Học Viện Tài Chính
Luận Văn Tốt Nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế
của công ty cổ phần Bỉm Sơn Viglacera.
Tác giả luận văn
(Ký và ghi rõ họ tên)
Phí Thị Vân Hồng
SV: Phí Thị Vân Hồng
Lớp: CQ48/21.16
Học Viện Tài Chính
2
Luận Văn Tốt Nghiệp
MỤC LỤC
SV: Phí Thị Vân Hồng
2
Kinh phí công đoàn
Nhân công trực tiếp
Nguyên vật liệu trực tiếp
Sản phẩm dở dang
Sản xuất chung
Tài khoản
Tài sản cố định
SV: Phí Thị Vân Hồng
3
Lớp: CQ48/21.16
Học Viện Tài Chính
4
Luận Văn Tốt Nghiệp
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU
SV: Phí Thị Vân Hồng
4
Lớp: CQ48/21.16
việc điều hành, quản lý cũng như việc phân tích, đánh giá tình hình, kết
SV: Phí Thị Vân Hồng
Lớp: CQ48/21.16
Học Viện Tài Chính
Luận Văn Tốt Nghiệp
quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhờ đó, doanh nghiệp có thể kiểm
tra việc sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn nhằm đảm bảo việc chủ động
trong sản xuất kinh doanh và chủ động tài chính.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán tập hợp chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong toàn bộ công tác hạch toán
cũng hư đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Với mục đích hoàn
thiện hơn nữa kiến thức của mình và hiểu rõ thực tế trên cơ sở lý thuyết
đã nghiên cứu em quyết định chọn đề tài :“Kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Bỉm Sơn Viglacera”
cho chuyên đề thực tập của mình.
Nội dung luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ biểu và danh
mục tài liệu tham khảo, gồm 3 chương chính như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm trong công ty cổ phần Bỉm Sơn Viglacera.
Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm tại Công ty cổ phần Bỉm Sơn Viglacera
Chương 3:Phương hướng và giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Bỉm Sơn
Viglacera.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2014
Sinh viên
nhau,của các giai đoạn công nghệ sản xuất khác nhau và sự phát triển
không ngừng của tiến bộ khoa học kĩ thuật.
Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất kinh doanh nghiệp còn phải bỏ ra
các chi phí khác như: chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp
nhưng chỉ những chi phí nào phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuất của
doanh nghiệp mới được gọi là chi phí sản xuất.
SV: Phí Thị Vân Hồng
Lớp: CQ48/21.16
Học Viện Tài Chính
Luận Văn Tốt Nghiệp
Như vậy,chi phí sản xuất của doanh nghiệp là các hao phí về lao
động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh
nghiệp phải chi ra trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh biểu
hiện bằng thước đo tiền tệ, được tính cho một thời kì nhất định.
1.1.1.2. Giá thành sản phẩm
Để quản lý có hiệu quả và kịp thời đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh, doanh nghiệp cần biết số chi phí đã chi ra cho từng hoạt động,
từng loại sản phẩm, dịch vụ là bao nhiêu số chi phí đã chi ra cấu thành
trong số sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoành thành là bao nhiêu, tỷ trọng
từng loại chi phí, khả năng hạ thấp các loại chi phí này... Chỉ tiêu thỏa
mãn được các thông tin trên chính là giá thành sản phẩm.
Như vậy,giá thành sản xuất sản phẩm được xác định bao gồm những
chi phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí khác được
dung để sản xuất hoàn thành một khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ
nhất định.
1.1.1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Về mặt bản chất, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là biểu hiện
sản xuất
=
Chi phí sản
Chi phí sản
Chi
phí
xuất dở dang +
xuất phát sinh -
xuất dở dang
đầu kỳ
trong kỳ
cuối kỳ
Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ mật
thiết với nhau, một bên chi phí sản xuất là đầu vào là nguyên nhân dẫn
đến kết quả đầu ra là giá thành sản phẩm.
Kế toán chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm một cách khoa
học, hợp lý và đúng đắn có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý chi phí,
1.1.3. Nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm trong doanh nghiệp sản xuất.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là các chỉ tiêu quan trọng
trong hệ thống các chỉ tiêu kinh tế phuc vụ cho công tác quản lí doanh
nghiệp và có mỗi quan hệ mật thiết với doanh thu kết quả sản xuất kinh
doanh, do vậy được chủ doanh nghiệp rất quan tâm.
