Chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp từ thực tiễn huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM QUỐC VƯƠNG

CHÍNH SÁCH TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN NGHĨA HÀNH,
TỈNH QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60.34.04.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. VÕ KHÁNH VINH

HÀ NỘI, năm 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng bản thân tôi. Tất cả
các số liệu trong đề tài nghiên cứu của luận văn là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào khác.
Tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
này và tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được
chỉ rõ nguồn gốc.
Học viên

Phạm Quốc Vương

BQ

: Bình quân

CN

: Công nghiệp

CN- XD

: Công nghiệp - Xây dựng

CN - XD - GTVT : Công nghiệp - Xây dựng - Giao thông vận tải
CNH – HĐH

: Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá

DT

: Diện tích

ĐVDT

: Đơn vị diện tích

GDP

: Giá trị tổng sản phẩm

HTX


TN - KT – XH

: Tự nhiên - Kinh tế - Xã hội

tr. đồng

: Triệu đồng

XH

: Xã hội


DANH MỤC CÁC BẢNG
Sô hiệu
hình
2.1.
2.2.
2.3.

Tên hình
Tình hình sử dụng đất tại các xã, thị trấn
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp trên địa bàn huyện
Nghĩa Hành 2011 - 2015
Diện tích, dân số phân bổ tại các xã, thị trấn

Trang
28
31

1


ngành nông nghiệp huyện Nghĩa Hành theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và
phát triển bền vững là hết sức cần thiết. Qua đó, xây dựng và phát triển nền
sản xuất nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng
hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh, góp phần
thực hiện thành công Đề án tổng thể tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo Quyết
định số 889/QĐ-TTg,ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ.
Thực hiện Quyết định số 889/QĐ-TTg, ngày 10/6/2013 của Thủ tướng
Chính phủ về việc Phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng
nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Các Đề án, Kế hoạch của các
bộ, ngành liên quan, của UBND tỉnh và các sở, ngành của tỉnh Quảng Ngãi.
UBND huyện Nghĩa Hành đã ban hành Quyết định số 57/QĐ-UBND,ngày
31/3/2015 của Chủ tịch UBND huyện Nghĩa Hành về việc Phê duyệt Đề án
tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát
triển bền vững của huyện Nghĩa Hành giai đoạn 2015-2020. Đây là quyết
định rất quan trọng và mới nhất tại thời điểm này ở huyện Nghĩa Hành liên
quan đến vấn đề nông nghiệp,nông dân,nông thôn. Nhằm cụ thể hóa các Đề
án, Kế hoạch của cấp trên, đồng thời căn cứ vào tình hình cụ thể của huyện
mà đề ra những nhiệm vụ, giải pháp phù hợp. Bên cạnh những thuận lợi như:
Tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp giai đoạn 2004-2015 bình quân 7,5%,
trong đó cơ cấu nội bộ ngành tăng trưởng điều trên các lĩnh vực, nổi trội là
các lĩnh vực như chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản;..... Tuy nhiên, huyện
Nghĩa Hành cũng như các địa phương khác trong cả nước phải đối mặt với
những thách thức khi thực hiện Đề án này đó là: Đại đa số lao động nông
nghiệp nông thôn chưa được đào tạo, thu nhập từ nông nghiệp rất thấp;
Nguồn tài nguyên đất đai ít, manh mún, phù hợp với sản xuất nông nghiệp qui
mô nhỏ lẽ nhưng thời gian giao đất lại ngắn, qui hoạch sử dụng đất luôn biến
động, không ổn định; Độ rủi ro trong sản xuất nông nghiệp là rất cao như tình

