BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH PHẠM THỊ NGÂN TÌM HIỂU MỘT SỐ DI TÍCH
LỊCH SỬ - VĂN HOÁ TIÊU BIỂU
Ở HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trong thời gian học tập nghiên cứu và hoàn thành luận văn “Tìm hiểu
một số di tích lịch sử - văn hoá tiêu biểu ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An"
tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy giáo, cô giáo, các cấp lãnh
đạo, gia đình, anh chị em, bạn bè đồng nghiệp.
Với tình cảm chân thành, tôi xin trân trọng cảm ơn đối với: Ban giám
hiệu, các phòng, khoa, Hội đồng khoa học của trường Đại học Vinh; Ban
giám hiệu, tập thể phòng tổ chức cán bộ trường; các thầy giáo, cô giáo đã
trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
hoàn thành luận văn; đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến với cô
giáo - Tiến sĩ Dương Thị Thanh Hải đã giành nhiều thời gian, tận tình hướng
dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Trong quá trình học tập, nghiên cứu tôi đã có nhiều cố gắng nhưng cũng
không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được nhiều ý kiến đóng
góp của các thầy giáo, cô giáo và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Phạm Thị Ngân
MỤC LỤC
Trang
A. MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề: 2
3. Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 5
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 6
5. Đóng góp của đề tài 6
6. Bố cục của đề tài 7
B. NỘI DUNG 8
Chương 1. KHÁI QUÁT VÙNG ĐẤT VÀ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ -
VĂN HOÁ HUYỆN QUỲNH LƯU 8
2.4.1. Đình làng Quỳnh Đôi 69
2.4.2. Đình Tám Mái 73
2.4.3. Một số nhận xét 76
2.5. Nhà thờ họ Hồ 77
2.5.1. Địa điểm 77
2.5.2. Khái quát về dòng họ Hồ (Quỳnhn Đôi ) 78
2.5.3. Các nhân vật được thờ tự 78
2.5.4. Khảo tả di tích 84
2.5.5. Các hiện vật trong di tích 89
2.5.6. Một số nhận xét 89
2.6. Nhà thờ - Bia và Mộ Hồ Phi Tích 90
2.6.1. Địa điểm 90
2.6.2. Nhân vật thờ tự 91
2.6.3. Khảo tả di tích 94
2.6.4. Các hiện vật trong di tích 101
2.6.5. Một số nhận xét 102
Tiểu kết chương 2 103
Chương 3. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ, VĂN HOÁ VÀ CÔNG TÁC BẢO
TỒN PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA CÁC DI TÍCH 105
3.1. Giá trị lịch sử, văn hoá 105
3.1.1. Giá trị lịch sử 105
3.1.2. Giá trị văn hoá 109
3.2. Các giá trị khác 112
3.2.1. Giá trị kiến trúc - điêu khắc 112
3.2.2. Giá trị giáo dục 114
3.2.3. Giá trị kinh tế - du lịch 116
3.3. Bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích trong công tác bảo tồn,
trùng tu di tích 117
3.3.1. Thực trạng công tác bảo tồn, trùng tu di tích 117
3.3.2. Một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích 119
của các vị anh hùng nhân dân địa phương đã lập đền, miếu thờ như một biểu hiện
của truyền thống uống nước nhớ nguồn.
Hiện nay, trên địa bàn toàn tỉnh Nghệ An có gần 1000 di tích lịch sử văn
hoá và danh lam thắng cảnh, điều này đã phản ánh lịch sử hào hùng và mảnh đất
địa linh nhân kiệt của xứ Nghệ. Nghiên cứu hệ thống các di tích lịch sử trên địa
bàn sẽ giúp chúng ta có cái nhìn cụ thể về lịch sử của tỉnh nhà qua các thời kì
lịch sử, thấy rõ được quá khứ hào hùng của dân tộc. Muốn làm được điều đó,
chúng ta trước tiên tìm hiểu các di tích lịch sử của từng địa phương mà trong đó
huyện Quỳnh Lưu là vùng đất tiêu biểu của tỉnh Nghệ An - nơi có nhiều di tích
lịch sử - văn hoá tiêu biểu.
2
Quỳnh Lưu - mảnh đất địa đầu xứ Nghệ, vùng đất gắn liền với lịch sử Việt
Nam. Bởi, từ xa xưa, Quỳnh Lưu không chỉ biết đến như một địa bàn phát triển
lịch sử lâu đời mà còn là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử sôi động, là quê hương
của nhiều bậc danh nhân đất nước, nhiều hào kiệt qua nhiều thời kỳ lịch sử. Trong
tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, bằng đấu tranh lao động và sáng tạo, nhiều
thế hệ Quỳnh Lưu kế tiếp nhau tạo dựng nên một vùng đất có truyền thống lịch sử
- văn hoá phong phú.
