BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM THỊ NGÂN
TÌM HIỂU MỘT SỐ DI TÍCH
LỊCH SỬ - VĂN HOÁ TIÊU BIỂU
Ở HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
2
NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM THỊ NGÂN
TÌM HIỂU MỘT SỐ DI TÍCH
LỊCH SỬ - VĂN HOÁ TIÊU BIỂU
Ở HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
2.1.2. Nguồn gốc lịch sử...........................................................................41
2.1.3. Đặc điểm kiến trúc điêu khắc.....................................................44
2.1.4. Các hiện vật trong di tích..............................................................49
2.1.5. Một số nhận xét..............................................................................51
2.2. Đền Vưu........................................................................................52
7
2.2.1. Địa điểm ........................................................................................52
2.2.2. Nhân vật thờ tự...............................................................................53
2.2.3. Đặc điểm kiến trúc điêu khắc.....................................................56
2.2.4. Các hiện vật trong di tích..............................................................62
2.2.5. Một số nhận xét..............................................................................64
2.3. Đền Bình An, Chùa Bảo Minh....................................................65
2.3.1. Địa điểm.........................................................................................65
2.3.2. Nhân vật thờ tự...............................................................................65
2.3.3. Đặc điểm kiến trúc điêu khắc.....................................................69
2.3.4. Các hiện vật trong di tích..............................................................75
2.3.5. Một số nhận xét..............................................................................75
2.4. Đình làng ở Quỳnh Lưu...............................................................77
2.4.1. Đình làng Quỳnh Đôi....................................................................77
2.4.2. Đình Tám Mái................................................................................81
2.4.3. Một số nhận xét..............................................................................84
2.5. Nhà thờ họ Hồ...............................................................................85
2.5.1. Địa điểm.........................................................................................85
2.5.2. Khái quát về dòng họ Hồ (Quỳnhn Đôi ).....................................86
2.5.3. Các nhân vật được thờ tự..............................................................86
2.5.4. Khảo tả di tích...............................................................................93
2.5.5. Các hiện vật trong di tích ..........................................................98
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................136
E. PHỤ LỤC ...................................................................................................140
PHỤ LỤC 1......................................................................................................140
9
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, di tích lịch sử - văn hoá
được coi như là nguồn sử liệu vật chất và tinh thần nhằm lưu giữ, kết nối giữa
quá khứ và hiện tại. Các di tích lịch sử - văn hoá tiêu biểu như đình, đền, chùa...
là một bộ phận của văn hoá vật chất do nhân dân lao động sáng tạo ra. Và gắn
liền với nó là những sự tích, truyền thuyết, tín ngưỡng, tôn giáo liên quan đến sự
hình thành và tồn tại của các di tích trong tiến trình lịch sử. Chính vì thế, di tích
lịch sử - văn hoá đóng vai trò quan trọng trong việc phục dựng lại quá khứ. Như
vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu các di tích lịch sử - văn hoá giúp chúng ta có được
cái nhìn sâu hơn những gì thuộc về quá khứ của dân tộc và của từng địa phương.
Nghệ An xưa và nay vẫn được coi là mảnh đất trọng yếu, có vị trí chiến
lược liên quan đến sự phát triển của quốc gia, dân tộc. Trong các thời kì phong
kiến nơi đây trở thành điểm nóng tranh giành của các thế lực. Đứng vững chân ở
Nghệ An thì có thể làm nên những công trạng lớn bởi Nghệ An có địa thế rộng rãi
chính là đất xung yếu giữa Nam và Bắc. Trong các cuộc chiến tranh Pháp, Mỹ gây
ra sau này, Nghệ An cũng trở thành một trong những mảnh đất nóng trong bom
đạn. Do lịch sử xứ Nghệ đầy biến động như vậy nên mảnh đất này đã xuất hiện
bao bậc anh hùng hào kiệt có công trạng với lịch sử dân tộc. Để ghi nhớ công ơn
của các vị anh hùng nhân dân địa phương đã lập đền, miếu thờ như một biểu hiện
của truyền thống uống nước nhớ nguồn.
