Tìm hiểu một số di tích lịch sử văn hóa ở thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Phạm Thị Kim Loan

TÌM HIỂU MỘT SỐ DI TÍCH LỊCH SỬ – VĂN HÓA Ơ
THỊ XÃ HỒNG LĨNH TỈNH HÀ TĨNH

Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60 22 54

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYỄN QUANG HỒNG

NghÖ an, 2013


LỜI CẢM ƠN
Trước hết, xin gửi lời cảm ơn tới Thư viện tỉnh Hà Tĩnh, Bảo tàng tỉnh
Hà Tĩnh , Ban quản lý di tích - danh thắng Hà Tĩnh và nhân dân địa phương
đã giúp đỡ tôi trong quá trình đi thu thập tư liệu, khảo sát thực tế tại đơn vị,
địa phương.
Tôi xin trân trọng cám ơn các đồng chí lãnh đạo Sở, lãnh đạo Phòng
Quản lý Di sản văn hóa - Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Tĩnh, đã quan
tâm, tạo điều kiện về thời gian trong suốt quá trình tôi học tập.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn lãnh đạo cơ quan Thị ủy, UBND,
Phòng Văn hóa - Thông tin Thị xã Hồng Lĩnh, UBND các phường, Ban quản
lý di tích cùng các đồng chí nguyên cán bộ lãnh đạo Thị xã Hồng Lĩnh qua
các thời kỳ, cán bộ Thư viện Nguyễn Thúc Hào - Trường Đại học Vinh , Kho

- DTLSVH:

Di tích lịch sử văn hóa

- BVHTTDL – DSVH: Bộ văn hóa thông tin du lịch – Di sản văn hóa
- VHTT – DL:

Văn hóa thể thao du lịch

- LSVH:

Lịch sử văn hóa

- THCS:

Trung học cơ sở


MỤC LỤC

MƠ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thời gian trôi đi và phủ màn rêu phong lên mọi giá trị cuộc sống,
những giá trị văn hóa, tinh thần phải nhường chỗ cho cuộc mưu sinh, nhường
chỗ cho đời sống vật chất. Tuy nhiên, những giá trị văn hóa đó vẫn tồn tại, bởi
đó là thước đo chiều sâu những giá trị lịch sử, lưu giữ phong tục, tập quán, là


“hồn cốt” của con người, vùng đất nào đó....Hồng Lĩnh trong dòng trôi của
lịch sử Hà Tĩnh cũng như trong dòng chảy lịch sử đất nước đang lưu giữ trong

Trong những năm gần đây, cùng với sự vươn mình mạnh mẽ trong xây
dựng và phát triển kinh tế, xã hội, những giá trị văn hóa tinh thần, những công
trình kiến trúc cổ, những sinh hoạt văn hóa dân gian được phục dựng, chú
trọng đầu tư, các dự án trùng tu, khôi phục đưa vào sử dụng đã được các cơ
quan đảng, chính quyền và nhân dân đầu tư nên các công trình đền chùa,
miếu, các lễ hội truyền thống đã trở lại, đó là một tín hiệu đáng mừng.
Với những lí do trên bản thân tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Tìm hiểu
một số di tích lịch sử - văn hóa ở thị xã Hồng Lĩnh - Hà Tĩnh” làm đề tài
luận văn tốt nghiệp của mình như là lời tri ân của người con với mảnh đất đã
sinh ra và nuôi tôi lớn. Đồng thời như là sự quảng bá xin mời mọi người về
thăm quê tôi - Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những năm gần đây vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị kho
tàng di sản văn hóa - lịch sử đã được quan tâm. Tuy nhiên, mảng tài liệu viết
về đề tài này thường chỉ là những tài liệu nhỏ lẻ, chủ yếu có được trong các
tác phẩm viết về các danh nhân văn hóa, giới thiệu các dòng họ vinh hiển
hoặc liên quan đến các làng văn hóa. Trong mảng di tích lịch sử - văn hóa
Hồng Lĩnh đang chờ đợi một công trình nghiên cứu đầy đủ, nhằm giới thiệu
một cách tổng quan nhất các di tích này. Đã có một số cuốn sách đề cập đến
một vài khía cạnh nhỏ về các di tích ở Hồng Lĩnh như :
1. Trong tác phẩm “Di tích danh thắng” 1997, do Trần Chấn Thành
chủ biên. . Trong đó, tác giả đã giới thiệu đến độc giả di tích Chùa và Hồ
Thiên Tượng.
2. Chân dung các danh nhân văn hóa trên mảnh đất Hà Tĩnh.đã được
tập hợp trong cuốn “Danh nhân Hà Tĩnh” (tập 1) do sở Văn hóa thông tin
tỉnh Hà Tĩnh xuất bản năm 1997, có phần giới thiệu về quê hương, gia thế,
công trạng của danh nhân đất Hồng Lĩnh - Bùi Cầm Hổ, cha con trạng nguyên
Sử Hi Nhan - Sử Đức Hy.

