bộ (các
phép đầu tư mở rộng. Duy chỉ có mỏ đá Cổng Khánh trữ lượng lớn, tập
trung và lộ thiên nên đã khai thác gần cạn kiệt. Đặc biệt, ở Nghi Xuân chưa
thấy mỏ khoáng sản màu nào được nhắc đến trong địa chất, địa mạo xưa
nay. Ngay cả tài nguyên rừng nguyên sinh trên núi Hồng Lĩnh cũng chẳng
có gì đáng kể, chỉ có rừng nhân tạo như phi lao, bạch đàn ở các xã ven biển
cũng chỉ chủ yếu là rừng phòng hộ chứ khai thác tiềm năng kinh tế rừng
chẳng đang là bao.
Đặc biệt, tài nguyên thiên nhiên ở Nghi Xuân chính là khai thác hải
sản ở biển và sông Lam, vì vậy tiềm năng kinh tế biển ở Nghi Xuân rất to
lớn. Từ xưa đến trước năm 1975, chủ yếu là khai thác tự phát, nhỏ lẻ. Sau
ngày nước nhà thống nhất, trời yên biển lặng nhiều hợp tác xã ngư dân ở
Xuân Hội, Xuân Đan, Xuân Trường, Xuân Hải, Xuân Phổ, Xuân Yên… đã
hình thành và phát triển. Đặc biệt, Hà Tĩnh có cụm cá Xuân Hải là một cơ
sở tập trung hải sản của Nghi Xuân nhiều năm nay có hiệu quả. Trữ lượng
cá ở Nghi Xuân đạt 40.000 tấn/năm chiếm 47% trữ lượng chung của cả
tỉnh. Trữ lượng mực đạt 1.000 tấn, chiếm 33% trữ lượng cả tỉnh. Trữ lượng
tôm (kể cả tôm biển và tôm nuôi) đạt 300 tấn, chiếm xấp xỉ 50% của cả
tỉnh. Biển Nghi Xuân còn có nhiều loại hải sản quý hiếm, có giá trị kinh tế
cao như rắn biển, hải sâm, tôm hùm, sò huyết…Việc nuôi trồng thủy sản ở
Nghi Xuân rất phát triển từ năm 2000 lại nay. Tính đến năm 2015, đã có 20
cơ sở nuôi tôm sú, với diện tích ao hồ lên đến trên 80 ha. Chính công tác
nuôi trồng hải sản ngoài việc tăng thu nhập quốc dân cho huyện nhà, góp
phần nâng cao đời sống vật chất cho ngư dân. Còn tạo điều kiện giải quyết
công ăn việc làm cho người dân lao động toàn huyện.
15
Ngoài ra, Nghi Xuân là một địa điểm “dừng chân” của các loài chim
di cư. Trong đó rất nhiều loài có tác dụng tô đẹp cảnh quan môi trường cho
huyện về mùa Thu (Tháng 8,9,10 hàng năm), bắt diệt sâu bọ mùa màng.
hoặc nông – lâm – ngư kết hợp. Đã bao đời cha ông đúc kết lại “khoai
Phan Xá, lúa Xuân Viên, cá Hội Thống, dưa đỏ Mỹ Dương, chè xanh làng
Trại, nước mắm Vạn Cương, muối Động Kèn, ruốc rươi Quần Mộc”…
Người Nghi Xuân cần cù chất phác, ham công tiếc việc, nhưng vì đất
bãi bồi cồn khô cát bạc nên làm không đủ ăn, quanh năm thiếu thốn. Để
thoát nghèo, một số làng xã đã chuyển dịch ngành nghề để tăng thêm thu
nhập như làng mộc Xuân Phổ nổi tiếng được vua Gia Long xuống chỉ rước
vào làm mộc xây dựng cố đô Huế, hoặc thợ nề Tiên Điền nổi tiếng trong
ngành xây dựng công trình gạch vữa, xi măng. Ngày nay dưới ánh sáng của
phong trào xây dựng nông thôn mới, nhiều cơ sở sản xuất đa ngành nghề
trong huyện hình thành, nhiều doanh nhân thành đạt ngay trên mảnh đất
truyền thống hoặc xuất ngoại kinh doanh. Đặc biệt là những xã Cương
Gián, Cổ Đạm, Xuân Liên đã có phong trào xuất khẩu lao động sang Hàn
Quốc, Đài Loan, Nhật Bản vừa giải quyết được lao động chính dư thừa vừa
có thu nhập cao gửi về giúp gia đình. Đặc biệt là xã Cương Gián được
mệnh danh là “xã thuyền viên triệu phú” nhờ xuất khẩu lao động.