Các công trình, bài viết nghiên cứu trên ít nhiều gì cũng đã đề cập đến

4


những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển nông nghiệp,
chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao
giá trị gia tăng và phát triển bền vững ở nước ta. Các tác giả đã nêu một số lý
luận cơ bản nhất về tính tất yếu phải tái cơ cấu nông nghiệp, các mục tiêu, nội
dung, nguyên tắc, điều kiện tái cơ cấu nông nghiệp, các nhân tố ảnh hưởng
đến tái cơ cấu…. Đồng thời phần nào đã đánh giá thực trạng phát triển nông
nghiệp nước ta trong thời gian qua và đưa ra những giải pháp rất quan trọng
để nền nông nghiệp Việt Nam phát triển trong những năm tới, trong đó chú
trọng đến vấn đề thực hiện chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp.
Tuy nhiên, các công trình, bài viết nghiên cứu trên còn một số vấn đề
chưa nghiên cứu như: Vấn đề bền vững của chính sách tái cơ cấu ngành nông
nghiệp, cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia
tăng,......
Đến thời điểm hiện nay, đối với địa bàn huyện Nghĩa Hành chưa có
nghiên cứu nào về chính sách Tái cơ cấu nông nghiệp. Bởi vậy, học viên
mạnh dạng xem đây như là cố gắn khoa học đầu tiên nghiên cứu về “Chính
sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp từ thực tiễn huyện Nghĩa Hành, tỉnh
Quảng Ngãi”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm rõ cơ sở lý luận về chính sách tái cơ cấu ngành nông
nghiệp, kinh nghiệm thực tiễn thực hiện chính sách tái cơ cấu nông nghiệp, từ
đó đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện chính sách tái cơ cấu ngành
nông nghiệp tại huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

giải pháp hoàn thiện chính sách tái cơ cấu nông nghiệp tại huyện Nghĩa Hành
đến năm 2020.

6


5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học và vận
dụng triệt để phương pháp nghiên cứu chính sách công. Đó là cách tiếp cận về
chu trình hoạch định, xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách công do
Học Viện khoa học xã hội Việt Nam giảng dạy.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định
lượng.
+ Phương pháp xử lý số liệu:
• Sử dụng một số phương pháp thống kê đơn giản.
Ngoài các phương pháp trên, luận văn còn sử dụng phương pháp nghiên
cứu liên ngành, đa ngành với khoa học chính sách công như: quản trị học,
kinh tế học, xã hội học.
+ Phương pháp tổng hợp, thu thập số liệu:
• Số liệu thứ cấp: Các số liệu về chính sách tái cơ cấu nông nghiệp của
các bộ, ngành Trung ương và của tỉnh Quảng Ngãi.
• Các văn bản: Nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước quy định
về vấn đề tái cơ cấu nông nghiệp ở Việt Nam.
• Số liệu sơ cấp: tự thu thập qua điều tra thực tế tại 12 xã, thị trấn trực
thuộc huyện và các ngành chức năng của huyện Nghĩa Hành.
+ Phương pháp phân tích chính sách; phân tích SWOT …
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận


8


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH
TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP
1.1. Những vấn đề lý luận về chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp
1.1.1. Khái niệm chính sách tái cơ cấu nông nghiệp
Đảng, Nhà nước đặt ra nhiệm vụ CNH – HĐH đất nước, “cơ cấu lại nền
kinh tế”, trong đó có cơ cấu lại kinh tế nông nghiệp. Để cơ cấu lại, ắt phải tổ
chức, sắp xếp lại ngành hàng theo lợi thế cạnh tranh, lấy “giá trị” (đồng tiền)
và thị trường làm căn cứ. Khi đã tổ chức, sắp xếp thì những ưu điểm, thế
mạnh, hiệu quả cần tiếp tục phát huy; những bất cập, chồng chéo, cản trở phát
triển... thì phải kiên quyết chấn chỉnh, đổi mới và “cơ cấu lại”, chứ không
phải là “tái – làm lại".
Theo từ điển Tiếng Việt thì “tái” là lại, trở lại lần nữa [34]. Từ đó, có thể
cho rằng: “Tái cơ cấu nông nghiệp” là: Tổng thể các chương trình hành động
của Nhà nước nhằm thực hiện quá trình tiếp tục phát triển nông nghiệp gắn
với bố trí, sắp xếp lại các chuyên ngành sản xuất theo nguyên tắc sử dụng tối
đa lợi thế so sánh và sử dụng tối ưu các nguồn lực đầu vào để tạo ra hiệu quả
kinh tế, năng lực cạnh cao hơn, bền vững hơn cho toàn ngành, là quá trình
phát triển gắn với thay đổi quy mô sản xuất của các chuyên ngành nhằm tạo
ra các nông sản phẩm có chất lượng và giá trị cao, phù hợp với nhu cầu của
thị trường, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước, nâng cao thu nhập
cho nông dân và đảm bảo tính bền vững, nâng cao khả năng cạnh tranh, phát
triển bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu, xây dựng nông thôn mới.
1.1.2. Tái cơ cấu nông nghiệp ở Việt Nam là một tất yếu khách quan
Tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một yếu tố khách quan do bởi nông
nghiệp có một vị trí quan trọng, là ngành sản xuất ra những sản phẩm thiết