6

+ Sưu tầm tài liệu: Để có nguồn tư liệu phục vụ cho đề tài nghiên cứu,
chúng tôi đã tiến hành sưu tầm, tham khảo và tích lũy tài liệu ở thu viện bảo
tàng tổng hợp Hà Tĩnh thư viện sở Văn hóa thể thao và du lịch Hà Tĩnh. Sao
8


chép các gia phả, dập chụp bia ký và câu đối. Nghiên cứu thực địa và thu thập
tài liệu tại các di tích, tìm kiếm tư liệu lưu trữ tại phòng văn hóa thông tin
huyện, gặp gỡ với cán bộ địa phương, người phụ trách tại các di tích tiêu biểu
của thị xã.
+ Xử lý tư liệu: Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng
phương pháp tổng hợp, logic để trình bày một cách có hệ thống về quá trình
xây dựng, bảo tồn các di tích lịch sử theo thời gian, diễn biến của lịch sử.
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng phương pháp so sánh, lý lịch các di tích với tư
liệu dân gian và chính sử để từ đó đánh giá, tổng hợp, phân tích, thống kê, so
sánh và đối chiếu các nguồn tư liệu khác nhau để xác minh chính xác.... để rút
ra cái chung và cái riêng của các di tích, nét đặc sắc trong nghệ thuật kiến trúc
điêu khắc các di tích lịch sử văn hóa của thị xã Hồng Lĩnh.
5. Đóng góp của luận văn
- Tập hợp những tư liệu có nội dung liên quan đến đề tài để thuận lợi
cho việc nghiên cứu trước mắt cũng như lâu dài.
- Đề tài là công trình nghiên cứu có hệ thống đầu tiên dưới góc độ sử
học về các di tích lịch sử văn hóa trên vùng đất Hồng Lĩnh.
- Luận văn đưa ra những phân tích đánh giá về các giá trị của các di
tích lịch sử văn hóa ở thị xã Hồng Lĩnh. Đây chính là đóng góp quan trọng
của luận văn về mặt khoa học.
- Ngoài ra luận văn còn đề cập đến các giá trị to lớn của các di tích đối
với đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội ở Hồng Lĩnh nói riêng và Hà
Tĩnh nói chung. Đồng thời, đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn, trùng tu
các di tích lịch sử văn hóa và khai thác các giá trị của nó để góp phần vào