Người Nghi Xuân có truyền thống trọng đạo học, sự học đã trở thành
bổn phận của con em trong các gia đình. Thậm chí nhà nhà, làng làng, họ
này với họ khác thi đua học hành, thi cử. Người Nghi Xuân trọng học vị
trước học hàm các dòng họ, các làng thường lấy kết quả thi cử như là một
tiêu chí để đánh giá thành quả hàng năm của mỗi họ, mỗi làng.
Như nhà thơ Yến Thanh đã viết:
“Làng tôi củ lạc thắt ngang
Quả dưa buộc dọc cho chàng đi thi”
Đất nghèo nên:
“Ông nghè ông cống sống bởi ngọn khoai
Anh học anh nho nhai hoài lộc đỗ” [19, 25]
17
18
Nghề làm nồi đất ở Mỹ Dương, Cổ Đạm
Nghề nước mắm ở Hội Thống, Cương Gián, Đan Trường, Đan Uyên.
Nghề trồng rau, nuôi tằm, dệt lụa ở Tiên Cầu, Uy Viễn, Tả Ao.
Nghề đò dọc, đò ngang ở Hội Thống, Cương Gián.
Trước khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời (trước năm 1945),
Nghi Xuân có 5 tổng: Tam Đăng (gồm 2 xã Xuân Lam và Xuân Hồng),
Xuân Viên, Đan Hải, Phan Xá và Cổ Đạm bao gồm 33 xã, thôn, trang,
phường (trực thuộc huyện). Đến nay huyện Nghi Xuân có 17 xã, 2 thị trấn
với 192 thôn, xóm, khối dân cư.
Thị trấn Nghi Xuân đồng thời là huyện lỵ là trung tâm Chính trị - Kinh
tế của huyện.
Thị trấn Xuân An là thị trấn đầu cầu của Huyện, hai đơn vị hành chính
này nối liền nhau trên một trục đường Quốc lộ 8B, cách nhau 5km.
17 xã gồm: Xuân Lam, Xuân Hồng, Xuân Viên, Xuân Lĩnh, Xuân Mỹ,
Xuân Thành, Xuân Liên, Cổ Đạm, Cương Gián, Xuân Yên, Xuân Hải,
Xuân Phổ, Xuân Giang, Tiên Điền, Xuân Đan, Xuân Trường và Xuân Hội.
Nghi Xuân là một vùng đất cát bạc màu, khí hậu khắc nghiệt, ấy vậy
mà trong các cuộc thiên di, một số dòng họ đã phát hiện ra (đặc biệt là
Thánh sư địa lý Tả Ao) đây là vùng “địa linh” rồi dừng lại để sinh cơ lập
nghiệp. Đó là dòng họ Nguyễn (Tiên Điền), họ Phan (Phan Xá), họ Đặng
(Uy Viễn), họ Võ (Hội Thống), họ Ngụy (XuânViên), họ Thái (Xuân Lam),
họ Lê (Tiên Điền)…
Người Hà Tĩnh nói chung, người Nghi Xuân nói riêng chủ yếu dựa
vào sản xuất nông nghiệp. Các ngành nghề khác như chăn nuôi, trồng cây
công nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản, ngư nghiệp, trồng rừng, buôn bán…
chỉ là ngành nghề phụ trợ lúc nông nhàn, nếu chuyên canh cũng chỉ là nhỏ
lẻ, tự phát.
Tuy nhiên, do khí hậu “thiên không thời, địa không lợi”, thiếu cơ cấu
Do đặc điểm địa lý không phù hợp, nên một số ngành nghề cả tỉnh
phát huy được thì Nghi Xuân không có như nghề làm muối, nghề trồng cây
công nghiệp dài ngày như cây chè, cao su. Do không tận dụng được sản vật
20
rừng nguyên sinh mà chỉ có rừng nhân tạo, rừng phòng hộ nên tiềm năng
thu nhập về sản phẩm của rừng nói chung đều hạn chế.
