ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
HOÀNG XUÂN KIÊN
NGHIÊN CỨU NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN
TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI
NHÂN DÂN VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Quốc phòng và an ninh
HÀ NỘI - 2016
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
HOÀNG XUÂN KIÊN
NGHIÊN CỨU NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN
TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI
NHÂN DÂN VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Quốc phòng và an ninh
Người hướng dẫn khoa học
Đại tá ĐÀO VĂN CHUNG
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI KIỂU
5
MỚI CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN THEO QUAN
ĐIỂM TƯ TƯỞNG CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
1.1. Nguồn gốc, bản chất, chức năng của Quân đội.
5
1.2. Sức mạnh chiến đấu của quân đội.
14
Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ
28
CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
VIỆT NAM
2.1. Khẳng định sự ra đời của quân đội là một tất yếu, là vấn
28
đề có tính quy luật trong đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân
3.2. Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh toàn
42
diện về mọi mặt.
3.3. Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam đáp ứng yêu cầu
46
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.
KẾT LUẬN
51
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
52
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ thiên tài, nhà lãnh tụ kiệt xuất của dân
tộc Việt Nam. Người là người cha thân yêu của lực lượng vũ trang Việt Nam
nói chung và Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng. Cuộc đời cách mạng của
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành một phần công sức rất lớn lao cho công việc
rèn luyện, giáo dục Quân đội, hun đúc lên hình ảnh “anh Bộ đội Cụ Hồ” thật
đẹp trong mắt những người dân Việt Nam và bạn bè thế giới. Đó là hình ảnh
Quân đội ta luôn luôn tận trung với Đảng, với nước, tận hiếu với dân, sẵn
sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc. Trên cơ sở quán triệt sâu
“dân chủ”,“nhân quyền”, hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.
Chúng sử dụng tất cả các thủ đoạn có thể, kể cả thủ đoạn vũ lực, tiến công
xâm lược vũ trang nếu chúng thấy “cần thiết”. Một trong những mũi nhọn
hướng tới của “diễn biến hòa bình” là tiến công vào Quân đội, thực hiện âm
mưu “phi chính trị hóa” Quân đội ta, hòng làm cho Quân đội ta không còn là
Quân đội kiểu mới của dân, do dân vì dân nữa. Trước yêu cầu, nhiệm vụ cách
mạng trong bối cảnh lịch sử mới, hơn lúc nào hết, đòi hỏi chúng ta càng phải
thấm nhuần sâu sắc, tiếp tục đi sâu nghiên cứu và vận dụng sáng tạo tư tưởng
Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam. Nâng cao
chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cảu Quân đội, làm cho Quân đội
ta thực sự là lực lượng chính trị trong sạch, vững mạnh, tuyệt đối trung thành
với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, được nhân dân tin cậy, yêu
mến, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.
Nhận thức được vai trò quan trọng của việc xây dựng Quân đội nhân
dân Việt Nam trong giai đoạn cách mạng hiện nay, từ ý nghĩa và tính thực
tiễn của vấn đề này nên tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu những vấn đề cơ bản
2
trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam” làm
đề tài nghiên cứu khóa luận của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề cơ bản trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây
dựng Quân đội nhân dân Việt Nam.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu:
- Cơ sở lý luận về xây dựng Quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân
theo tư tưởng của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin.
- Phần Mở đầu
- Phần Nội dung
Chương 1. Cơ sở lý luận về xây dựng Quân đội kiểu mới của giai cấp
công nhân theo quan điểm tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Chương 2. Những vấn đề cơ bản trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây
dựng Quân đội nhân dân Việt Nam.
Chương 3. Vận dụng những quan điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí
Minh về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.
Kết luận
Tài liệu tham khảo
4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI KIỂU MỚI
CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN THEO QUAN ĐIỂM TƯ TƯỞNG
CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
1.1. Nguồn gốc, bản chất, chức năng của Quân đội
1.1.1. Nguồn gốc của quân đội
1.1.1.1. Khái niệm quân đội
Ph. Ăngghen chỉ rõ: “Quân đội là một tập đoàn vũ trang có tổ chức, do
nhà nước xây dựng lên và dùng vào cuộc chiến tranh tấn công hoặc chiến
tranh phòng ngự ”. Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam viết: “Quân đội, tổ
chức vũ trang chuyên nghiệp do một tập đoàn nhà nước, tập đoàn chính trị
hoặc phong trào chính trị làm chức năng nhà nước xây dựng để tiến hành đấu
tranh vũ trang nhằm thực hiện mục đích chính trị của nhà nước, tập đoàn hay
phong trào đó”.