Trên nền bức tranh lịch sử đầy biến động đó, hoà với sự phong phú cả về
đời sống vật chất và tinh thần của người dân nơi đây, nổi bật lên những công trình
kiến trúc có bề dày lịch sử như: đình, đền, chùa, nhà thờ họ Những công trình
được xây dựng nên với sự tôn kính, ngưỡng mộ của người dân lao động. Và tất
thảy người dân đều mong muốn thờ phụng nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh trong
sâu thẳm con người mình.
Mỗi chúng ta sống không phải vì quá khứ, nhưng ta lại sống trên nền tảng
của quá khứ, quá khứ là nền tảng cho tương lai. Đây cũng chính là mối quan hệ
điểm của các loại hình di tích lịch sử - văn hoá ở Việt Nam.
Một số công trình liên quan trực tiếp đến nội dung đề tài chúng tôi lựa
chọn, đó là các công trình của Nguyễn Đổng Chi - Người đã dành hơn nửa cuộc
đời nghiên cứu về văn hoá xứ Nghệ. Trong đó phải kể đến công trình: "Địa chí
văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh". Tác giả đã dành hẳn một chương để liệt kê các
đền, nghè, miếu trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu. Ngoài ra, tác giả đi sâu nghiên
cứu và viết về thần tích các làng của các xã như: thần tích làng Yên Đình (Quỳnh
Hưng), thần tích làng Như Bá (Quỳnh Bá), thần tích làng Quỳnh Tụ
Trong cuốn "Địa danh lịch sử và văn hoá Nghệ An" của Tác giả Trần Viết Thụ
(chủ biên), do Nxb Nghệ An ấn hành năm 2006, tác giả giải thích tất cả các địa danh
lịch sử - văn hoá trên địa bàn tỉnh Nghệ An, trong đó có đề cập đến một số đền, chùa
tiêu biểu ở huyện Quỳnh Lưu như: đền Cờn, núi Bào Đột, chùa An Thái
Viết về lịch sử - văn hoá trên địa bàn tỉnh Nghệ An, còn có công trình
"Nghệ An di tích danh thắng" (Sở văn hoá thông tin Nghệ An), và "Tìm trong di
sản văn hoá xứ Nghệ" của Đào Tam Tỉnh. Trong hai công trình đó, tác giả đã đề
cập ít nhiều đến nội dung đề tài lựa chọn.
4
Trong quá trình tìm hiểu đề tài này, chúng tôi đã tiếp cận với nhiều công
trình của cố tác giả Ninh Viết Giao. Ông là người đã dồn nhiều tâm sức để viết
về sự tích các ngôi đền trên địa bàn tỉnh như: "Tục thờ thần và thần tích Nghệ
An", trong đó có tục thờ Tứ vị thánh nương ở đền Cờn (xã Quỳnh Phương -
Quỳnh Lưu). Công trình "Đền Cờn - tục thờ tứ vị thánh nương và quần thể di
tích văn hoá ở xã Quỳnh Phương" đã được tác giả nghiên cứu, lý giải cụ thể về
mặt tâm linh, về tục thờ tứ vị thánh nương trong quần thể di tích trên địa bàn
huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Tác giả Ninh Viết Giao còn dày công trong
việc sưu tầm và biên soạn công trình "Địa chí văn hoá Quỳnh Lưu". Trong cuốn
Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Trong đó, chúng tôi xác định tìm hiểu những di tích
lịch sử - văn hoá tiêu biểu được xếp hạng quốc gia trên các hạng mục di tích như
đền, chùa, nhà thờ họ và đình làng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Từ đối tượng nghiên cứu trên, đề tài xác định
các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Quá trình hình thành hình các di tích lịch sử - văn hoá huyện Quỳnh Lưu.
- Diện mạo các di tích lịch sử - văn hoá từ nguồn gốc, quá trình xây dựng,
trùng tu, tôn tạo; kiến trúc, điêu khắc của các di tích lịch sử; các lễ hội, tín
ngưỡng liên quan đến di tích.
- Giá trị lịch sử, văn hoá của các di tích; ảnh hưởng của các di tích đối với
tình hình kinh tế - xã hội hiện nay của huyện Quỳnh Lưu. Công tác bảo tồn,
trùng tu các di tích lịch sử văn hoá trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu.