Nền kinh tế Nghi Xuân chủ yếu dựa vào thu nhập của ngành kinh tế
trọng điểm sau đây:
Về nông nghiệp: Diện tích đất nông nghiệp Nghi Xuân 8.000 ha.
Trong đó, diện tích nông nghiệp thì tỷ trọng đất trồng trọt chiếm 80%, còn
lại là đất nuôi trồng thủy, hải sản.
Về cây công nghiệp ngắn ngày chiếm diện tích 12.000 ha bằng 1,5 lần
diện tích nông nghiệp. Nghi Xuân phù hợp với thổ nhưỡng trồng lạc và
trồng dưa hấu, đậu, vừng, kê. Cây lạc là nguồn thu nhập của các xã trung
du. Còn dưa hấu là thu nhập chủ yếu của 6 xã ven biển.
Nếu Hà Tĩnh là tỉnh có diện tích trồng lạc dẫn đầu cả nước thì Nghi
Xuân là huyện dẫn đầu cả tỉnh. Bình quân mỗi năm, Nghi Xuân xuất khẩu
ra nước ngoài như Indonexia, Singapo, Thái Lan, Trung Quốc… (32 đối
tác) 5.000 tấn lạc nhân (tương đương với 8.000 tấn lạc vỏ), giải quyết công
ăn việc làm cho hàng ngàn lao động. Đặc biệt ở Nghi Xuân đã có công ty
TNHH Châu Tuấn chuyên thu mua lạc, đảm bảo đầu ra cho nông dân nên
người sản xuất rất an tâm phát triển trồng trọt.
Ngành nghề chăn nuôi gia súc gia cầm đã có từ xa xưa ở Nghi Xuân.
Các xã vùng núi như Xuân Lam, Xuân Hồng, Xuân Viên, Xuân Lĩnh, Cổ
Đạm, Xuân Mỹ, Xuân Liên thường lấy chăn thả trâu bò đàn lên núi tận
dụng địa hình đồi núi sẵn cỏ tự nhiên. Nhà nuôi nhiều đến hàng trăm con,
nhà ít nhất cũng vài ba con. Chưa kể toàn huyện, riêng 7 xã cận núi Hồng
Lĩnh này đã có đến hàng vạn con trâu bò. Đây là nguồn thu nhập chủ yếu
gạch thủ công đầu tư cho xây dựng thì Nghi Xuân chưa có nhà máy sản
xuất đồ uống, chế biến gỗ nào và cũng có dự án khai thác mỏ kim loại màu
nào.
Du lịch là thế mạnh của Nghi Xuân cả núi rừng (Hồng Lĩnh) và biển.
Ngoài Xuân Thành ra Xuân Liên, Cổ Đạm đã có cơ sở du lịch từ năm 1985
nhưng do nguồn vốn đầu tư hạn hẹp nên không được phát triển. Hiện tại đã
22
có gần 100 cơ quan, cá nhân xây dựng khách sạn cho thuê và cho cán bộ
công nhân viên đi nghĩ dưỡng mùa hè. Các xã khác ven núi, ven biển
nhưng chưa dám nghĩ dám làm nên Nghi Xuân chưa có dự án nào lớn về du
lịch để khai thác tiềm năng ngành công nghiệp không khói này.
1.3. Truyền thống lịch sử, văn hóa
Từ thế kỷ XV, vùng đất ba mặt sông – núi – biển này đã trở thành vị
trí chiến lược quân sự không những của vùng Nghệ Tĩnh, Khu 4 mà còn là
cả nước.
Vì thế đã có câu:
Thiên hạ đại loạn
Nghệ An độc an
Nghệ An đại loạn
Nghi Xuân độc toàn. [27, 45]
Nghi Xuân là mảnh đất tiền tiêu án ngữ che chở cho trấn sở Nghệ An
mà ngã ba Tam Chế trở thành cửa dinh lũy của trấn thành này. Hồng Lam
từ lâu đời là biểu tượng của vùng đất Nghệ - Tĩnh (Xứ Nghệ) mà Nghi
Xuân là huyện duy nhất có cả núi Hồng lẫn sông Lam trong địa phận của
mình.