10


quan hệ kinh tế đều được tiền tệ hoá, các yếu tố sản xuất như: Tài nguyên, sức
lao động, công nghệ... các sản phẩm dịch vụ tạo ra ngay cả chất xám đều được coi là đối tượng mua bán là hàng hoá. Cơ cấu KTNN trong cơ chế thị
trường cũng phải đảm bảo và tuân thủ các mối quan hệ đó. Trong nền kinh tế
thị trường giá cả điều tiết hành vi của người sản xuất từ đó tạo ra một thiết
chế làm nảy sinh mối quan hệ tỷ lệ nhất định trong cơ cấu kinh tế. Vấn đề đặt
ra bằng nhận thức và hành động của các nhà quản lý, các cơ quan hoạch định
chính sách phải có giải pháp điều chỉnh thông qua hệ thống các chính sách
kinh tế, định hướng cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế hiệu quả cao nhất.
Chúng ta không thể phó mặc để cơ chế thị trường tự phát điều chỉnh cơ cấu
kinh tế. Những vấn đề có một cơ cấu kinh tế có hiệu quả trong nền kinh tế thị
trường thì cơ cấu đó phải thoả mãn được những yêu cầu của thị trường đặt ra.
Như vậy tái cơ cấu KTNN phải xuất phát từ những căn cứ mà thị trường đòi
hỏi và phải thoả mãn tốt mọi nhu cầu của thị trường.
1.2. Chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp hiện hành
Với mục đích cao nhất mà Đảng và Nhà nước là phải hướng tới, đó là
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở nước ta, vì vậy Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VIII đã khẳng định nước ta muốn phát triển nhất thiết phải thực hiện
công cuộc hiện đại hoá. Đại hội nhấn mạnh nội dung cơ bản của CNH, HĐH
giai đoạn hiện nay là; đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Vì nó tạo tiền đề và cơ sở vững chắc thúc đẩy toàn bộ quá trình CNH, HĐH
nền kinh tế đất nước, là mũi đột phá quan trọng nhằm giải phóng sức lao động
trong nông nghiệp hiện chiếm trên 70% lao động cả nước, tạo điều kiện khai
thác tốt tiềm năng dồi dào về lao động đất đai. CNH, HĐH nông nghiệp tạo
điều kiện giải quyết vấn đề xoá đói giảm nghèo ở nhiều vùng ở nông thôn.
Tạo điều kiện để phát triển năng lực sản xuất, khuyến khích mọi lực lượng lao
động trong các thành phần kinh tế hướng vào việc sản xuất nông sản hàng

cấu ngành nông nhiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền
vững [16]; UBND huyện Nghĩa Hành đã ban hành Quyết định số 167/QĐ-

13


UBND ngày 06/11/2014 Ban hành kế hoạch hành động thực hiện Đề án tái cơ
cấu ngành nông nhiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền
vững [31]; Quyết định số 57/QĐ-UBND ngày 31/3/2015 của UBND huyện
Nghĩa Hành về việc phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nhiệp theo hướng
nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững [32].
1.2.1. Chính sách tái cơ cấu ngành trồng trọt
- Tái cơ cấu trồng trọt theo hướng phát triển sản xuất quy mô lớn, tập
trung gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị trên cơ sở phát
huy lợi thế sản phẩm và lợi thế vùng, miền. Đẩy mạnh áp dụng khoa học công
nghệ, đặc biệt là công nghệ cao nhằm tăng năng suất, chất lượng, giảm giá
thành và thích ứng với biến đổi khí hậu. Tập trung đầu tư phát triển công
nghiệp chế biến, đặc biệt là chế biến sâu và bảo quản sau thu hoạch theo
hướng hiện đại, nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch và nâng cao giá trị gia tăng
của sản phẩm.
- Duy trì và sử dụng linh hoạt diện tích đất trồng lúa để bảo đảm an ninh
lương thực và nâng cao hiệu quả sử dụng đất; tập trung cải tạo giống lúa để
nâng cao năng suất, chất lượng gạo; tiếp tục mở rộng diện tích gieo trồng ngô
nhằm cung cấp nguyên liệu cho sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp, giảm
nhập khẩu.
- Tập trung sản xuất rau, hoa, quả công nghệ cao, quy mô lớn ở những
địa phương có lợi thế; đồng thời khuyến khích phát triển vườn nhà.
- Cơ cấu lại hệ thống tổ chức sản xuất, thu mua, chế biến, tiêu thụ sản
phẩm; khuyến khích doanh nghiệp liên kết, ký kết hợp đồng sản xuất, tiêu thụ
nông sản với nông dân; phát triển các nhóm nông dân hợp tác tự nguyện, liên

