ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
ĐỖ THUỲ ANH
VẤN ĐỀ CĂN TÍNH TRONG SÁNG TÁC CỦA
CÁC TÁC GIẢ DI DÂN GỐC VIỆT
(QUA MỘT SỐ TIỂU THUYẾT ĐƯỢC XUẤT
BẢN TRONG NƯỚC THỜI GIAN GẦN ĐÂY)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Hà Nội 2015
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------------------ĐỖ THUỲ ANH
VẤN ĐỀ CĂN TÍNH TRONG SÁNG TÁC CỦA
CÁC TÁC GIẢ DI DÂN GỐC VIỆT
(QUA MỘT SỐ TIỂU THUYẾT ĐƯỢC XUẤT
BẢN TRONG NƯỚC THỜI GIAN GẦN ĐÂY)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
Hà Nội, tháng 12 năm 2015
Tác giả luận văn
Đỗ Thùy Anh
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................................... 6
4
PHẦN NỘI DUNG ......................................................................... Error! Bookmark not defined.
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ......................... Error! Bookmark not defined.
1.1
Cơ sở lý luận ....................................................................... Error! Bookmark not defined.
1.2
Cơ sở thực tiễn .................................................................... Error! Bookmark not defined.
CHƢƠNG 2: VĂN HỌC VIỆT NAM TẠI NƢỚC NGOÀI NHÌN TỪ KIỂU NHÂN VẬT
KHÔNG CỘI RỄ ............................................................................ Error! Bookmark not defined.
2.1 Hiện tƣợng con ngƣời không cội rễ .......................................... Error! Bookmark not defined.
2.2 Các biểu hiện của kiểu nhân vật không cội rễ ........................... Error! Bookmark not defined.
2.3 Nhân vật không cội rễ và niềm hoài niệm cố hƣơng................. Error! Bookmark not defined.
CHƢƠNG 3: VĂN HỌC VIỆT NAM TẠI NƢỚC NGOÀI NHÌN TỪ SỰ LAI GHÉP CĂN TÍNH
VĂN HOÁ ...................................................................................... Error! Bookmark not defined.
3.1 Sự trình hiện của căn tính văn hoá Việt Nam ........................... Error! Bookmark not defined.
3.2 Sự trình hiện của văn hoá ngoại lai ........................................... Error! Bookmark not defined.
Đặc biệt, từ năm 1945 trở về đây, văn học di dân vẫn tiếp tục phát triển nhƣ một
dòng chảy xuyên suốt, bền bỉ song hành cùng bộ phận văn học chính thống trong nƣớc.
Đến sau 1975, do những lý do và hoàn cảnh đặc biệt, hiện tƣợng ngƣời Việt di dân có sự
gia tăng đột biến, kéo theo đó là sự phát triển nở rộ của các tác phẩm văn học của ngƣời
Việt viết tại nƣớc ngoài. Những tác giả và tác phẩm của bộ phân văn học di dân gốc Việt
đƣợc nhắc tới nhiều hơn trên các diễn đàn văn học trong nƣớc. Một số tác phẩm đã bắt
đầu đƣợc truyền bá và in tại Việt Nam. Có thể vì lí do đó mà nhiều độc giả chỉ biết đến
văn học di dân của các tác giả gốc Việt từ giai đoạn này.
Trong suốt hơn một thế kỷ từ đó đến nay, văn học di dân Việt Nam chủ yếu đƣợc
biết đến qua ba nguồn chính. Nguồn thứ nhất xuất phát từ đội ngũ các tác giả gốc Việt, do
không hoà nhập đƣợc với bối cảnh và hoá và môi trƣờng hoạt động nghệ thuật trong
nƣớc, đã di cƣ và chuyển đến sinh sống tại một quốc gia mới. Tại đây, họ chủ động hội
nhập và tiếp thu với nền văn hoá, văn minh toàn cầu để sống và viết nhƣ một công dân
quốc tế. Nguồn thứ hai xuất phát từ chủ trƣơng xuất khẩu lao động của Chính phủ Việt
6
Nam từ sau 1975, trong bối cảnh mở cửa, hội nhập và xây dựng xã hội mới. Một bộ phận
lớn ngƣời lao động Việt Nam đƣợc tạo điều kiện sang các nƣớc xã hội chủ nghĩa anh em
để kiếm sống và mƣu sinh. Họ cũng viết, ban đầu nhƣ một nhu cầu để giải toả những dồn
nén, bức bối về đời sống tinh thần trong hoàn cảnh xa nhà. Về sau, chính việc đi và
chứng kiến những xã hội khác, những nền văn hoá, văn minh khác đã tích tụ thành chất
liệu cho họ viết các tác phẩm viết về đề tài cuộc sống của ngƣời Việt ở nƣớc ngoài. Cuối
cùng, tiến trình Đổi mới và hội nhập sau năm 1986 của Chính phủ Việt Nam tiếp tục dẫn
đến một luồng di dân nữa. Làn sóng của các du học sinh, các trí thức sang học tập và
nghiên cứu tại nƣớc ngoài để về cống hiến cho nƣớc nhà đƣợc lan ra. Những lí do đó đã
góp phần đẩy mạnh làn sóng di dân của ngƣời Việt Nam sau 1975. Đồng thời, đó cũng là
điều kiện để bộ phận văn học di dân của các tác giả gốc Việt có những bƣớc phát triển
đột phá về cả số lƣợng và chất lƣợng.