3.3. Phạm vi nghiên cứu.
- Phạm vi không gian: Chúng tôi giới hạn trong không gian của huyện
Quỳnh Lưu ngày nay.
- Phạm vi thời gian: Chúng tôi tìm hiểu về lịch sử của các di tích từ khi
được xây dựng cho đến nay.
- Phạm vi nội dung: Chúng tôi giới hạn trong một số di tích lịch sử - văn hoá
tiêu biểu đã được xếp hạng quốc gia hoặc cấp tỉnh như: đền Cờn, đền Vưu, đền
Bình An chùa Bảo Minh, đình làng Quỳnh Đôi, đình Tám Mái, nhà thờ họ Hồ, nhà
thờ Hồ Sĩ Dương.
6
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tài liệu
Để hoàn thành đề tài này, bản thân tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu có
liên quan, bao gồm các loại tài liệu như:
có cái nhìn khái quát, toàn diện về các di tích lịch sử trên địa bàn huyện, góp
phần tìm hiểu truyền thống lịch sử văn hoá của mảnh đất này, từ đó giáo dục cho
thế hệ trẻ truyền thống uống nước nhớ nguồn và những giá trị lịch sử quý báu
cần được lưu giữ và phát huy.
- Đề tài góp phần cung cấp, bổ sung một số tư liệu trong việc giảng dạy
phần lịch sử địa phương ở trường phổ thông.
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Phần nội
dung chính gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát vùng đất và các di tích lịch sử - văn hoá huyện
Quỳnh Lưu
Chương 2: Diện mạo một số di tích lịch sử - văn hoá tiêu biểu trên địa
bàn huyện Quỳnh Lưu
Chương 3: Giá trị lịch sử - văn hoá và một số giải pháp nhằm bảo tồn, tôn
tạo các di tích 8
B. NỘI DUNG
Chương 1
KHÁI QUÁT VÙNG ĐẤT VÀ CÁC DI TÍCH
LỊCH SỬ - VĂN HOÁ HUYỆN QUỲNH LƯU
1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và truyền thống lịch
sử - văn hoá của huyện Quỳnh Lưu
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
núi đá Hoàng Mai. Lê Hữu Trác trong chuyến thượng kinh (1781) chữa bệnh cho
Trịnh Cán , khi đi qua nơi giáp giới Thanh Hoá và Nghệ An này thấy núi non
trùng điệp , nhấp nhô, tráng lệ đã ứng khẩu thành bài thơ:
Hoan, Ái phân cương địa,
Quần sơn hỗ tống nghinh.
Tiều ca, vân lộ xuất,
Điểu ngữ, cốc phong sinh.
Phục thạch đương đồ lập,
Giao thiên đoạn bích hằng
Phó bảng Phan Võ dịch thơ:
Nghệ, Thanh phân giới từ đây,
Đón đưa núi nọ non này gần xa.
Đường mây văng vẳng tiều ca,
Líu lo chim nói gió hoà đìu hiu.
Nhấp nhô đá dựng giữa đèo,
Trời nam mảnh biếc một chiều giăng ngang. [17;21]
Phía Nam và Tây Nam Quỳnh Lưu giáp huyện Diễn Châu và huyện Yên
Thành với ranh giới khoảng 31km. Vùng phía Nam của huyện Quỳnh Lưu có
chung khu vực đồng bằng với 2 huyện diễn Châu và Yên Thành (thường gọi là
đồng bằng Diễn - Yên - Quỳnh). Phía Tây, huyện Quỳnh Lưu giáp huyện Nghĩa
Đàn với ranh giới khoảng 33km được hình thành một cách tự nhiên bằng các dãy
núi kéo dài liên tục, giữa chúng có nhiều đèo thấp tạo ra những con đường nối
liền hai huyện với nhau. Phía Đông, huyện Quỳnh Lưu giáp biển Đông với
đường bờ biển 34km.
Diện tích tự nhiên của huyện Quỳnh Lưu là 586,4km
2
chiếm 3,58% diện
đông quốc lộ 1A). Đây là vùng đất của 15 xã, có điều kiện đất đai thích hợp cho
việc trồng lúa và được coi là vựa thóc của huyện. Vùng đất này tương đối bằng
phẳng, có độ cao trung bình khoảng 4m so với mặt biển. Từ xa xưa, đây là vùng
biển cổ, do sự bồi lắng, trầm tích phù sa cổ, có nhiều bầu nước mặn nhưng được
bàn tay lao động của con người qua bao nhiêu thế hệ cải tạo, thau chua, rửa mặn,
khai phá nên độ phì nhiêu của đất khá hơn nhiều so với các vùng khác ở trong
11
huyện. Vùng đất này chủ yếu được tưới từ hệ thống thuỷ lợi của tỉnh (đập Đô
Lương) và từ những năm 80 được bổ sung nước của hệ thống thuỷ lợi Vực Mấu.