Hiện nay, trên địa bàn toàn tỉnh Nghệ An có gần 1000 di tích lịch sử văn
hoá và danh lam thắng cảnh, điều này đã phản ánh lịch sử hào hùng và mảnh đất
Với tất cả những lí do đó, tôi đã lựa chọn đề tài "Tìm hiểu một số di tích
lịch sử - văn hoá tiêu biểu ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An" làm luận văn
tốt nghiệp cao học thạc sỹ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam với mong muốn góp
một phân nhỏ vào công tác bảo tồn, tôn tạo và phát triển các di tích lịch sử văn
hoá trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu nói riêng, tỉnh Nghệ An nói chung.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Việc "Tìm hiểu một số di tích lịch sử - văn hoá tiêu biểu ở huyện Quỳnh
Lưu, tỉnh Nghệ An" không còn là một vấn đề mới mẻ, nó đã được đề cập trực
11
tiếp và gián tiếp ở nhiều công trình nghiên cứu với nhiều khía cạnh khác nhau.
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo, bài báo, tạp
chí đề cập ít nhiều đến các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Quỳnh
Lưu. Tuy nhiên, các công trình đó mới điểm qua một vài di tích tiêu biểu chứ
chưa tìm hiểu một cách đầy đủ có tính hệ thống về diện mạo của di tích lịch sử văn hoá ở huyện Quỳnh Lưu.
Có thể kể đến một số công trình mang tính khái quát về hệ thống các di
tích lịch sử - văn hoá Việt Nam của các tác giả như: Dương Văn Sáu trong "Di
tích lịch sử - văn hoá và danh thắng Việt Nam", Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.
Trong cuốn sách này, tác giả đã trình bày khái quát về hệ thống các khái niệm,
đặc điểm kiến trúc điêu khắc của các loại hình di tích lịch sử văn hoá ở Việt
Nam. Thông qua đó, chúng ta có thể hiểu một cách sâu sắc về các khái niệm, đặc
điểm của các loại hình di tích lịch sử - văn hoá ở Việt Nam.
Một số công trình liên quan trực tiếp đến nội dung đề tài chúng tôi lựa
chọn, đó là các công trình của Nguyễn Đổng Chi - Người đã dành hơn nửa cuộc
đời nghiên cứu về văn hoá xứ Nghệ. Trong đó phải kể đến công trình: "Địa chí
văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh". Tác giả đã dành hẳn một chương để liệt kê các
đền, nghè, miếu trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu. Ngoài ra, tác giả đi sâu nghiên
cứu và viết về thần tích các làng của các xã như: thần tích làng Yên Đình (Quỳnh
tích liên quan đến đền...
Viết về đình, đền cũng là một đề tài rất được các nhà báo quan tâm, tiêu
biểu là tạp chí Khoa học Công nghệ Nghệ An, số ra ngày 1/9/2013 có bài viết
"Đền Cờn trong truyền thuyết và tư liệu cổ" của tác giả Bùi Văn Chất cũng tập
hợp các tư liệu để giải thích nguồn gốc tục tứ vị thánh nương ở đền Cờn.
Tuy nhiên, những công trình chúng tôi đã trình bày trên đây mới chỉ đề cập
một cách khái quát đến một vài khía cạnh của đề tài chứ chưa trình bày một cách
đầy đủ về diện mạo, hệ thống di tích lịch sử văn hoá ở huyện Quỳnh Lưu. Trên
cơ sở kế thừa thành quả nghiên cứu của các tác giả và các công trình nghiên cứu,
có kết hợp với tư liệu điền dã, phỏng vấn những người có hiểu biết về các di tích
13
lịch sử văn hoá tại địa phương, chúng tôi đã phân loại, sắp xếp, lựa chọn, hệ
thống kiến thức nhằm trình bày một cách đầy đủ và toàn diện về diện mạo một
số di tích lịch sử văn hoá tiêu biểu ở Quỳnh Lưu.
3. Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng của đề tài là một số di tích lịch sử - văn hoá tiêu biểu ở huyện
Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Trong đó, chúng tôi xác định tìm hiểu những di tích
lịch sử - văn hoá tiêu biểu được xếp hạng quốc gia trên các hạng mục di tích như
đền, chùa, nhà thờ họ và đình làng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Từ đối tượng nghiên cứu trên, đề tài xác định
các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Quá trình hình thành hình các di tích lịch sử - văn hoá huyện Quỳnh Lưu.
- Diện mạo các di tích lịch sử - văn hoá từ nguồn gốc, quá trình xây dựng,
trùng tu, tôn tạo; kiến trúc, điêu khắc của các di tích lịch sử; các lễ hội, tín
ngưỡng liên quan đến di tích.
- Giá trị lịch sử, văn hoá của các di tích; ảnh hưởng của các di tích đối với
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về công tác văn hoá.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Chúng tôi sử dụng 2 phương pháp
chuyên ngành cơ bản là phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Ngoài ra
chúng tôi sử dụng các phương pháp liên ngành như điều tra xã hội học, điền dã
dân tộc học, phỏng vấn báo chí...để thực hiện đề tài. Trong đó chúng tôi xác định
phương pháp thực tế điền dã là chủ đạo, kết hợp với tổng hợp, đối chiếu, so
sánh...để rút ra cái chung và cái riêng của các di tích, nét đặc sắc trong nghệ
thuật kiến trúc điêu khắc của các di tích lịch sử văn hoá tiêu biểu của huyện
Quỳnh Lưu.
5. Đóng góp của đề tài
- Tạo dựng lại bức tranh về hệ thống các đình, đền, miếu, nhà thờ họ trên địa
bàn huyện Quỳnh Lưu ở tất cả các khía cạnh với những giá trị văn hoá, lịch sử.
15
- Việc tìm hiểu một số di tích lịch sử - văn hoá ở huyện Quỳnh Lưu nhằm
có cái nhìn khái quát, toàn diện về các di tích lịch sử trên địa bàn huyện, góp
phần tìm hiểu truyền thống lịch sử văn hoá của mảnh đất này, từ đó giáo dục cho
thế hệ trẻ truyền thống uống nước nhớ nguồn và những giá trị lịch sử quý báu
cần được lưu giữ và phát huy.
- Đề tài góp phần cung cấp, bổ sung một số tư liệu trong việc giảng dạy
phần lịch sử địa phương ở trường phổ thông.
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Phần nội
dung chính gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát vùng đất và các di tích lịch sử - văn hoá huyện
Quỳnh Lưu
Chương 2: Diện mạo một số di tích lịch sử - văn hoá tiêu biểu trên địa
liền hai huyện với nhau. Phía Đông, huyện Quỳnh Lưu giáp biển Đông với
đường bờ biển 34km.
Diện tích tự nhiên của huyện Quỳnh Lưu là 586,4km 2 chiếm 3,58% diện
tích toàn tỉnh, đứng hàng thứ nhất các huyện đồng bằng, thành thị và đừng hàng
thứ 11 so với các huyện, thị của tỉnh Nghệ An (theo số liệu của phòng thống kê
huyện Quỳnh Lưu). Chiều dài huyện từ Bắc xuống Nam là khoảng 26km (tính
18
theo chiều dài quốc lộ 1A chạy qua), chiều rộng từ bờ biển Đông đến điểm cực
Tây khoảng 22km (tính từ lạch Quèn dến truông Rếp).