Trước hết, quân đội là một tổ chức vũ trang chuyên nghiệp, một tổ
chức xã hội đặc thù. Quân đội bao gồm những người có vũ trang, được tổ
chức ra quân đội. Mác - Lênin chỉ rõ: quân đội chính là công cụ bạo lực chủ
yếu của quyền lực nhà nước.
Thực tiễn lịch sử xã hội đã chứng minh, trong xã hội cộng sản nguyên
thủy dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, giai cấp và đối kháng giai
cấp chưa xuất hiện; Do đó, quân đội cũng chưa xuất hiện. Việc giữ gìn, bảo
vệ tài sản của thị tộc, bộ lạc nguyên thủy là trách nhiệm của tất cả các cư dân
đã đến tuổi trưởng thành. Ph. Ăngghen cho rằng, trong thị tộc và bộ lạc đã có
tổ chức “nhân dân vũ trang” hay tổ chức “vũ trang tự động” để giải quyết
xung đột vũ trang. Đó không phải tổ chức vũ trang chuyên nghiệp nên không
phải quân đội.
6
Đến cuối thời kỳ công xã nguyên thủy, lực lượng sản xuất phát triển đã
đưa tới “của dư” xuất hiện trong xã hội. Những người có chức quyền trong thị
tộc, bộ lạc đã lợi dụng quyền lực để thâu tóm hầu hết tư liệu sản xuất và của
cải do xã hội tạo ra. Từ đó, phân chia xã hội thành các giai cấp có địa vị kinh
tế - xã hội đối lập nhau và xuất hiện mầm mống quân đội. Thời kỳ đầu, đây là
tổ chức của những người có vũ trang, dưới hình thức các đội vũ trang thường
trực, các đội dân binh phục vụ và bảo vệ tầng lớp quý tộc, thượng lưu. Khi
suất hiện chế độ chiếm hữu nô lệ và bộ máy cưỡng bức của nó là nhà nước
chủ nô, tổ chức quân đội cũng chính thức xuất hiện. Giai cấp thống trị chủ nô
đã tổ chức cơ cấu chỉ huy chặt chẽ huấn luyện chu đáo và trang bị vũ khí
chuyên dùng cho quân đội.
Từ khi xuất hiện bộ máy cưỡng bức đặc biệt là nhà nước, quân đội
thực sự trở thành công cụ bạo lực để nhà nước đàn áp nhân dân lao động,
duy trì lợi ích của giai cấp thống trị trong nước; bảo vệ lãnh thổ của nhà
nước đó khỏi sự xâm lược từ bên ngoài và đi xâm chiếm các nước khác để
mở rộng lãnh thổ của nhà nước đó khỏi sự xâm lược tự bên ngoài và đi xâm
của mình.
Trong lịch sử chưa có một quân đội nào chiến đấu vì lợi ích chung của
tất cả các giai cấp, vì nó là công cụ bạo lực vũ trang của một giai cấp, một nhà
nước nhất định. Để giữ vững phương hướng chính trị và tăng cường bản chất
giai cấp cho quân đội, giai cấp thống trị tiến hành truyền bá hệ tư tưởng của
nó cho quân đội bằng hệ thống giáo dục về tư tưởng cho binh lính; thực hiện
triệt để đường lối tổ chức, phương hướng hoạt động và kiểm soát mọi hoạt
động của quân đội.
Sự ra đời, tồn tại và phát triển của quân đội luôn gắn với vai trò của
giai cấp và nhà nước. Bản chất giai cấp của quân đội được biểu hiện vai trò
quyết định của giai cấp, nhà nước đối với quân đội về cả chính trị, tư tưởng và
tổ chức. Về chính trị, giai cấp và nhà nước quyết định mục tiêu, lý tưởng
chiến đấu; đến các chức năng nhiệm vụ cơ bản của quân đội. Đồng thời, hệ tư
8
tưởng của giai cấp đó luôn giữ vai trò thống trị đối với quân đội, chi phối đến
đời sống tinh thần của quân đội. Về tổ chức, giai cấp và nhà nước quyết định
đường lối, nguyên tắc tổ chức xây dựng quân đội; quyết định cơ chế lãnh đạo,
thành phần chỉ huy và binh lính tham gia trong quân đội.