Đây còn là vùng trung tâm kinh tế, văn hoá, chính trị của huyện.
Vùng đồi núi không chỉ bao gồm các xã phía tây mà còn bao gồm một số xã
phía bắc. Quỳnh Lưu là một huyện ven biển nhưng lại có nhiều núi đồi. Nếu tính cả
đồi núi, trung du và bán sơn địa thì diện tích vùng này chiếm khoảng 70% diện tích
của toàn huyện. Với sự phong phú về các loại đất đã tạo điều kiện thuận lợi cho khả
năng mở rộng diện tích canh tác, phát triển chăn nuôi, nông nghiệp, lâm nghiệp.
Về sông ngòi, kênh đào, cửa biển nơi đây đóng một vai trò khá quan trọng
trong cấu tạo hệ thống địa hình cúng như ảnh hưởng tới bộ mặt kinh tế - xã hội
của huyện. Sông Giát (thường được gọi là sông Thái) bắt nguồn từ Bào Giang ở
phía tây của huyện chảy về phái đông qua các xã Quỳnh Lâm, Quỳnh Giang, thị
trấn Cầu Giát, Quỳnh Diễn, Quỳnh Hưng, Quỳnh Ngọc, Sơn Hải, Quỳnh Thọ rồi
đổ ra cửa lạch Thơi. Sông Hoàng Mai có thượng nguồn thuộc các xã quỳnh
Thắng ở phía tây chảy qua các xã Quỳnh Trang, Quỳnh Vinh, Quỳnh Thiện, Mai
Hùng, Quỳnh Dị, Quỳnh Lộc rồi đở ra cửa Cờn giữa hai xã Quỳnh Lập và
Quỳnh Phương. Ở cách huyện (lỵ) Quỳnh Lưu 15 dặm về phía đông bắc. Nước
từ khe Lễ (Quỳnh Châu) chảy về phía đông 30 dặm đến đường Trạm thuộc xã
Hoàng Mai lại chảy 3 dặm đến xã Kim Lung, rồi hợp với Kênh Tang, lại chảy 5
cảnh làm thơ.
Về khí hậu, Quỳnh Lưu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới đồng thời lại
chịu ảnh hưởng khí hậu biển, thường có gió mùa đông - bắc lạnh vào mùa đông;
gió phơn Tây Nam vừa nóng vừa khô (thường gọi là gió Lào) thổi mạnh nhất từ
tháng 5 đến tháng 8 hàng năm; xen giữa gió Lào là gió Đông - Nam mát, mang
hơi nước từ biển vào (thường được gọi là gió Nồm).
Ở Quỳnh Lưu, hệ thống đường giao thông khá dày, phong phú và thuận
tiện. Tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy qua huyện từ xã Quỳnh Thiện phía bắc
đến hết xã Quỳnh Giang phía nam dài hơn 30km, có hai ga: Hoàng Mai và Cầu
Giát. Đây là hai ga được coi là trọng yếu trung chuyển hàng trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước, ngày nay trở thành ga phụ trong tuyến vận chuyển
đường sắt Bắc - Nam. Quỳnh Lưu còn một tuyến đường sắt nữa theo hướng tây
13
bắc, xuất phát từ ga Cầu Giát lên huyện Nghĩa đàn dài 15 km (có ga trung
chuyển là Tuần). Tuyến đường sắt này chủ yếu phục vụ cho việc vận chuyển
hàng hoá nông, lâm sản.
Trong các tuyến đường bộ, lớn nhất là quốc lộ 1A chạy qua địa bàn huyện
Quỳnh Lưu dài 26km từ khe nước lạnh đến hét xã Quỳnh Giang (tức là từ km
382 đến km 408). Sau quốc lộ 1A là quốc lộ 48 chạy từ Yên Lý (Diễn Châu) lên
Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong - đoan chạy qua Quỳnh Lưu chỉ
dài hơn 10km, nhưng cũng là tuyến giao lưu rất quan trọng nối Quỳnh Lưu với
vùng núi của tỉnh Nghệ An.