chất thải chăn nuôi và phát triển nguồn năng lượng tái tạo từ các phụ phẩm
của ngành chăn nuôi; quản lý vùng nuôi an toàn về môi trường [5] [8] [7] [9]
[20] [27] .

15


1.2.3. Chính sách tái cơ cấu ngành thủy sản
- Tập trung sản xuất thâm canh các đối tượng nuôi chủ lực (Cá trê, rô
phi, cá trống cỏ nuôi lồng…); tiếp tục đa dạng hóa đối tượng và phương pháp
nuôi để khai thác cơ hội thị trường; khuyến khích nuôi công nghiệp, áp dụng
công nghệ cao, quy trình thực hành nuôi tốt, công nghệ cao có tính nhân rộng.
- Có cơ chế hỗ trợ người nghèo tham gia chuỗi giá trị và chương trình
bảo hiểm nông nghiệp; khuyến khích áp dụng các tiêu chuẩn kiểm soát xã hội
vào nuôi trồng và chế biến thủy sản; phát triển nuôi trồng thủy sản nước ngọt
vùng cao góp phần xóa đói giảm nghèo và tạo sinh kế bền vững.
- Tăng cường các biện pháp quản lý hành chính đối với các hoạt động
khai thác và nuôi trồng gây tác động xấu đến môi trường; tăng cường bảo vệ
nguồn lợi và môi trường [5] [8] [7] [9] [20].
1.2.4. Chính sách tái cơ cấu ngành lâm nghiệp
- Phát triển lâm nghiệp nhằm tăng giá trị kinh tế ngành và tăng năng lực,
hiệu lực bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học, ứng phó hiệu quả với biến đổi
khí hậu, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao sinh kế cho người dân miền
núi, đặc biệt là các nhóm dân tộc ít người, là hướng đi bền vững của ngành
lâm nghiệp trong thời gian tới. Phấn đấu năm 2020 đạt cơ cấu kinh tế ngành
là: 25% giá trị dịch vụ môi trường rừng, 25% giá trị sản xuất lâm sinh và 50%
giá trị công nghiệp chế biến đồ gỗ và lâm sản khác.
- Tập trung phát triển và tăng tỷ lệ rừng kinh tế trong tổng diện tích rừng,
phát triển trồng rừng sản xuất thành một ngành kinh tế có vị thế quan trọng
đem lại việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân làm nghề rừng; cải thiện

tác động chủ yếu sau:
Nhân tố điều kiện tự nhiên
Nhân tố điều kiện tự nhiên bao gồm: Vị trí địa lý của các vùng lãnh thổ
điều kiện đất đai của các vùng: Điều kiện khí hậu, thời tiết, các nguồn tài
nguyên khác của vùng lãnh thổ như nguồn nước, rừng... Nắm bắt được các