Lịch sử bao đời nay chứng kiến truyền thống yêu nước của nhân dân
Nghi Xuân đứng lên chiến đấu chống giặc ngoại xâm bảo vệ giang sơn bờ
cõi. Từ phong trào gia nhập nghĩa quân Lê Lợi (Thế kỉ XIV), khởi nghĩa
Phủ… Trong phong trào “Tuần lễ vàng” đồng bào Nghi Xuân đã góp được
0,8175kg vàng ủng hộ kháng chiến.
Đến thời kỳ chống Mỹ, Nghi Xuân trở thành tuyến lửa. Cảng Xuân
Hải, Phà Bến Thủy là hai đầu mối huyết mạch giao thông nằm trên địa bàn
của huyện. Ngoài lực lượng trực chiến như giao thông, bộ đội, TNXP, dân
quân, đồng bào Nghi Xuân đã đóng góp hàng vạn ngày công, hàng vạn
gánh tấp bổi, hàng ngàn cây tre chống lầy đảm bảo giao thông ở hậu
phương. Huyện Nghi Xuân cũng đã đóng góp hàng vạn bộ đội, TNXP vào
24
chiến trường miền Nam, giải tỏa Đồng Lộc, quốc lộ 1A, đường Trường
Sơn…
Trong 30 năm (1945 – 1975) kháng chiến chống Thực dân Pháp và
chống Đế quốc Mỹ, huyện Nghi Xuân đã có 4 cán bộ chiến sĩ được phong
tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (trong đó có 3 anh
hùng liệt sĩ), có 48 bà mẹ được nhà nước tôn vinh Mẹ Việt Nam anh hùng.
Đảng bộ và nhân dân huyện Nghi Xuân, xã Xuân Hải, Xuân Giang, Xuân
Lam, Tiên Điền, Xuân Viên, Xuân Hội, Xuân Liên được tặng danh hiệu
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Truyền thống bảo vệ tổ quốc, dành độc lập tự do của người Nghi Xuân
đã được các thế hệ tiếp nối. Mặc dầu cái giá phải trả không nhỏ, hàng ngàn
chiến sĩ đã nằm lại ở chiến trường, hàng chục ngàn thương binh đã để lại
một phần xương máu cho độc lập tự do. Ngày nay, trong công cuộc bảo vệ
bờ cõi đất liền, biển đảo đã có hàng ngàn con em Nghi Xuân đang ngày
đêm canh giữ Trường Sa, Phú Quý, Phú Quốc, Hòn ngư, Thổ Chu, Côn
Đảo… Cuộc chiến đấu mới với thế lực làm càn không chỉ hảo tổn về tiềm
lực mà còn kìm nén trí lực để bảo vệ hòa bình, hạn chế xung đột trong khu
vực.
Bước vào thời kỳ đổi mới, phong trào xây dựng làng văn hóa, thôn xã
gắn liền với nhân vật Thánh sư địa lý Tả Ao có tên là Võ Đức Huyền (có
sách ghi là Nguyễn Đức Huyền). Đền Huyện gọi là đền Tam tòa thờ ông
Lý Nhật Quang con thứ 8 vua Lý Thái Tổ. Khai quật di chỉ này thu được
gốm sành sứ và lò luyện gang tùy theo độ sâu, các nhà khảo cổ xác định
tầng dưới cùng (sâu 1,2m) là gốm Đông Sơn. Tầng thứ 2 là gốm sứ thời Lý.
Tầng thứ 3 là gốm gạch thời Trần. Tầng thứ 4 là gốm sành thời Lê. Lớp
trên cùng là gốm sành thời Nguyễn. Xen giữa các lớp thi thoảng còn phát
hiện ra gốm sứ Trung Hoa và Nhật Bản. Từ đó suy ra khu vực Đền Huyện
Tả Ao có thể xưa kia là một thương cảng sầm uất buôn bán với thương
nhân nước ngoài (Đền Huyện tọa lạc bên bờ sông Lam, cách bến Giang
Đình cũ 200m).