Đức Thọ và cách cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo 85 km; phía Tây là dãy núi
Hồng Lĩnh sừng sững với 99 đỉnh. Hồng Lĩnh là trung tâm kinh tế, văn hoá xã hội phía Bắc tỉnh Hà Tĩnh.
Hồng Lĩnh - một thị xã nhỏ nằm dưới chân dãy núi Hồng, cận kề với
dòng sông Lam trong xanh huyền thoại, là điểm nối 3 huyện Can Lộc, Nghi
Xuân và Đức Thọ, nơi tiếp giáp giữa hai con đường huyết mạch của quốc gia là
đường quốc lộ 1A nối liền con đường thiên lý Bắc - Nam và đường 8A với nước
bạn Lào, để từ đây thông thương với các nước Đông Nam Á. Tổng diện tích tự
nhiên 5.809,11 ha với 6 đơn vị hành chính, gồm 5 phường: Nam Hồng, Bắc
Hồng, Đậu Liêu, Trung Lương, Đức Thuận và xã Thuận Lộc. Hồng Lĩnh đang
từng ngày vươn mình trổi dậy để trở thành đô thị loại III trong năm 2015.
* Điều kiện tự nhiên
- Đặc điểm địa hình: Là thị xã miền núi, có độ dốc từ Đông sang Tây
nên có đặc điểm địa hình khác biệt với các địa phương khác trong tỉnh. Đó là
địa hình đa dạng song nổi trội lên có 3 dạng chính: Địa hình núi cao, địa hình
thung lũng hẹp và một phần đồng bằng. Đồng bằng nằm ở phí Tây dãy Hồng
Lĩnh trải dài từ Bắc đến Nam với diện tích 2.447,45 ha chiếm 42,1%. Đây là
sản phẩm phù sa của sông La. Độ cao trung bình 2m so với mặt nước biển, độ
dốc nghiêng dần từ Đông sang Tây. Đồi núi chiếm một phần của dãy núi
Hồng Lĩnh có đỉnh cao nhất 370m so với mặt nước biển. Núi Hồng Lĩnh là

11


rặng núi kỳ thú nằm ở hữu ngạn sông Lam, sườn Bắc thuộc địa phận huyện
Nghi Xuân, sườn Nam thuộc huyện Can Lộc. Độ dốc phần lớn trên 20o.
Được cấu tạo bởi khối đá macma axit (granit) với diện tích 2188,84ha
chiếm 37,8%. Nhìn chung đây là dạng địa hình xói mòn mạnh nên phần lớn
diện tích có tầng mỏng ít phù hợp với cây trồng nông nghiệp, chủ yếu là phát
triển rừng. Còn địa hình thung lũng hẹp Chạy dọc theo quốc lộ 8B (đường 18
cũ) thuộc phường Đậu Liêu, với diện tích 76,62ha chiếm 1,38%, có cao độ

Tháng có nhiệt độ thấp tuyệt đối là tháng 2: 11oC
Tháng có nhiệt độ cao tuyệt đối là tháng 7: 39.8oC
Số giờ nắng trong năm đạt 1679 giờ.
*Lượng mưa:
Lượng mưa cả năm là 1468mm, phân bố không đều, tập trung vào
tháng 8 đến tháng 11 (>1000mm). Tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 9
(480mm). Tháng có lượng mưa nhỏ nhất là tháng 7 (16mm). Hồng Lĩnh có
lượng mưa lớn và tập trung nên gây ra hiện tượng lũ lụt và xói mòn.
*Độ ẩm: Độ ẩm trung bình năm: 86%; độ ẩm trung bình tháng cao
nhất: 90%; độ ẩm trung bình tháng thấp nhất: 72%. Lượng bốc hơi lớn nhất
tập trung từ tháng 5 đến tháng 8 đây là những tháng ảnh hưởng của gió Lào.
Lượng bốc hơi nhỏ nhất từ tháng 1 đến tháng 3 vì thời gian này có gió mùa
Đông Bắc đem hơi nước từ biển Đông gây ra mưa phùn. Các yếu tố này đều
bất lợi đối với cây trồng, trong các biện pháp canh tác thì người nông dân
dùng biện pháp điều chỉnh thời vụ là hiệu quả nhất.
- Đặc điểm thủy văn: Thị xã Hồng Lĩnh chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ
văn Sông La, Sông Lam (thuộc hệ thống sông Cả). Sông La là nguồn cung
cấp phù sa cho diện tích đất ngoài đê La Giang thuộc phường Trung Lương.
Phía tây bắc có kênh nhà Lê, kênh 19/5 nhập với sông Minh, nối với sông La
với chiều dài hàng chục km, chủ yếu phục vụ nước tưới và tiêu nước của toàn
thị xã và vận tải đường sông bằng phương tiện thuyền bè qua lại qua cống
Trung Lương đổ về sông Nghèn.
Ngoài ra, Hồng Lĩnh còn có các dòng suối bắt nguồn từ trên núi Hồng
Lĩnh chảy xuống các phường Trung Lương, Bắc Hồng, Đậu Liêu. Đây là
13


nguồn cung cấp nước tưới và phục vụ sinh hoạt. Như vậy Hồng Lĩnh có hệ
thống thủy lợi tương đối hoàn thiện, có đủ khả năng cung cấp nước cho trồng
lúa, hệ thống kênh mương được bê tông hóa để sử dụng hiệu quả nguồn nước.