Về cơ bản, Quỳnh Lưu là huyện đồng bằng ven biển. Nằm trong cả Châu
Diễn trước kia, nên quá trình kiến tạo địa hình của Quỳnh Lưu cũng không khác
huyện Diễn Châu và Yên Thành là mấy. Địa hình Quỳnh Lưu thấp dần từ Bắc
xuống Nam và từ Tây sang Đông. Đó là địa hình rất đa dạng, đất đai tự nhiên được
cấu tạo khác nhau. Có thể chia địa hình của huyện ra làm ba vùng tiêu biểu:
Vùng ven biển từ Đông Hồi của xã Quỳnh Lập kéo dài xuống các xã phía
Đông và Đông - Nam đến Quỳnh Thọ (phần lớn của các xã vùng này thường
được quen gọi là vùng Bãi Ngang). Đây là vùng đất hẹp ven biển ken giữa hoặc
được ngăn cách tự nhiên bởi bờ biển đến kênh Nhà Lê là con kênh chạy gần như
song song với bờ biển. Địa hình vùng ven biển có độ chênh thấp dần từ Tây sang
Đông, nói chung nó có độ cao trung bình khoảng 3m so với mặt biển. Đất ở vùng
này với hai thành phần chủ yếu là đất cát pha và đất sét nên dễ bị bào mòn hàng
năm do thiên tai. Tính chất thổ nhưỡng của vùng ven biển Quỳnh Lưu nói chung
không thích hợp cho việc trồng lúa nhưng lại là nơi tương đối thuận lợi cho việc
trồng màu và một số cây công nghiệp như lạc, vừng... Ngoài ra, dải đất cát ven
biển cũng là nơi thuận lợi cho cho việc trồng rừng cây chắn gió, cát, chủ yếu là
cây phi lao. Một số vùng trũng đất sét ngập mặn thích hợp cho việc cải tạo thành
các đống muối và hồ ao nuôi trồng thuỷ sản.
Hoàng Mai lại chảy 3 dặm đến xã Kim Lung, rồi hợp với Kênh Tang, lại chảy 5
dặm rồi hợp với kênh Xước ở phía bắc, lại chảy 3 dặm rồi đổ vào cửa Cờn
[35;150]. Sách Nghệ An Kí ghi thêm: "Sông này có bến Nghi (tức Bến Nghè) ở
thượng lưu, vách đá lởm chởm, nước mùa thu chảy xiết, không bắc cầu được, ở
quãng xã Hoàng Mai có đường quan, có bến đò Hoàng Mai (nay đã có cầu hoàng
Mai). Quãng sông ở phố Hoàng Sa hợp với các lạch nước của cửa Quèn có tên
riêng là sông Ngọc Để" [28;191].
Như vậy, sông Ngọc Để, một nhánh của sông Hoàng Mai chảy từ Quỳnh
Phương đến Tiến Thuỷ đổ ra cửa Quèn, tạo nên vùng Bãi Ngang. Sông này nhân
dân thường gọi là sông Mai hay sông Mơ. Ngày nay chúng ta biết thượng nguồn
20
của sông Hoàng Mai là Vực Mấu ở Bến Nghè thuộc xã Quỳnh Thắng. Đặc biệt,
có một con kênh khá dài và rộng (dài hơn 20km) được gọi bằng nhiều tên khác
nhau tuỳ từng giai đoạn chảy qua mỗi xã: kênh Son, kênh Dâu, kênh Bà Hoà,
kênh Mơ, kênh Ngọc Để, v.v.. nhưng phổ biến nhất và thành một tên chung là
kênh Nhà Lê. Như vậy, từ thế kỉ X trở đi, sông Hoàng Mai được hợp lưu thêm
bởi kênh đào và qua nhiều thế kỉ, kênh đào này được nạo vét, gia cố, trở thành
tuyến vận chuyển khá quan trọng đáp ứng cho nhu cầu kinh tế và quốc phòng
trong vùng. Và thật ra, xét về quy mô của con kênh này, ranh giới, cách gọi giữa
"kênh" và "sông" hiện nay chỉ là tương đối.
