ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI HỮU TOÀN
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI
CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
chuyên ngành: LUẬT KINH TẾ
Mã số: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN THỊ HOÀ BÌNH
Hà nội, 2008
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ
ràng.
Hà nội, ngày tháng năm 2008
TÁC GIẢ
Bùi Hữu Toàn
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
ích của ngƣời gửi tiền, mặt khác tạo điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại và
phát triển an toàn, bền vững của hệ thống ngân hàng.
Nhu cầu đó của nền kinh tế chính là lý do khách quan làm xuất hiện
một lĩnh vực pháp luật mới- pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Ở Việt Nam,
vấn đề bảo hiểm tiền gửi đƣợc đề cập từ năm 1994 theo quyết định
số101/TCQĐ- BH về việc ban hành quy tắc bảo hiểm trách nhiệm của quỹ
tín dụng nhân dân đối với các khoản tiền có kỳ hạn- đây là văn bản pháp
luật đầu tiên của Việt Nam về bảo hiểm tiền gửi. Tuy nhiên, bảo hiểm tiền
gửi trong giai đoạn này chỉ là một trong những nghiệp vụ kinh doanh của
Bảo Việt- một doanh nghiệp chuyên kinh doanh các loại bảo hiểm thƣơng
mại.
Sau đó, hoạt động bảo hiểm tiền gửi đƣợc tách thành một hoạt động
độc lập và mang tính chuyên biệt theo Nghị định số 89/1999/NĐ- CP ngày
01 tháng 09 năm 1999 về bảo hiểm tiền gửi và hoạt động này đƣợc thực
hiện bởi tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, tổ chức này đƣợc thành lập
theo Quyết định số 218/1999/QĐ- TTg ngày 09 tháng 11 năm 1999. Tiếp
đến, ngày 16 tháng 03 năm 2000, Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam đã ban
hành Thông tƣ số 03/2000/TT- NHNN hƣớng dẫn thi hành Nghị định số
89/1999/NĐ- CP về bảo hiểm tiền gửi. Sau một thời gian áp dụng, Nghị định
số 89/1999/NĐ- CP đã bộc lộ những hạn chế nhất định nên ngày 24 tháng
08 năm 2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2005/NĐ- CP về việc
sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 89/1999/NĐ- CP và ngày 25
tháng 04 năm 2006 Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam đã ban hành Thông tƣ
số 03/2006/TT- NHNN thay thế cho Thông tƣ số 03/2000/TT- NHNN.
Nhƣ vậy, có thể nhận thấy, các quy định của pháp luật về bảo hiểm
tiền gửi Việt Nam là lĩnh vực pháp luật mới và khá quan trọng trong hệ
thống các quy định của pháp điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh
vực tài chính- ngân hàng. Mặc dù là lĩnh vực pháp luật mới đƣợc hình
pháp luật về bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam hiện hành, đánh giá thực trạng các
quy định và phân tích những đòi hỏi của thực tiễn để đưa ra những kiến nghị
góp phần hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam trong giai
đoạn ngày nay.
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích những vấn đề lý luận
về tiền gửi và bảo hiểm tiền gửi, chỉ rõ mục đích, vai trò của bảo hiểm tiền
gửi đối với nền kinh tế. Trên cơ sở chỉ ra sự cần thiết phải có sự điều chỉnh
của pháp luật đối với hoạt động bảo hiểm tiền gửi, phân tích các quy định
của pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm tiền gửi và đánh giá thực
trạng các quy định để từ đó chỉ ra những bất cập và đƣa ra những kiến
nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay sao cho phù hợp với yêu cầu của sự phát triển và
hội nhập quốc tế.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật Việt
Nam hiện hành về bảo hiểm tiền gửi- lĩnh vực pháp luật điều chỉnh hoạt
động bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam, xác định mối liên hệ của các quy định
này trong tổng thể các các quy định của pháp luật về tài chính- ngân hàng.