trở thành những làng nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trù phú và ngày càng
phát triển. “Trong vòng khoảng 200 năm từ cuối thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ
XVIII, dân Bãi Vọt có cuộc sống khá ổn định, làm ăn khấm khá, đời sống vật
chất cũng như tinh thần đều rất tốt và có thể sánh vai cùng các vùng xung
quanh …” [19, 63]. Theo các tư liệu khảo cổ học cho biết vùng đất Bãi Vọt là
một trong những địa phương ở xứ Nghệ xưa có sự phát triển khá sớm và thịnh
vượng về kinh tế cũng như văn hóa. Tuy nhiên với những biến cố của lịch sử
dân tộc nên dưới thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh cho đến ngày hòa bình
lập lại nền kinh tế và cuộc sống của người dân ở đây có phần sa sút do chiến
tranh, thiên tai, dịch bệnh.
Theo tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc nền kinh tế ngày một phát
triển theo xu hướng đa nghành nghề. Đặc biệt, với chủ trương thực hiện
đường lối đổi mới của Đảng ta đề ra tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI
(12/1986). Thị xã Hồng Lĩnh mới thành lập (02/3/1992) và được hưởng luồng
gió đổi mới như luồng sinh khí đến với đô thị non trẻ phía Bắc tỉnh Hà Tĩnh
làm cho vùng đất đầy tiềm năng trỗi dậy. Năm 1992, dường như là mốc khởi
đầu cho một quá trình thay đổi liên tục cả về kinh tế, văn hoá, y tế, giáo dục
trên vùng đất còn chứa đựng những tiềm năng và khát vọng.
Hòa chung với sự thay đổi của cả nước, sau hơn 20 năm thành lập và
thực hiện đổi mới, nền kinh tế của thị xã Hồng Lĩnh đã có sự chuyển biến
toàn diện trên tất cả các ngành nghề. Đến nay, nhìn chung cơ cấu kinh tế của
thị xã đã chuyển dịch theo hướng Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp,
thương mại- dịch vụ, nông - lâm nghiệp. Về cơ bản đã xóa được tình trạng tự
cung, tự cấp, đẩy mạnh phát triển theo hướng hàng hóa, nhiều thành phần.
Đến nay tỷ trọng các ngành Công nghiệp, xây dựng và các ngành dịch vụ
chiếm trên 90% GDP, đặc biệt trên lĩnh vực Công nghiêp - Tiểu thủ công
nghiệp đã có bước phát triển nhanh, ngoài những cơ sở hiện có như sản xuất
vật liệu xây dựng, phân bón, sắt thép.vv… Phát huy năng lực đầu tư và sản
15