Đã nói về núi sông ở Quỳnh Lưu phải nói tới các cửa sông (cửa lạch). Trên
dải bờ biển dài 34km, Quỳnh Lưu có nhiều cửa sông tạo ra thế gắn bó, giao lưu
giữa vùng đồng bằng, bán sơn địa với vùng biển, cũng là tạo ra nguồn thuỷ sản
phong phú ở ven biển. Đó là cửa lạch Cờn, cửa lạch Quèn, cửa lạch Thơi (tỉnh
Nghệ An có 6 cửa sông: Cờn, Quèn, Thơi, Vạn, Lò, Hội thì huyện Quỳnh Lưu đã
chiếm 3). Hai bên cửa lạch Cờn là hai xã Quỳnh Phương và Quỳnh Lập với cảnh
sơn thuỷ hữu tình, núi ăn lan ra biển tạo ra cảnh đẹp mà nhiều người đi qua đã tức
tỉnh phía bắc và phía nam. Trước đây, cửa Cờn là một quân cảng lớn (cảng Xước)
là chỗ trú quân của nhiều viên tướng chỉ huy các đạo quân qua các triều đại phong
kiến đi tuần hoặc chinh chiến ở phương nam. Sử sách có chép là các vua Lê Đại
Hành (980 - 1005), Lý Thái Tông (1293 1314), Trần Duệ Tông (1028 -1054), Lê
Thánh Tông (1460 -1497), v.v.đã có lần ghé vào cửa lạch Cờn. Cả ba cửa lạch: Cờn,
Quèn, Thơi trước đây là điểm xuất phát thuận lợi cho việc các thuyền đi mua bán,
trao đổi hàng hoá với các tỉnh khác, dẫn đến việc hình thành các địa danh gắn liền với
các sản vật nổi tiếng như: nước mắm, muối, tơ lụa cả nam và bắc Quỳnh Lưu.
Tóm lại, ở Quỳnh Lưu có nhiều loại đường giao thông. Từ sau cách mạng
tháng Tám đến nay, Đảng bộ và nhân dân Quỳnh Lưu đã bỏ nhiều công sức và
tiền của để đào đắp tu sửa, xây dựng các tuyến đường giao thông, các cầu, các
bến bãi thuận tiện cho việc đi lại và chuyên chở hàng hoá.
Nhìn một cách tổng quát, địa thế tự nhiên ở Quỳnh Lưu có vị trí địa lý quan
trọng đối với quốc phòng bởi vì nó nằm vào thế "Nam Thanh Bắc Nghệ" có các
22
đường giao thông chiến lược chạy qua, có địa thế thông ra biển đông và là bàn đạp
ra bắc, vào nam, lên miền tây. Cảng Xước của cửa lạch Cờn thời kỳ phong kiến
có vị trí quan trọng trên con đường các vua quan hay đi tuần du phương nam, tầm
quan trọng của nó chỉ đứng sau cửa Hội xét về mặt quân sự. Hai cửa lạch khác là
Quèn Và Thơi cũng là hai vị trí quân sự quan trọng án ngữ đường biển Bắc - Nam.
Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Lý Nhật Quang, Trần Quang Khải, Quang Trung... đã
dựa vào vùng Quỳnh Lưu để chống giặc. Có thể nói, Quỳnh Lưu nhiều lần đã trở
thành nơi chiến địa, do vậy, không biết từ thời nào đã có câu: "Quỳnh Lưu chiến
địa, Mai giang huyết hồng" [25;23].
1.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội
Với đặc thù về điều kiện tự nhiên của huyện Quỳnh Lưu như vậy nên nhìn
chung có nhiều mặt thuận lợi cho sự phát triển kinh tế. Chúng ta có thể ví rằng,
ở Thanh Đoài, Ngọc Lâm, Phú Đức, Phú Nghĩa...Làm gạch ngói ở Cẩm Trường
(Quỳnh Yên), làm đá nung vôi xây nhà ở Quỳnh Tụ (Quỳnh Xuân), Ngọc Huy
(Mai Hùng)...Nghề đóng thuyền và chạm trổ tủ, sập, bàn nghế ở Phú Nghĩa Hạ, Phú
Nghĩa Thượng...Ngoài ra còn phải kể tới nghề mộc, nuôi tằm, trồng bông, trồng
dâu, dệt lụa, dệt vải, làm nón, rèn, dệt chiếu, đan lát, làm bún, v.v...