Những nội dung trên là biểu hiện bản chất giai cấp của quân đội. Để
tăng cường bản chất giai cấp của quân đội, bảo đảm cho quân đội thực sự
trung thành với lợi ích của mình, các giai cấp và nhà nước tổ chức ra quân đội
phải luôn đặc biệt quan tâm xây dựng các yếu tố cơ bản trên.
Bản chất của quân đội tương đối ổn định, xong không phải là cái cố
định, bất biến mà có sự vận động, biến đổi. Sự vận động biến đổi đó tùy thuộc
vào nhiều yếu tố và theo hai chiều hướng hoặc tăng cường, hoặc là suy giảm.
Quân đội là một tổ chức, một lực lượng chính trị - xã hội của nhà nước, một
bộ phận của kiến trúc thượng tầng, phản ánh cơ sở hạ tầng nên sự tác động
được. Nghĩa là, không có quân đội nào ra đời và tồn tại lại thoát ly khỏi các
quan hệ chính trị, giai cấp hiện thực; tăng cường bản chất giai cấp công nhân,
tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản với quân đội xã hội chủ nghĩa
là vấn đề tất yếu đặt ra. Mặt khác, cần chủ động đấu tranh ngăn chặn, khắc
phục các tác động tiêu cực làm ảnh hưởng đến bản chất giai cấp công nhân
của quân đội chủ nghĩa hiện nay.
1.1.3. Chức năng của quân đội
1.1.3.1. Chức năng của quân đội là dùng bạo lực vũ trang, kể cả tiến
hành chiến trang để bảo vệ lợi ích căn bản của giai cấp, nhà nước tổ chức ra nó.
Bản chất giai cấp và vai trò của quân đội trong một hệ thống chính trị xã hội còn được biểu hiện trực tiếp ở chức năng của nó. Chức năng của quân
đội là dùng bạo lực vũ trang, kể cả tiến hành chiến tranh để bảo vệ lợi ích căn
bản của giai cấp, nhà nước tổ chức ra nó.
Mỗi quân đội có hai chức năng cụ thể là chức năng đối nội và chức
năng đối ngoại. Tùy theo mục đích chính trị, tính chất nhiệm vụ, khả năng và
10
điều kiện thực hiện cũng như quan điểm và phương hướng sử dụng công cụ
bạo lực của giai cấp, nhà nước nhất định mà dẫn đến biểu hiện chức năng của
mỗi quân đội cụ thể có sự khác nhau.
Quân đội của các giai cấp, nhà nước bóc lột, về đối nội là công cụ bạo
lực để đàn áp sự phản kháng của nhân dân và phong trào cách mạng trong
nước, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị. Về đối ngoại, quân đội là công cụ
tiến hành chiến tranh xâm lược các nước khác nhằm mở rộng quyền thống trị
của giai cấp thống trị ra ngoài biên giới quốc gia, chống phá các nước xã hội
chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc, thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới.
Quân đội các nước xã hội chủ nghĩa, chức năng đối nội là công cụ bạo
lực vũ trang của giai cấp công nhân và nhà nước chuyên chính vô sản để đè
bẹp sự phản kháng của các thế lực thù địch, bảo vệ nền chuyên chính vô sản,
dưỡng. Quân đội nhân dân Việt Nam có các chức năng và nhiệm vụ riêng.
Tuy nhiên, chức năng và nhiệm vụ của quân đội ta không phải thoát ly khỏi
chức năng, nhiệm vụ của quân đội xã hội chủ nghĩa; vẫn là biểu hiện bản
chất giai cấp công nhân, phản ánh sự phát triển phong phú các chức năng
của quân đội xã hội chủ nghĩa, đồng thời, còn gắn với đặc thù của cách
mạng Việt Nam.
Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội có chức năng chiến đấu. Là
công cụ bạo lực vũ trang chủ yếu của nhà nước xã hội chủ nghĩa, quân đội ta
có chức năng dùng sức mạnh bạo lực vũ trang để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa, sẵn sàng đập tan các âm mưu xâm lược của các thế lực thù
địch từ bên ngoài; bảo vệ các thành quả cách mạng và công cuộc lao động hòa
bình của nhân dân và thực hiện các nghĩa vụ quốc tế trên lập trường của các
giai cấp công nhân. Bên cạnh đó, quân đội ta còn phải dùng sức mạnh bạo lực
vũ trang để răn đe và sẵn sàng đập tan các cuộc vũ trang phản cách mạng của
các thế lực phản động trong nước; bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động và
góp phần bảo vệ trật tự, an ninh xã hội. Trong tình hình mới hiện nay, quân
12
đội ta còn phải tham gia tiến công địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, văn
hóa,… làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và
các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam.
Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội có chức năng công tác. Là quân
đội của dân, do dân, vì dân; công cụ bạo lực chủ yếu của Đảng Cộng sản Việt
Nam và nhà nước xã hội chủ nghĩa, quân đội ta có chức năng công tác, vận động
quần chúng nhân dân thực hiện thắng lợi đường lối chính trị của Đảng, chính
sách của Nhà nước; tham gia xây dựng chính quyền cơ sở vững mạnh.
Chức năng công tác của quân đội ta góp phần tăng cường mối quan hệ
giữa Đảng với nhân dân; giữa quân đội với nhân dân. Quân đội giúp đỡ nhân
Quan điểm tuyệt đối hóa sức mạnh vật chất, ra sức biện hộ cho sức
mạnh của vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự; xem đó là yếu tố có vai trò quyết
định trong sức mạnh chiến đấu của quân đội. Quan điểm này thường xem nhẹ,
hạ thấp, thậm chí phủ nhận vai trò của yếu tố con người, yếu tố tinh thần.
Hiện nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ quân sự,
những quan điểm này càng có điều kiện tiếp tục tồn tại và phát triển.
* Quan niệm tuyệt đối hóa sức mạnh tinh thần
Ngược lại, quan điểm tuyệt đối hóa sức mạnh tinh thần, ra sức biện hộ
cho yếu tố tinh thần; coi đó là yếu tố duy nhất quyết định sức mạnh chiến đấu
của quân đội. Quan điểm này thường xem nhẹ, hạ thấp, thậm chí phủ nhận vai
trò của yếu tố vật chất, của vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự. Hiện nay, trước
sự trỗi dậy của những quan điểm duy tâm, tôn giáo, những quan điểm lý luận
này càng có điều kiện phát triển mạnh mẽ.
Cả hai hệ thống lý luận trên đây đều không dựa trên cơ sở khoa học,
cách mạng; do đó, không thể đưa ra được quan niệm đúng đắn về sức mạnh
chiến đấu của quân đội.
1.2.1.2. Quan niệm mácxít về sức mạnh chiến đấu của quân đội
Theo quan niệm Mác - Lê nin, sức mạnh chiến đấu của quân đội là tổng
thể các yếu tố vật chất, tinh thần và sự tương tác giữa các yếu tố đó quy định
14
trạng thái và khả năng thực hiện mục đích chính trị của nhà nước, giai cấp
nhất định.
Sức mạnh chiến đấu của quân đội được biểu hiện cụ thể ở trạng thái và
khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của quân đội. Trong thời bình là
trình độ huấn luyện, khả năng sẵn sàng chiến đấu. Trong chiến tranh là khả
năng hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu của đối tượng tác chiến cụ thể gắn với
những điều kiện lịch sử cụ thể.
giữa con người với vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự trên cơ sở khoa học, phù
hợp với điều kiện thực tiễn. Tổ chức đó phải đảm bảo cho quân đội có được
sức mạnh chiến đấu cao. Cơ cấu tổ chức, biên chế của quân đội phải phù hợp
với yêu cầu nhiệm vụ của quân đội trong mỗi thời kỳ lịch sử; phù hợp với vũ
trang, trang bị kỹ thuật quân sự; tư tưởng nghệ thuật quân sự và điều kiện
kinh tế của đất nước. Theo đó, cơ cấu biên chế tổ chức của quân đội luôn có
sự vận động, phát triển.