16


đơn điệu, công nghệ chậm đổi mới, chi phí sản xuất còn cao. Các ngành
thương mại - dịch vụ, du lịch chưa phát huy được lợi thế kinh tế đường 8A,
quy mô bán buôn nhỏ bé, thị trường chưa sôi động. Nông nghiệp tuy đã có
một số mô hình, nhưng việc nhân ra diện rộng còn yếu, các chương trình
khuyến nông hiệu quả chưa cao, việc ứng dụng khoa học kỷ thuật vào sản
xuất còn lúng túng dẫn đến năng suất và hiệu quả thấp, kinh tế hàng hoá trong
nông nghiệp chưa phát triển. Thu ngân sách đạt thấp, thiếu tính vững chắc và
không đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển. Kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội còn bất cập, tốc độ đô thị hoá chậm. Công tác quản lý
quy hoạch, tài nguyên môi trường chưa được quan tâm đúng mức.
*Xã hội
Hồng Lĩnh là vùng đất “giang sơn tụ khí”. Thời kỳ nào Hồng Lĩnh cũng
xuất hiện những anh hùng, chí sỹ, danh nhân tiêu biểu như cha con Song
Trạng Sử Hy Nhan, Sử Đức Hy thời Trần, Đô Đài Ngự sử - Bình quân Đại
Vương - Thường đẳng thần Bùi Cẩm Hổ đến Tiến sỹ Thái Kính, Tiến sỹ
Phạm Hưng Tạo, Tiến sỹ Bùi Đăng Đạt đời Lê….đã làm rạng danh vùng đất
học Hồng Lam.
Nơi đây xứng danh là vùng “Địa linh, Nhân kiệt” như vậy nhưng cùng
với hành trình lịch sử của dân tộc, Hồng Lĩnh cũng từng oẳn mình trải qua
những trang sử đau thương. Bãi Vọt – Hồng Lĩnh đã từng được coi là nơi đất
dữ, đã có thời trên đường thiên lý Bắc – Nam, khách lữ hành khi nghe đến cái
tên “Treo vọt” là đã phải rùng mình, chùn bước. Ngày nay, nhân dân trong
vùng còn truyền tụng nhau câu nói “cướp Bãi Dài, khái (hổ) Bãi Vọt”, “cướp
Bãi Dài, khái (hổ) Cửa Trẹm” những câu nói đó đã phần nào gợi lên cảnh
hoang sơ của vùng đất Bãi Vọt một thời bởi chiến tranh phiêu tán, loạn lạc.
Do vị trí địa lý có tầm quan trọng đặc biệt trên tuyến đường vận chuyển
vũ khí, lương thực vào miền Mam, khi phát động cuộc chiến tranh phá hoại

đó: Lao động Nông Lâm nghiệp 9.517 người (chiếm 54,3%); Công nghiệp
chế biến 2.126 người (chiếm 12,1%); Thuỷ sản 436 người (chiếm 2,4%);
Công nghiệp khai thác mỏ 452 người (chiếm 2,5%); các ngành lắp ráp, sửa
chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy và đồ dùng cá nhân 1.732 người (chiếm
18


9,8%); các ngành khác như Khách sạn, nhà hàng 346 người; Vận tải và thông
tin liên lạc 487 người; Tài chính và tín dụng 59 người; Hoạt động kinh doanh
tài sản và dịch vụ tư vấn 22 người; Quản lý Nhà nước và Quốc phòng - An
ninh, đảm bảo xã hội bắt buộc 335 người; Giáo dục - Đào tạo 750 người; Y tế
và hoạt động chính trị xã hội 166 người; Hoạt động văn hoá, thể dục thể thao
20 người; Hoạt động Đảng, Đoàn thể và Hiệp hội 89 người; Hoạt động phục
vụ cá nhân và cộng đồng 12 người. Trong đó có khoảng hơn 37,6% lao động
đã được qua đào tạo. Lao động có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên 1.100
người chiếm 6,2%. [86, 9]
Với nguồn nhân lực như vậy sẽ là điều kiện thuận lợi để thị xã phát
triển kinh tế. Nhưng đó cũng là sức ép cho cấp ủy, chính quyền trong giải
quyết việc làm thường xuyên.
1.1.3 Truyền thống văn hóa
Là một vùng quê nằm trên dải đất miền Trung thiên nhiên không mấy
ưu đãi, nhưng Hồng Lĩnh được coi là nơi ''Địa linh nhân kiệt'', là nơi "đế
vương" sớm nhận ra thế rồng bay hổ chầu để chọn nơi đây làm kinh đô của
Việt Thường quốc. Trong niềm tự hào ấy các thế hệ người dân Hồng Lĩnh quê
tôi luôn phải dựa vào sức mạnh của mình đoàn kết, cần cù, sáng tạo, kiên
cường, cùng nhau vượt qua khó khăn, thách thức. Trong khó khăn, gian khổ,
con người đã vươn lên tạo dựng được một đời sống tinh thần phong phú, để
lại cho muôn đời sau những giá trị văn hoá to lớn và tên tuổi của các bậc danh
nhân tiêu biểu. Nhiều làng quê ở Hồng Lĩnh như Ngọc Sơn, Vân Chàng, Tiên
Sơn, Giao Tác, Kẻ Treo nổi tiếng văn chương, khoa bảng và cũng rất đổi anh