Việc buôn bán ở Quỳnh Lưu trước đây cũng đã phát triển do có giao thông
đường biển thuận lợi. Ngay từ thời nhà Lý, một thương cảng đã xuất hiện ở địa
bàn Quỳnh Xuân, Quỳnh Văn hiện nay (cảng Vân Đồn) [17;196]. Thuyền buôn
trong nước đã ghé vào Vân Đồn để buôn bán, trao đổi hàng hoá. Đây cũng là
trung tâm của huyện từ thời Lý thế kỷ X đến thời Lê thế kỷ XVII, nơi có sự giao
lưu buôn bán với các vùng trong nước. Bên cạnh cảng Vân Đồn còn có chợ Vân
cũng đã trở thành một chợ lớn rất nổi tiếng ở Quỳnh Lưu. Đáng kể nhất là ở
Quỳnh Lưu từ lâu đã hình thành các đội buôn bằng thuyền mành (thuyền buồm)
có trọng tải mỗi thuyền hàng chục tấn chở các sản vật của huyện theo đường
biển chủ yếu vào các cửa sông tiến lên các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, thậm chí theo
sông Hồng lên các tỉnh trung du. Hàng đi, hàng về làm tăng cường sự giao lưu
kinh tế, văn hoá và đây là một yếu tố quan trọng làm cho các chợ làng, chợ
huyện thêm sầm uất.
24
Như vậy, chính địa hình phong phú đã làm các ngành nghề kinh tế của
Quỳnh Lưu rất đa dạng; mặc dù đó là nền kinh tế lạc hậu, chưa phát triển, tự túc
tự cấp là chủ yếu, nhưng nó đã có một số biểu hiện của sự trao đổi hàng hoá
trong và ngoài huyện thậm chí là ngoài tỉnh.
Tóm lại, qua bức tranh kinh tế của Quỳnh Lưu, chúng ta có thể dễ dàng
nhận thấy Quỳnh Lưu không phải chỉ có nông nghiệp với con trâu đi trước cái cày
theo sau, với những người nông dân mặc áo nâu bầm quanh năm lam lũ trên đồng
ruộng, mà còn có nghề rừng, săn bắt, hái lượm; đánh bắt thuỷ hải sản; có các nghề
(Quỳnh Giang). Những hiện vật thu được qua khai quật ở di chỉ này nói lên rằng,
cư dân ở đây vẫn đang ở vào chế độ thị tộc mẫu hệ, đã có sự liên hệ giữa các cư
dân lưu vực sông Hồng và sông Lam (cách ngày nay khoảng 3.500 năm).
Như vậy, bằng chính lao động của mình, những chủ nhân cổ xưa trên
mảnh đất Quỳnh Lưu đã "khai thiên phá thạch" vật lộn với thiên nhiên, tạo nên
một kỳ tích hình thành vùng đất và hình thành cộng đồng dân cư thời xa xưa.
Ngoài cư dân nguyên thuỷ là người Việt thì ở Quỳnh Lưu còn có sự sinh sống
của các dân tộc thiểu số. Theo điều tra ngày 1.4.1999, Quỳnh Lưu có 340.725
người, trong đó có 1.590 người thuộc dân tộc thiểu số, chủ yếu là dân tộc Thái
thuộc nhóm Mãn Thanh theo cách gọi của chính họ [25;30]. Số hộ người Thái
hiện nay chủ yếu sống ở Quỳnh Thắng phía tây của huyện, trước đây cũng có
một số ít hộ sống ở hai xã Quỳnh Châu và Quỳnh Tam. Sống với người Kinh, số
dân ít, không thành một mường phìa (tương đương một xã) mà chỉ là vài ba bản
lẻ tẻ, nên người Mãn Thanh ở Quỳnh Thắng chịu sự chi phối của hai thế lực cầm
quyền. Cả vùng gọi là Văn Lâm - Bến Nghè, song Văn Lâm - Bến Nghè chưa
thành một làng, nên hai bản Ồ Ồ và Mờ chịu sự quản lý của chức dịch Tam Lễ,
còn hai bản Đá Bạc và Đồng Lầy lại chịu sự quản lý của chức dịch xã Vũ Duyệt
(Hoàng Mai).
Về tín ngưỡng, tôn giáo, Quỳnh Lưu có một số người theo đạo Phật và
Thiên Chúa giáo, còn phần đông theo tín ngưỡng thờ tổ tiên, ông bà, cha mẹ.
Chính vì thế, ở Quỳnh Lưu tại nhiều làng ngoài đền, đình, chùa...họ nào cũng có
nhà thờ họ. Nhiều nhà thờ họ đang là cứ điểm của tiếng vang trong tâm linh về