Như vậy, quanh trục quốc lộ 1A, đường Quỳnh Lưu đã tạo ra hệ thống
đường "xương cá", từ hệ thống này lại tạo ra đường "bàn cờ" tức là đường liên
xã, liên thôn (hiện có khoảng hơn 200 đường liên xã, liên huyện); có nơi đường
khá tốt, được rải đá hộc dày, thậm chí có xã đường đã được rải nhựa.
Với đặc thù về điều kiện tự nhiên của huyện Quỳnh Lưu như vậy nên nhìn
chung có nhiều mặt thuận lợi cho sự phát triển kinh tế. Chúng ta có thể ví rằng,
Quỳnh Lưu là hình ảnh thu nhỏ của tỉnh Nghệ An với địa hình rất đa dạng: có
rừng núi, có biển, nhiều sông ngòi, có các vùng đất khác nhau, có đường giao
thông thuỷ, bộ thuận tiện. Chính vì tính chất đa dạng của tự nhiên đó mà Quỳnh
Lưu có điều kiện phát triển nhiều loại cây trồng, vật nuôi, khai thác thuỷ sản, làm
các nghề thủ công, đặc biệt là làm muối thực phẩm ở các xã Quỳnh Thuận, Quỳnh
Yên, Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Minh, Quỳnh Ngọc, Quỳnh Phương, An Hoà với kinh
nghiệm lâu đời, muối chất lượng cao, trở thành muối hàng hoá từ lâu, trong đó nổi
tiếng nhất là muối An Hoà.
Kinh tế Quỳnh Lưu rất đa dạng như vậy nhưng nét chung nhất thì nông
nghiệp vẫn là chủ yếu và trước cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn ở vào trình
độ tự túc tự cấp. Từ sau đổi mới 1986 cho đến nay, nông nghiệp Quỳnh Lưu có
nhiều chuyển biến rõ rệt.
Với 34 km bờ biển và có 3 cửa biển là Cửa Cờn, Cửa Quèn và Cửa Thơi
nên kinh tế biển là một trong những lợi thế cho Quỳnh Lưu. Vùng biển Quỳnh
Lưu còn có nhiều phù du sinh vật và nhiều thức ăn từ đất liền do sông Mai
Giang, kênh nhà Lê và sông Thai đổ ra, tạo nên một ngư trường hàng năm có thể
15
khai thác hàng ngàn tấn hải sản. Hải sản không những cung cấp cho nhu cầu của
cư dân trong vùng mà còn cho cả những vùng lân cận, đồng thời nghề chế biến
hải sản đã sớm ra đời và phát triển, trong đó đáng chú ý là nghề làm nước mắm.
Nước mắm Quỳnh Lưu đã nổi tiếng từ lâu, đã đến được nhiều vùng trong nước.
Có thể nói, các xã dọc ven biển của huyện từ lâu đã có nghề làm nước mắm
nhưng nổi tiếng là ở Thanh Đoài, Ngọc Lâm, Phú Đức, Phú Nghĩa, Quỳnh
Phương, Tân An, Văn Thai
Tóm lại, qua bức tranh kinh tế của Quỳnh Lưu, chúng ta có thể dễ dàng
nhận thấy Quỳnh Lưu không phải chỉ có nông nghiệp với con trâu đi trước cái cày
theo sau, với những người nông dân mặc áo nâu bầm quanh năm lam lũ trên đồng
ruộng, mà còn có nghề rừng, săn bắt, hái lượm; đánh bắt thuỷ hải sản; có các nghề
thủ công truyền thống; có buôn bán, không chỉ buôn bộ, buôn ghánh mà buôn
thuyền mành nặng tấn quanh năm lộng gió ra khơi. Song nông nghiệp vẫn là cơ
bản. Giờ đây kinh tế thị trường mở cửa, Quỳnh Lưu đang ra sức thâm canh nông
nghiệp và làm kinh tế hàng hoá để nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân
dân, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, quê hương.