Tổ chức kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm một cách khoa
học, hợp lý, đúng đắn có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý chi phí,
giá thành sản phẩm. Việc tổ chức kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý của chi
phí phát sinh ở doanh nghiệp, ở từng bộ phận, từng đối tượng, góp phần
tăng cường quản lý tài sản, vật tư lao động, tiền vốn một cách tiết kiệm,
có hiệu quả. Mặt khác tạo tiền đề phấn đấu tiết kiệm chi phí hạ thấp giá
thành sản phẩm. Đó là một trong những điều kiện quan trọng tạo cho
doanh nghiệp một ưu thế trong cạnh tranh.
Mặt khác, giá thành sản phẩm còn là cơ sở để định giá bán sản
phẩm, là cơ sở để đánh giá hạch toán kinh tế nội bộ, phân tích chi phí,
đồng thời còn là căn cứ để xác định kết quả kinh doanh kế toán chi phí
và tính giá thành sản phẩm với nội dung chủ yếu thuộc về kế toán quản
trị, cung cấp thông tin phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp. Song
nó lại là khâu trung tâm của toàn bô công táckế toán ở doanh nghiệp, chi
SV: Phí Thị Vân Hồng
Lớp: CQ48/21.16
Học Viện Tài Chính
Luận Văn Tốt Nghiệp
phối đến chất lượng của các phần hành kế toán khác cũng như chất
lượng và hiệu quả của công tác quản lý kinh tế tài chính của doanh
nghiệp.
Luận Văn Tốt Nghiệp
- Tổ chức lập và phân tích báo cáo kế toán về chi phí, giá thành sản
phẩm, cung cấp thông tin cần thiết giúp các nhà quản trị đưa ra được
quyết định nhanh chóng, phù hợp với quá trình sản xuất – tiêu thụ sản
phẩm.
SV: Phí Thị Vân Hồng
Lớp: CQ48/21.16
Học Viện Tài Chính
Luận Văn Tốt Nghiệp
1.2. Nội dung kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong
doanh nghiệp sản xuất
1.2.1. Nội dung kế toán chi phí sản xuất
1.2.1.1. Phân loại chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp có nhiều loại khác nhau, mỗi loại
có nội dung kinh tế, mục đích và công dụng của chúng trong quá trình
sản xuất cũng khác nhau. Để thuận tiện cho công tác quản lý, hạch toán,
kiểm tra chi phí thì chi phí sản xuất phải được phân loại theo các tiêu
thức phù hợp.
Phân loại chi phí sản xuất theo hoạt động và công dụng kinh tế
Mỗi yếu tố chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ đều có mục đích, công
dụng nhất định đối với hoạt động sản xuất. Theo cách phân loại này
người ta căn cứ vào mục đích công dụng của chi phí trong sản xuất để
chia ra các khoản mục chi phí sản xuất khác nhau, mỗi khoản mục chỉ
bao gồm những chi phí có cùng mục đích, công dụng. Vì vậy cách phân
loại này còn gọi là phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục. Toàn bộ
chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ được chia ra các khoản mục như sau:
cho việc phục vụ và quản lý sản xuất ở phân xưởng sản xuất.
Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí
Theo cách phân loại này, người ta sắp xếp các chi phí có cùng nội
dung và tính chất kinh tế vào một loại gọi là yếu tố chi phí, mà không
phân biệt chi phí đó phát sinh ở đâu và có tác dụng như thế nào. Cách
phân loại này còn được gọi là phân loại chi phí theo yếu tố.
Theo chế độ kế toán hiện hành tại Việt Nam, khi quản lý và hạch
toán chi phí sản xuất, các doanh nghiệp phải theo dõi được các chi phí
theo năm yếu tố:
Chi phí nguyên liệu và vật liệu: Yếu tố chi phí nguyên vật liệu bao
gồm toàn bộ giá mua, chi phí mua của nguyên vật liệu dùng vào hoạt
SV: Phí Thị Vân Hồng
Lớp: CQ48/21.16
Học Viện Tài Chính
Luận Văn Tốt Nghiệp
động sản xuất trong kỳ. Yếu tố này bao gồm: chi phí nguyên vật liệu
chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, nguyên vật liệu khác sử dụng vào
sản xuất.
Chi phí nhân công: Là các khoản chi phí về tiền lương phải trả cho
người lao động, các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí
tượng kế toán chi phí
Chi phí trực tiếp: Là những chi phí sản xuất liên quan trực tiếp đến từng
đối tượng kế toán tập hợp chi phí như từng loại sản phẩm, công việc....