cha con Trạng Sử - Sử Hy Nhan, Sử Đức Huy là những người khai khoa ở
Bình Lãng, mở ra một thời kỳ phát triển văn hoá rực rỡ ở vùng Bãi Vọt hẻo
lánh xưa, nhân dân đã có bài thơ ca ngợi:
Cha Trạng đầu con lại Trạng đầu,
Mấy đời phúc ấm nối truyền nhau.
Phong vân gặp hội đua tay bút,
Nức tiếng khoa danh khắp mọi châu.
Hay Quan ngự sử triều Lê - Bùi Cầm Hổ “Đức cả, tài cao vua trọng
dụng/Tính ngay, rộng lượng Sử lưu truyền”. Rồi tiến sỹ giám sát Ngự sử
20


quyền tham chánh Bùi Đăng Đạt,… Kế thừa truyền thống văn hóa đó ngày
nay con em Hồng Lĩnh trên mọi miền Tổ quốc đã và đang ra sức học tập, lao
động cống hiến cho quê hương đất nước như Phó Giáo sư - Tiến sỹ Lê Minh
Đức - Chủ nhiệm khoa Kinh tế đối ngoại trường Đại học kinh tế Quốc dân đã
có nhiều đề tài khoa học được ứng dụng trong và ngoài nước; Tiến sỹ Trần
Thị Hương - giáo viên trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam là giáo viên
xuất sắc có nhiều học sinh tham gia đạt giải cao trong chương trình Đường
lên đỉnh Ôlimpia và thi môn sinh học quốc tế. Giáo sư - Tiến sỹ y khoa Kiều
Hùng - Trưởng khoa chấn thương sọ não bệnh viện Việt - Đức, người được
giới y học thế giới tôn là "bàn tay vàng" trong phẫu thuật chấn thương, chỉnh
hình sọ não, Tiến sỹ Toán học Kiều Phương Chi - giảng viên khoa Toán
Trường Đại học Vinh... Lĩnh vực nào người Hồng Lĩnh cũng có đóng góp
xứng đáng. Đặc biệt, trong năm học 2012 - 2013 vừa qua có em Đinh Lê
Công đạt giải Bạc Toán quốc tế và em Trần Xuân Bách thủ khoa Trường Đại
Học Y Hà Nội với điểm thi 29,5.
Thổ nhưỡng núi sông ấy cũng tạo cho vùng đất này những truyền thống
văn hóa, lao động đặc sắc. Hiện nay cùng với những câu ca, điệu ví, thị xã
Hồng Lĩnh còn nổi tiếng với lễ hội hát Sắc Bùa ở xã Thuận Lộc. Sau hội hát

Bùi Cầm Hổ (phường Đậu Liêu), Đền thờ Song Trạng Sử (phường Đức
Thuận), Hồ và Chùa Thiên Tượng (phường Bắc Hồng - Trung Lương); 9 di
tích xếp hạng Di tích cấp tỉnh: Chùa Long Đàm, Đền Thánh thợ Vân Chàng,
Đền thờ Tích Thiện, Nhà thờ Nguyễn Trọng Tương, nhà thờ Phan Hưng Tạo,
nhà thờ họ Lê (phường Đức Thuận), nhà thờ Thái Kính (phường Đậu Liêu),
nhà thờ Bùi Đăng Đạt (phường Trung Lương), Cum di tích Tiên Sơn.
Do những đặc điểm riêng của yếu tố địa - văn hóa , trải qua các thời kì
lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm để bảo vệ quê hương đất nước và
chống thiên tai khắc nghiệt để bảo vệ cuộc sống. Nhân dân Hồng Lĩnh đã
sáng tạo và hun đúc nên những nét riêng về cốt cách, những giá trị văn hóa
vật thể và phi vật thể đặc sắc được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Bởi trong tâm thức họ Núi Hồng - Ngàn Hống - Hồng Lĩnh là kinh đô đầu
tiên của người Việt và quê tôi nằm trong bộ Cửu Đức nước Văn lang của các
22