Nhìn chung, có thể chia văn học di dân Việt Nam thành hai nhóm: các tác phẩm
ức vô thức, những dằn vặt nội tâm từ hoàn cảnh và đời sống riêng lên tác phẩm. Mặt
khác, qua tác phẩm, chúng ta cũng có thể soi chiếu thấy những giá trị văn hoá, những
sinh hoạt tinh thần có tính cộng đồng mà tác giả chịu ảnh hƣởng vào thời điểm sáng tác.
Khi ấy, văn học nhƣ là một hình thức giao tiếp giữa tác giả và xã hội. Tác phẩm là cách
thức ngƣời nghệ sĩ thể hiện tƣ tƣởng của mình về các vấn đề mang tính xã hội.
Tƣơng đƣơng với hai phƣơng diện này trong thế giới tinh thần của tác giả, chúng
ta có hai cách đọc để tiến tới tiếp cận và giải mã ý nghĩa của văn bản tác phẩm. Cách thứ
nhất chọn hƣớng tiếp cận từ góc độ con ngƣời cá nhân của tác giả, do Sigmund Freud
(1856 – 1939)2 chủ trƣơng, đƣợc biết đến ngày nay là phƣơng pháp tâm lý học. Phƣơng
pháp này này sẽ đi tìm và cắt nghĩa nội dung tƣ tƣởng của tác phẩm dựa trên những ẩn ức
cá nhân của ngƣời nghệ sĩ liên quan đến thế giới tâm lý của anh ta (dù sau này, sau Freud,
ngƣời ta chỉ ra rằng, thế giới đó cũng mang tính xã hội). Cách thứ hai chọn hƣớng tiếp
cận từ góc độ xã hội, đặt tác giả và tác phẩm vào trong bối cảnh mà tác phẩm ra đời. Khi
ấy, tác giả/tác phẩm đƣợc coi nhƣ sản phẩm của môi trƣờng xã hội, chịu ảnh hƣởng của ý
thức hệ và tƣ tƣởng xã hội mà anh ta sống. Những vấn đề đƣợc đặt ra trong tác phẩm, vì
thế không chỉ mang ý nghĩa của một sáng tạo cá nhân, mà còn phản chiếu những tƣ duy,
1
Dẫn theo quan điểm của Montesquieu, ngƣời đồng thời với Newton (1643 – 1727), là đại diện tiêu biểu của trào
lƣu Vật lý xã hội, một trào lƣu tƣ tƣởng cho rằng xã hội, cũng giống nhƣ thiên nhiên, với các “quy luật” của riêng
nó. Quan điểm đƣợc trích dẫn nằm trong Bài diễn văn mở đầu của tác phẩm nổi tiếng Tinh thần luật pháp (1748).
2
Sigmund Freud (tên đầy đủ là Sigmund Schlomo Freud, 1856 –1939) nguyên là một bác sĩ về thần kinh và tâm lý
ngƣời Áo. Ông đƣợc công nhận là ngƣời đặt nền móng cho các nghiên cứu về phân tâm học, nền tảng của phƣơng
pháp nghiên cứu quan trọng trong các lĩnh vực khoa học xã hội ngày nay. Ông là một nhà tƣ tƣởng có ảnh hƣởng
lớn trong thế kỷ 20.
8
trƣờng Đại học Bordeaux và ở Đại học Sorbonne của Paris.
Các tác phẩm chính: Phân công lao động xã hội (1893), Các quy tắc của phương pháp xã hội học (1897), Tự tử
(1897).
5
Nhà xã hội học Đức, đƣợc coi là một trong những nhà xã hội học lớn nhất đầu thế kỷ 20. Lĩnh vực đƣợc ông chú ý
nhiều là hành động xã hội.
Các tác phẩm chính: Những tiểu luận phương pháp luận (1902), Kinh tế và xã hội (1910-1914), Xã hội học tôn giáo
(1916).