SV: Phí Thị Vân Hồng
Lớp: CQ48/21.16
Học Viện Tài Chính
Luận Văn Tốt Nghiệp
Chi phi gián tiếp: Là những chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng kế
toán tập hợp chi phí khác nhau.
1.2.1.2. Đối tượng kế toán chi phí sản xuất
Đối tượng kế toán chi phí sản xuất là phạm vi và giới hạn để tập hợp
chi phí sản xuất theo các phạm vi và giới hạn đó. Xác định đối tượng kế
toán chi phí sản xuất là khâu đầu tiên trong việc tổ chức kế toán chi phí
sản xuất. Thực chất việc xác định đối tượng là xác định nơi gây ra chi
phí (phân xưởng, bộ phận sản xuất…) hoặc đối tượng chịu chi phí (sản
phẩm, đơn đặt hàng…)
Tùy thuộc vào đặc điểm, tình hình cụ thể mà đối tượng kế toán chi
phí sản xuất trong các doanh nghiệp có thể là:
- Từng sản phẩm, chi tiết sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng.
- Từng phân xưởng, giai đoạn công nghệ sản xuất.
- Toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất, toàn doanh nghiệp.
Xác định đối tượng chi phí sản xuất một cách khoa học hợp lý là cơ
sở để tổ chức kế toán chi phí sản xuất, từ việc tổ chức hạch toán ban đầu
đến tổ chức tập hợp số liệu, ghi chép trên tài khoản sổ chi tiết…
Các chi phí phát sinh, sau khi đã được tập hợp xác định theo các đối
tượng kế toán chi phí sản xuất sẽ là cơ sở để tính giá thành sản phẩm, lao
vụ, dịch vụ theo đối tượng đã xác định.
quan trực tiếp đến các đối tượng tập hợp chi phí đã xác định, tức là đối
với các loại chi phí phát sinh liên quan đến đối tượng nào có thể xác định
được trực tiếp cho đối tượng đó, chi phí phát sinh liên quan đến từng đối
tượng tập hợp chi phí cụ thể đã xác định sẽ được tập hợp và quy nạp trực
tiếp cho đối tượng đó.
Phương pháp này yêu cầu kế toán phải tổ chức công tác hạch toán
một cách cụ thể, tỉ mỉ từ khâu lập chứng từ ban đầu, tổ chức hệ thống tài
khoản, hệ thống sổ kế toán…theo đúng các đối tượng tập hợp chi phí đã
xác định, chỉ có như vậy mới đảm bảo các chi phí phát sinh tập hợp đúng
theo các đối tượng một cách chính xác, kịp thời và đây đủ.
Phương pháp tập hợp và phân bổ gián tiếp:
Phương pháp này được sử dụng để tập hợp các chi phí gián tiếp, đó
là các chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí đã
xác định mà kế toán không thể tập hợp trực tiếp các chi phí này cho từng
đối tượng đó.
Theo phương pháp này, trước tiên căn cứ vào các chi phí phát
sinh, kế toán tiến hành tập hợp chung các chi phí có liên quan đến nhiều
đối tượng theo địa điểm phát sinh hoặc nội dung chi phí. Để xác định chi
phí cho từng đối tượng cụ thể, phải lựa chọn các tiêu chuân hợp lý và
tiến hành phân bổ các chi phí đó cho từng đối tượng liên quan.
Việc phân bổ chi phí cho từng đối tượng thường được tiến hành theo
hai bước sau:
Bước 1: Xác định hệ số phân bổ theo công thức:
C
SV: Phí Thị Vân Hồng
Lớp: CQ48/21.16
vật liệu chính, nửa thành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ… sử dụng trực
SV: Phí Thị Vân Hồng
Lớp: CQ48/21.16
Học Viện Tài Chính
Luận Văn Tốt Nghiệp
tiếp cho việc sản xuất chế tạo sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các lao
vụ, dịch vụ.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thực tế trong kỳ được xác định theo
công thức:
Chi phí
NVL trực
tiếp thực tế
trong kỳ
Trị
Trị giá
giá NVL
NVL trực
= trực tiếp
+ tiếp xuất
nhiều đối tượng tập hợp chi phí mà không thể tập hợp trực tiếp được thì
có thể sử dụng phương pháp tập hợp và phân bổ gián tiếp
- Vật liệu sử dụng sản xuất sản phẩm nào thì tính trực tiếp cho sản
phẩm đó đó trên cơ sở các chứng từ gốc có liên quan, theo số lượng
thực tế đã sử dụng và theo giá thực tế xuất kho.