* Chính trị - tinh thần và kỷ luật
Yếu tố chính trị - tinh thần và kỷ luật trong sức mạnh chiến đấu của
quân đội là toàn bộ những quan điểm, tư tưởng, tình cảm, tâm trạng, truyền
thống,… về chính trị, pháp luật, đạo đức được thấm sâu vào từng quân nhân
và thái độ, trách nhiệm của họ đối với những quan điểm tư tưởng ấy đối với
Tổ quốc, nhân dân và chế độ xã hội. Đây là một yếu tố cơ bản, suy đến cùng
giữ vai trò quyết định sức mạnh chiến đấu của quân đội.
Theo Ph. Ăngghen, muốn đánh giá đúng đắn khả năng chiến đấu của
một quân đội, cần xem xét không những mặt trang bị của nó, mà cần xem xét
cả trình độ kỷ luật, tinh thần quyết chiến, khả năng và sự chuẩn bị của nó để
chịu đựng những gian khổ của chiến tranh và “nhất là trạng thái tinh thần của
nó, nghĩa là có thể đòi hỏi nó những gì mà không sợ làm cho nó mất tinh
thần”. Tinh thần của quân nhân tham chiến giữ vai trò quyết định đến thắng
bại của chiến tranh, vì chiến tranh là sự nguy hiểm đến tính mạng con người.
16
Bất cứ một nhiệm vụ nào trong chiến tranh, mỗi bước trong tấn công hay mỗi
ngày đêm trong phòng ngự đều có thể đổ máu và vũ khí càng nguy hiểm với
con người bao nhiêu thì tinh thần của những người tham chiến càng giữ một
vai trò quan trọng bấy nhiêu. Mác - Lênin đã khẳng định: “Trong một cuộc
chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng
chuyên môn kỹ thuật khác nhau. Trong chiến tranh hay trong các hoạt động
quân sự đòi hỏi một sự phối hợp thực hiện các mệnh lệnh quân sự, nhất là
trong điều kiện chiến đấu, cả khi chiến đấu trong đội hình chung cũng như
trong tình huống chiến đấu độc lập. Do đó, hơn bất cứ một tổ chức nào khác,
quân đội phải có kỷ luật chặt chẽ, nghiêm minh.
Chỉ có trên cơ sở có sự thống nhất cao về ý chí và hành động mới tạo
nên sức mạnh. Kỷ luật là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sức
mạnh chiến đấu của quân đội. Mác - Lênin cho rằng: “Ở đâu mà kỷ luật giữ
được vững nhất… ở đấy không hề có tình trạng lỏng lẻo trong quân đội, quân
đội giữ gìn được trật tự tốt hơn và tinh thần của họ cũng cao hơn, ở đấy thu
được nhiều thắng lợi hơn”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Quân đội
mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm”.
Trình độ kỷ luật của quân đội được biều hiện cao nhất là tự giữ kỷ luật,
một trong những đảm bảo cho sự vững chắc của tổ chức quân sự. Tinh thần
kỷ luật của quân đội được thể hiện ở ý thức và hành động triệt để chấp hành
mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, tuyệt đối phục tùng lãnh đạo và chỉ huy. Tinh
thần kỷ luật của quân đội còn được thể hiện ở việc kiên quyết làm tròn chức
trách, nhiệm vụ một cách tích cực, chủ động và sáng tạo. Nghiêm chỉnh chấp
hành pháp luật của Nhà nước, các điều lệnh, điều lệ, quy định của quân đội,
của đơn vị cũng là một trong những biểu hiện của kỷ luật quân đội.
* Số lượng, chất lượng vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự
Số lượng, chất lượng vũ khí, trang bị kỹ thuật trong sức mạnh chiến
đấu của quân đội là khả năng bảo đảm về vũ khí trang bị kỹ thuật cho quân
đội và từng đơn vị nhằm đáp ứng yếu cầu nhiệm vụ của quân đội trong từng
18
giai đoạn lịch sử nhất định. Đây là một yếu tố cơ bản trong sức mạnh chiến
đấu của quân đội. Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng trong chiến tranh con