Vua Hùng. Thì đấy, trầm tích văn hóa vùng đất quê tôi đã kết nên cổ tích,
huyền thoại, phong tục, thơ ca, lễ hội, làng nghề, chùa chiền, đền miếu, ... rồi
danh thần, lương tướng, hiền tài xuất chúng thời nào cũng có.
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Hồng Lĩnh
1.2.1 Hồng Lĩnh trước thế kỷ X
Trước hết ta tìm về cội nguồn của "Núi Hồng - Đệ nhất Hoan Châu".
"Cách đây khoảng 25 triệu năm, trái đất bắt đầu diễn ra những hoạt động tạo
núi mở ra một chu kỳ dài, chu kỳ Himalaya. Hàng chục triệu năm sau đó, các
vùng Trường Sơn, Thiên Nhẫn, Trà Sơn, Hoành Sơn lần lượt được nâng thành
núi. Đến kỷ đệ tứ, cách đây khoảng một triệu năm, vùng đất có bậc địa hình 500
- 800 mét được tiếp tục nâng lên. Núi Hồng được bắt đầu từ đó". [43, 49]
Dãy núi này có tới 7 tên gọi, bốn tên nôm và ba tên Hán Việt. Dân
gian gọi là: Ngàn Hống, Núi Hồng, Rú Lớn, Rú Cao. Còn sử sách chép theo
nghĩa từ Hán Việt là Hương Tượng, Hồng Sơn, Hồng Lĩnh. Núi Hồng lớn hơn

Long Vương là Dương Vương, khi mới mở nước, đi xem phong cảnh núi sông,
tìm nơi xây dựng kinh đô. Khi về phương Nam, đến vùng Ngàn Hống, thấy
phong cảnh núi non trùng trùng điệp điệp, 99 ngọn cao tận trời xanh, chân
núi vờn đến gần cửa Đơn Hay (tức cửa Đan Nhai, tức Cửa Hội), có thế rồng
vây hổ chầu, Dương Vương rất lấy làm vừa ý. Vương bèn quyết định đắp
thành dưới núi, lấy nơi này làm đô ấp, cứ như vị trí ngày nay thì thành ấy là
đất Nội - Tả – Hữu Thiên Lộc thuộc Châu Hoan” (Nay thuộc phạm vi các xã
Thiên Lộc, Phúc Lộc, Tùng Lộc thuộc huyện Can Lộc và Thị xã Hồng Lĩnh Hà Tĩnh).
“Dựng xong đô ấp, Dương Vương lại cưỡi thuyền thẳng về hướng bắc,
tiếp tục đi xem phong cảnh đất nước. Thuyền đang đi, bỗng có một người con
gái “tóc dài người đẹp, da phấn mặt hoa” từ dưới nước nổi lên, tự xưng là
Thần Long. Sau khi chào hỏi ân cần, vương mời nàng lên thuyền, đôi bên trò
chuyện rất ăn ý. Dương Vương đưa nàng về đô ấp Ngàn Hống và cưới làm
vợ. Vương lại tiếp tục tuần thú phương Bắc. Đến vùng núi như ngày nay là
Sơn Tây, vương thấy cảnh núi sông thật là hùng vĩ đặc biệt ngã ba Hạc là nơi
thủy bộ thuận lợi, xem ra nhiều chỗ ưu việt hơn đất Hoan Châu. Vương bèn
cho xây dựng đô ấp mới ở vùng Nghĩa Lĩnh, từ ngã ba Hạc đến vùng núi Hi
Cương , làm nơi hành tại. Dương Vương lại lên vùng Hưng Hóa - Tuyên
25


Trích đoạn Hồng Lĩnh thời kỳ phong kiến Hồng Lĩnh từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay Di tích lịch sử văn hóa PHỤ LỤC 1: Bài văn cúng của đền Thánh Thợ Vân Chàng đọc vào dịp lễ Khai hạ ngày 7 tháng Giêng âm lịch hàng năm ( Phiên âm và PHỤ LỤC 2: Ban dịch bia ở đền Thánh Thợ Vân Chàng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status