- Cuối kỳ hạch toán hoặc sản phẩm đã hoàn thành phải tiến hành
kiểm kê số vật liệu chưa sử dụng hết ở các, bộ phận sản xuất để tính số
vật liệu thực tế sử dụng cho sản phẩm , đồng thời phải hạch toán đúng
đắn số phế liệu thu hồi (nếu có) theo từng đối tượng sản phẩm.
SV: Phí Thị Vân Hồng
Lớp: CQ48/21.16
Học Viện Tài Chính
Luận Văn Tốt Nghiệp
- Trong điều kiện vật liệu sử dụng cho việc sản xuất nhiều sản phẩm
thì kế toán áp dụng phương pháp phân bổ để tính chi phí vật liệu trực
tiếp cho từng đối tượng sản phẩm theo tiêu thức hợp lý: có thể tỷ lệ với
định mức tiêu hao ...
- Kế toán phải sử dụng triệt để hệ thống định mức tiêu hao vật liệu áp
dụng trong sản xuất công nghiệp và phải tác động tích cực để không
ngừng hoàn thiện hệ thống định mức đó.
Tài khoản sử dụng là TK 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, TK 621
được mở chi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất.
dịch vụ gồm: Tiền lương chính, tiền lương phụ, các khoản phụ cấp, tiền
trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo số tiền lương của công nhân sản xuất.
Giống như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân cồng
trực tiếp thường là các khoản chi phí trực tiếp nên nó được tập hợp trực
tiếp vào các đối tượng tập hợp chi phí liên quan. Trong trường hợp
không tập hợp trực tiếp được thì chi phí nhân công trực tiếp cũng được
tập hợp chung sau đó kế toán sẽ phân bổ cho từng đối tượng theo một
tiêu chuẩn phân bổ hợp lý.
Trong hạch toán chi phí nhân công trực tiếp, kế toán phải tôn trọng
những qui định có tính nguyên tắc sau:
- Tiền lương, tiền công phải trả cho công nhân liên quan đến sản
phẩm, lao vụ nào thì hạch toán trực tiếp cho sản phẩm, lao vụ đó trên cơ
SV: Phí Thị Vân Hồng
Lớp: CQ48/21.16
Học Viện Tài Chính
Luận Văn Tốt Nghiệp
sở các chứng từ gốc về lao động và tiền lương. Trong trường hợp không
tính trực tiếp thì phải phân bổ cho các đối tượng theo tiền lương định
mức hay giờ công định mức.
- Các khoản chi phí trích theo tiền lương phải trả của công nhân trực
tiếp ( BHXH, BHYT,BHTN, KPCĐ ) được tính vào chi phí sản xuất
chung của hoạt động sản xuất.
Tài khoản sử dụng: TK 622- Chi phí nhân công trực tiếp.
Nội dung: Tập hợp chi phí nhân công trực tiếp sản xuất ra sản phẩm.
SV: Phí Thị Vân Hồng
+ Chi phí vật liệu
+ Chi phí dụng cụ sản xuất
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài
+ Chi phí khác bằng tiền
Chi phí sản xuất chung được tập hợp theo từng phân xưởng, đội
sản xuất, quản lý chi tiết theo từng yếu tố chi phí, mặt khác chi phí sản
SV: Phí Thị Vân Hồng
Lớp: CQ48/21.16
Học Viện Tài Chính
Luận Văn Tốt Nghiệp
xuất chung còn phải được tổng hợp theo chi phí cố định và chi phí biến
đổi.
Chi phí sản xuất chung cố định được phân bổ vào chi phí chế biến
cho mỗi đơn vị sản phẩm dựa trên công suất bình thường của máy móc
sản xuất. Trong trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất cao hơn công
suất bình thường thì chi phí sản xuất chung cố định phân bổ theo chi phí
thực tế phát sinh. Trường hợp mức sản xuất sản phẩm thấp hơn công suất
bình thường thì chỉ được phân bổ theo mức công suất bình thường, phần
chi phí sản xuất chung không phân bổ được ghi nhận là chi phí sản xuất
kinh doanh trong kỳ.
Chi phí sản xuất chung biến đổi được phân bổ hết trong kỳ theo
chi phí thực tế.
-
Tài khoản sử dụng: TK 627- Chi phí sản xuất chung