Về nguồn gốc dân cư, Quỳnh Lưu vốn là một vùng đất cổ, có cư dân sinh
sống từ lâu đời. Bằng chứng là di chỉ văn hoá Quỳnh Văn. Nó được đặt như vậy
bởi vì ở xã Quỳnh Văn di chỉ khảo cổ học được phát hiện và khai quật từ lâu và
được khai quật thêm ở thời kỳ sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và
cũng vì đây là di chỉ tiêu biểu cho loại hình những cồn vỏ sò, điệp. Ngoài Quỳnh
Văn, các di chỉ cồn sò, điệp thuộc loại hình văn hoá Quỳnh Văn còn có ở các xã
Quỳnh Hoa, Quỳnh Hậu, Quỳnh Xuân, Quỳnh Bảng, Quỳnh Lương, Quỳnh
Minh, Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Hồng, Mai Hùng,v.v Di chỉ văn hoá Quỳnh Văn
chính là sự ghi dấu con người đã sống quần tụ ở vùng biển Quỳnh Lưu ít nhất
cách ngày nay trên dưới 5000 năm [25;25]. Hiện nay, các di chỉ cồn vỏ sò, điệp
đã ở sâu vào trong đất liền 5km - 7km nhưng xưa là bờ biển vì ngoài những cồn
vỏ sò, điệp lớn còn có những vạch nước biển xâm thực còn để lại dấu vết rõ trên
vách núi đá vôi ở những xã đồng bằng.
Người nguyên thuỷ trên đất Quỳnh Lưu tiến thêm một bước nữa rất quan
trọng sau thời kỳ văn hoá Quỳnh Văn là chuyển sang thời kỳ hậu đá mới với di
17
chỉ khảo cổ học tiêu biểu là Trại Ổi (xã Quỳnh Hồng). Di chỉ này thuộc nền văn
một quá khứ vàng son của cha ông mình như: ở Quỳnh Đôi có nhà thờ họ Hồ, họ
Hoàng, họ Lê ở Quỳnh Thiện v.v. Nhân dân Quỳnh Lưu thờ cúng tổ tiên ông bà
cha mẹ rất thành kính. Bà con quan niệm rằng dương sao âm vậy, người sống
làm sao thì chết cũng như thế, nghĩa là người khuất núi rồi cũng cần ăn uống,
tiêu pha, đi lại, có quần áo mặc, sinh hoạt như người sống. Bà con cũng tin rằng,
linh hồn ông bà, cha mẹ đã qua đời thường ngự trị trên bàn thờ để gần gũi con
cháu, theo dõi những công việc của con cháu và phù hộ cho con cháu đỡ gặp
những rủi ro, ăn nên làm ra, đỡ ốm đau, và có thể mách bảo cho con cháu
những gì sắp xẩy ra, làm sao để tránh.
Thiên chúa giáo được truyền vào đây cùng với quá trình các nước tư bản
phương Tây bành trướng đi tìm thuộc địa, chưa có số liệu thống kê trước đây,
nhưng hiện nay số người theo đạo Thiên Chúa chiếm hơn 10% so với số dân của
huyện [25;34]. Người dân trên địa bàn Quỳnh Lưu sống với nhau từ bao đời, đã
tạo nên khối đoàn kết cộng đồng dân cư, tình làng nghĩa xóm, đoàn kết không
những người Kinh, người Thái, người theo đạo và không theo đạo. Cuộc sống
bình lặng dưới những luỹ tre xanh, dưới những chân núi và ở những làng chài
sóng vỗ quanh năm với nền kinh tế phong kiến, tồn tại chế độ ruộng đất công
khá rõ, đã tạo nên một nếp sống riêng. Người dân Quỳnh Lưu bao thế hệ đã
chung lưng đấu cật tạo nên một nền văn hoá bản địa đặc sắc. Các sáng tạo và
sinh hoạt văn hoá dân gian như một dòng chảy nối liền quá khứ, hiện tại và
tương lai, nó còn như một bầu sữa mẹ truyền vào các thế hệ con người Quỳnh
Lưu, làm nên tính cách con người Quỳnh Lưu: cần cù, thông minh, quảng giao,
mến khách, thuỷ chung với đồng bào, đồng chí, v.v Tuy vậy, cũng như các
vùng khác của cả nước, dưới chế độ phong kiến bên cạnh những thuần phong mỹ
tục thì những hủ tục vẫn còn nặng nề, nó thấm vào các sinh hoạt ma chay, cưới
xin, lễ bái phiền phức, tốn kém [25;34 - 35].
Ngoài việc thờ cúng tổ tiên, cư dân Quỳnh Lưu cò thờ thần gồm cả nhân
thần và nhiên thần. Do đó, đền, chùa đóng một vai trò khá quan trọng trong đời
hình thành nhân cách của trẻ thơ đồng thời thổi vào tâm hồn các thế hệ trẻ ý chí
vượt khó, vươn lên trong học tập. Việc giáo dục ở nhà trường cũng được coi
trọng. Các trường làng, trường huyện là những "lò" đào tạo khá quan trọng cho