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi không đi sâu tìm hiểu tất cả các vấn
đề về bảo hiểm tiền gửi mà chỉ đi sâu phân tích khía cạnh pháp lý, cơ sở lý
luận và nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hiểm tiền gửi,
đồng thời có tham khảo thêm các quy định của pháp luật một số nƣớc về
lĩnh vực bảo hiểm tiền gửi nhƣ pháp luật về bảo hiểm tiền gửi của Hàn
Quốc, pháp luật về bảo hiểm tiền gửi của Mỹ.... để từ đó, đƣa ra những kiến
nghị mang tính khoa học thể hiện quan điểm của mình nhằm hoàn thiện
pháp luật về bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
người thiếu vốn. Tuy nhiên, giữa người gửi tiền và người vay tiền không thiết
lập bất kỳ một quan hệ nào với nhau và cả hai chỉ biết có tổ chức tín dụng là đối
tác của mình. Điều đó có nghĩa rằng, khi tổ chức tín dụng nhận tiền gửi từ công
chúng thì tổ chức tín dụng có toàn quyền sử dụng đồng vốn đó, có quyền cấp tín
dụng cho bất cứ chủ thể nào theo sự lựa chọn của mình và luôn phải chịu trách
nhiệm đối với người gửi tiền.
Như vậy, thuật ngữ “tiền gửi” được sử dụng từ lâu và nó gắn liền với quá
trình hình thành và phát triển của hoạt động ngân hàng. Trong giai đoạn khởi
đầu xuất hiện hoạt động ngân hàng thì thuật ngữ tiền gửi được hiểu và thực hiện
một cách rất đơn giản, đó là các khoản tiền mà người sở hữu nó không muốn
hoặc không thể đầu tư vào đâu hoặc không có khả năng bảo đảm an toàn nên đã
đem gửi vào ngân hàng với mục đích tích luỹ và bảo đảm an toàn cho tài sản của
mình. Với quan niệm như vậy, ngân hàng chính là nơi giữ tiền giúp cho một bộ
phận dân cư trong xã hội. Về sau, cùng với sự phát triển của nền kinh tế- xã hội,
hoạt động ngân hàng ngày càng phát triển hơn, nhu cầu về vốn của các tổ chức,
cá nhân khác trong xã hội ngày càng lớn hơn và điều đó kéo theo sự hình thành
hàng loạt hoạt động nghiệp vụ khác trong hoạt động của các ngân hàng như cho
vay, thanh toán... thì các khoản tiền gửi của công chúng không đơn thuần nhằm
mục đích bảo quản tài sản nữa mà đã được hưởng lãi.
Trong giai đoạn ngày nay, khi nhu cầu về vốn đối với nền kinh tế là cực lớn
thì yêu cầu huy động vốn nhàn rỗi từ công chúng của các tổ chức tín dụng ngày
càng tăng và như vậy, các tổ chức tín dụng ngày càng đưa ra nhiều hình thức để
huy động vốn sao cho phù hợp- một mặt nhằm động viên, khuyến khích được
người gửi tiền, mặt khác vẫn đảm bảo lợi ích của mình khi sử dụng nguồn vốn
huy động đó để cấp tín dụng. Do vậy, thuật ngữ tiền gửi cũng được hiểu rộng
hơn và được quy định một cách cụ thể trong các văn bản pháp luật. Mỗi quốc
gia có quan niệm riêng về tiền gửi và từ đó, có cách phân loại tiền gửi riêng.