17


nhân tố này nó cho phép chúng ta tránh được hai khuynh hướng trong thực
tiễn đó là: Quá đề cao sự lệ thuộc của cơ cấu kinh tế vào các nhân tố tự nhiên,
hoặc là quá coi nhẹ sự ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên với sự hình thành
và phát triển của cơ cấu kinh tế. Các nhân tố tự nhiên trên tác động một cách
trực tiếp tới sự hình thành, vận động và biến đổi cơ cấu KTNN. Tuy nhiên, sự
tác động và ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên tới mỗi nội dung của tái cơ cấu
KTNN là không giống nhau. Trong các nội dung của tái cơ cấu KTNN thì cơ
cấu ngành, cơ cấu vùng lãnh thổ chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên nhiều
nhất, còn cơ cấu các thành phần kinh tế và cơ cấu kỹ thuật chịu ảnh hưởng ít
hơn. Trong các điều kiện tự nhiên nêu trên các điều kiện tự nhiên về đất đai,
khí hậu, vị trí địa lý có ảnh hưởng rất rõ nét tới sự phát triển của nông nghiệp
(nghĩa rộng gồm: nông, lâm ngư, nghiệp) qua nông nghiệp ảnh hưởng trực
tiếp tới các ngành khác. Trong mỗi quốc gia các vùng lãnh thổ có vị trí địa lý
khác nhau có điều kiện khí hậu (lượng mưa, độ ẩm, nhiệt độ...) điều kiện đất
đai (nông hoá, thổ nhưỡng, địa chất...) các nguồn tài nguyên tự nhiên khác
(nước, rừng, các loại tài nguyên mỏ...) và hệ sinh thái khác nhau về số lượng
và quy mô các phân ngành chuyên ngành sâu của nông lâm ngư nghiệp, giữa
các vùng có sự khác nhau, dẫn tới sự khác nhau của cơ cấu ngành. Điều này
được thể hiện rõ rệt từng sự phân biệt về cơ cấu các ngành kinh tế trong nông
nghiệp giữa các vùng đồng bằng, trung du miền núi.
Ngay giữa các vùng cơ cấu kinh tế các ngành cũng có sự khác nhau khá

cụ thể của mình vào thị trường những loại sản phẩm hàng hoá có lợi nhất. Do
đó trên thị trường sẽ xuất hiện các loại hàng hoá dịch vụ với quy mô và cơ
cấu phản ánh cơ cấu kinh tế ở từng vùng, từng địa phương. Nhà nước sử dụng
các chính sách kinh tế, công cụ quản lý vĩ mô khác để quản lý nền kinh tế.
Chính sách kinh tế là hệ thống các biện pháp kinh tế được thực hiện bằng các

19


văn bản quy định tác động cùng chiều vào nền kinh tế nhằm thực hiện các
mục tiêu đã định. Chức năng chủ yếu của các chính sách kinh tế vĩ mô là tạo
ra động lực kinh tế mà cốt lõi là lợi ích kinh tế của mình mà tiến hành các
hoạt động kinh tế phù hợp với các định hướng của Nhà nước trong kế hoạch
kinh tế hoạt động phù hợp với định hướng của Nhà nước đồng thời để đảm
bảo lợi ích kinh tế của các chủ thể. Nhà nước thông qua pháp luật kinh doanh,
xác lập hành lang và khuôn khổ cho các chủ thế kinh tế hoạt động.
Để đạt được mục đích, một trong những hướng tác động quan trọng nhất
của các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước là sự tác động đến cơ cấu kinh
tế nói chung và cơ cấu KTNN nói riêng. Nếu chỉ coi sự tác động của các quy
luật thị trường thì cơ cấu kinh tế chỉ hình thành và vận động một cách tự phát
và tất yếu dẫn đến sự lãng phí trong sử dụng các nguồn lực của đất nước. Để
thực hiện chức năng điều tiết của mình Nhà nước không còn cách nào khác
phải ban hành một hệ thống các chính sách kinh tế cùng với các công cụ quản
lý vĩ mô khác thúc đẩy việc hình thành một cơ cấu ngành kinh tế cơ cấu các
vùng kinh tế, cơ cấu các thành phần hợp lý và trình độ công nghệ, kỹ thuật
ngày càng được nâng cao nhằm khai thác có hiệu quả nhất các nguồn lực và
các lợi thế của đất nước nói chung và khu vực nông nghiệp nói riêng. Để hình
thành hay chuyển đổi một cơ cấu kinh tế nông nghiệp đòi hỏi phải có điều
kiện vật chất nhất định. Tương ứng với yêu cầu hình thành và chuyển đổi cơ
cấu kinh tế để đáp ứng đòi hỏi về các điều kiện vật chất này nhất thiết phải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status