9
dân tộc (Mùa biển động, Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác, Người đi trên mây
của Nguyễn Xuân Hoàng …). Một dòng là các tác phẩm mô tả cuộc va chạm, tiếp xúc
văn hoá Đông – Tây và quá trình những ngƣời Việt Nam tại nƣớc ngoài thích nghi, biến
đổi những thói quen, tập tục văn hoá trong bối cảnh hội nhập (Chinatown, Paris 11 tháng
8 của Thuận, Và khi tro bụi của Đoàn Minh Phƣợng, Quyên của Nguyễn Văn Thọ…). Ở
dòng chủ đề thứ hai này, các tác giả đã phản ánh hiện tƣợng giao thoa đó bằng một khái
niệm mới - “căn tính văn hoá lai” (giữa căn tính văn hoá gốc và căn tính văn hoá của
cộng đồng mới nơi chủ thể sinh sống).
Với những đặc điểm nêu trên, phƣơng pháp xã hội học văn học đƣợc chọn nhƣ là
phƣơng pháp phù hợp để khai thác, tiếp cận tác phẩm nhƣ một sản phẩm của xã hội.
Chúng ta sẽ nhìn nhận tác phẩm từ những yếu tố bên ngoài, tác động và chi phối lên thế
giới quan, nhận thức, tƣ duy của tác giả và coi tác phẩm nhƣ một sản phẩm của xã hội.
Thông qua việc xem xét từng hiện tƣợng, chúng ta sẽ có cái nhìn toàn cảnh về sự phát
triển có tính quá trình của văn học Việt Nam tại nƣớc ngoài trong bối cảnh toàn cầu hoá
hiện nay.
Trong suốt quá trình định hình và phát triển này của bộ phận văn học di dân Việt Nam,
giai đoạn từ sau 1975 đến nay, với việc một số tác giả đã có tác phẩm đƣợc in và xuất bản
trong nƣớc, đƣợc xem nhƣ là giai đoạn quan trọng hơn cả với nhiều vấn đề phản ánh tình
11. Đào Duy Hiệp (2008), Phê bình văn học từ lí thuyết hiện đại, NXB Giáo dục, Hà
Nội
12. Hoàng Thanh Hƣơng (2012), “Những ám ảnh hiện sinh trong tiểu thuyết nhà văn
Thuận”, Tạp chí Nhà văn, số 11, Hà Nội, trang 33-35
13. Trần Đình Hƣợu (1986), Đến hiện đại từ truyền thống, Nxb Văn hóa, Hà Nội
11
14. Nguyễn Văn Long (2009) – Lã Nhâm Thìn (đồng chủ biên), Văn học Việt Nam
sau 1975 – những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, NXB Giáo dục, Hà Nội
15. Phƣơng Lựu (1999), Mười trường phái lí luận phê bình văn học phương Tây
đương đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội
16. M.Kundera (1998), Nghệ thuật tiểu thuyết, Nguyên Ngọc dịch, NXB Đà Nẵng, Đà
Nẵng
17. Manfred Jahn (2007), Trần thuật học - Nhập môn lý thuyết trần thuật, Nguyễn Thị
Nhƣ Trang dịch, tài liệu Khoa Văn học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Hà Nội
18. Phan Ngọc (1998), Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin – Hà Nội,
Hà Nội
19. Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2013), “Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của
Thuận”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 9, Hà Nội, trang 15-17
20. A.A.Sokolov (Lê Sơn dịch) (2010), “Văn học Việt Nam ở hải ngoại, những vấn đề
của sự phát triển hiện nay”, Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội, trang 1214
21. Trần Đình Sử, Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) (1992), Từ điển thuật ngữ
văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội
22. Trần Đình Sử (chủ biên) (2004), Tự sự học – một số vấn đề lí luận và lịch sử,
NXB Đại học Sƣ phạm, Hà Nội
23. Nguyễn Kim Thản, Hồ Hải Thụy, Nguyễn Đức Dƣơng biên soạn (2005), Từ điển
tiếng Việt, Nxb Văn hóa Sài Gòn, Tp. Hồ Chí Minh
Tài liệu mạng
36. />13
37. />38. />39. />At-trng-hp-oan-minh-phng-ngh-v-vn-hc-chn-thng-vit-nam-va-qun-im-nghiencu&catid=94%3Aly-lun-va-phe-binh-vn-hc&Itemid=135&lang=vi
40. />41. />Avn-hc-vit-nam--hi-ngoi-nhng-vn--ca-s-phat-trin-hin-nay&catid=63%3Avn-hcvit-nam&Itemid=106&lang=vi
14