Chẳng hạn như pháp luật của Malaixia quy định rằng: “tiền gửi có nghĩa là một
1. Bộ luật Dân sự của nƣớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005;
2. Nghị định số 89/1999/NĐ- CP ngày 01 tháng 09 năm 1999 về bảo hiểm
tiền gửi;
3. Nghị định số 109/2005/NĐ- CP ngày 24 tháng 08 năm 2005 về việc sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 89/1999/NĐ- CP ngày 01 tháng 09 năm
1999 về bảo hiểm tiền gửi;
4. Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật các tổ chức tín dụng năm 2004;
5. Luật phá sản năm 2004;
6. Thông tư số 03/2000/TT- NHNN ngày 16 tháng 03 năm 2000 của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam về việc hướng dẫn thi hành Nghị định số 89/1999/NĐ- CP
ngày 01 tháng 09 năm 1999 về bảo hiểm tiền gửi và Thông tư số 03/2006/TTNHNN ngày 25 tháng 04 năm 2006 thay thế cho Thông tư số 03/2000/TTNHNN;
7. Thông tư số 12/2003/TT- NHNN ngày 13 tháng 12 năm 2003 của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Thông tư số
03/ TT- NHNN ngày 16 tháng 03 năm 2000 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
hướng dẫn thi hành Nghị định số 89/ 1999/NĐ- CP ngày 01 tháng 09 năm 1999
về bảo hiểm tiền gửi;
8. Quyết định số 215/1998/QĐ- NHNN ngày 26 tháng 03 năm 1998 của Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành quy chế kiểm soát tổ chức
tín dụng cổ phần Việt Nam;
9. Quyết định số 218/1999/QĐ- TTg ngày 09 tháng 11 năm 1999 của Thủ tướng
Chính phủ về thành lập Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam;
10. Quyết định số 75/2000/QĐ- TTg ngày 28 tháng 06 năm 2000 của Thủ tướng
Chính phủ về việc ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi
Việt Nam;
11. Quyết định số 145/2000/QĐ-TTg ngày 19 tháng 12 năm 2000 của Thủ tướng
Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý tài chính đối với Bảo hiểm tiền gửi
Việt Nam;
24. Garci G.G.H- Để có một hệ thống bảo hiểm tiền gửi Ngân hàng hoạt động có
hiệu quả (2001);
25- Học viện tài chính- Giáo trình bảo hiểm- Nhà xuất bản tài chính;
26. TS. Nguyễn Nhƣ Minh- Vai trò của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đối với
nền kinh tế- Tạp chí Ngân hàng- Số 1+2 năm 2006;
27. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam- Đề án thành lập công ty bảo hiểm tiền gửi
Việt Nam- 1999;
28. ThS. Lê Việt Nga- Về xây dựng chính sách tăng cường hiệu quả hoạt động
của hệ thống bảo hiểm tiền gửi- Tạp chí Ngân hàng- Số 3 năm 2005;
29. Laven L. Cơ chế vận hành của bảo hiểm tiền gửi, WB (2002);
30. Luật bảo hiểm tiền gửi của Mỹ;
31. Luật bảo vệ ngƣời gửi tiền Hàn Quốc;
32. Kunt và Sobaci- Khảo sát hoạt động bảo hiểm tiền gửi của một số nước trên
thế giới, do Ngân hàng thế giới tổ chức;
33. Nguyễn Thị Kim Oanh- Các giải pháp phát triển hoạt động bảo hiểm tiền gửi
Việt Nam- Luận án Tiến sỹ kinh tế- Học viện ngân hàng 2004;
34. TS. Nguyễn Thị Kim Oanh- Vấn đề tiền được bảo hiểm- tạp chí Ngân hàngSố 5 năm 2005;
35. TS. Nguyễn Thị Kim Oanh- Nhu cầu đào tạo và nghiên cứu về bảo hiểm tiền
gửi- Tạp chí Ngân hàng- Số 9 năm 2005;
36. TS. Nguyễn Thị Kim Oanh, ThS. Lê Việt Nga- Tăng cường bảo vệ quyền lợi
của người gửi tiền- Tạp chí Ngân hàng- Số 4 năm 2006;
37. Đào Văn Tuấn- Giải pháp hoàn thiện chính sách bảo hiểm tiền gửi ở Việt
Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế- Luận văn Tiến sĩ- HVNH 2006;
38. Đào văn Tuấn- Bàn về phí bảo hiểm tiền gửi- Tạp chí Ngân hàng số 1
năm 2005;
39. Đào Văn Tuấn- Hạn mức chi trả trong bảo hiểm tiền gửi- Tạp chí Ngân
hàng- Số 7 năm 2005;
40. Hồ Sỹ Thụy- Giám sát của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đối với hoạt động