LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, kết quả trong đề tài là trung thực và
chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào.
Tác giả đề tài
Đỗ Ngọc Cương
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Cán bộ quản lý
CBQL
Câu lạc bộ
CLB
Chương trình giáo dục
CTGD
Đại học sư phạm
ĐHSP
Giáo dục thể chất
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ................................... 6
1.1 Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về công tác Giáo dục thể
chất và Thể thao trường học ........................................................................................ 6
1.2
Công tác Giáo dục thể chất và Thể thao trong trường đại học........................ 10
1.2.1
Khái niệm về Giáo dục thể chất và thể thao trường học........................... 10
1.2.2
Mục đích, nhiệm vụ của thể dục thể thao trong trường đại học ............... 12
1.2.3
Các hình thức Giáo dục thể chất và Thể thao trong trường đại học ......... 15
1.3 Tiếp cận phân hóa trong tổ chức hoạt động giáo dục theo hướng đáp ứng nhu
cầu, năng lực và trình độ người học .......................................................................... 17
1.3.1
Khái niệm cơ bản về phân hóa trong quá trình giáo dục .......................... 17
1.3.2
Cơ sở lý luận của phân hóa trong quá trình giáo dục ............................... 20
Đánh giá trong giáo dục................................................................................... 34
1.5.1
Khái niệm đánh giá trong giáo dục........................................................... 34
1.5.2
Đối tượng đánh giá trong giáo dục ........................................................... 35
1.5.3
Các bước cơ bản của một quá trình đánh giá............................................ 37
1.6
Đặc điểm tâm lý và các dạng hoạt động cơ bản của sinh viên ........................ 38
1.6.1
Đặc điểm tâm lý lứa tuổi sinh viên ........................................................... 38
1.6.2
Một số đặc điểm nhân cách của sinh viên hiện đại................................... 40
1.6.3
Đặc điểm tâm lý các dạng hoạt động cơ bản của sinh viên ...................... 41
Phương pháp thực nghiệm sư phạm ......................................................... 59
2.1.6
Phương pháp toán học thống kê................................................................ 60
2.2
Tổ chức nghiên cứu ......................................................................................... 61
2.2.1
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................ 61
2.2.2
Thời gian nghiên cứu ................................................................................ 62
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN ..................................... 63
3.1 Thực trạng công tác giáo dục thể chât và thể thao cho sinh viên theo hướng
tiếp cận phân hóa tại Đại học Thái Nguyên............................................................... 63
3.1.1 Mô tả chung về chương trình giáo dục thể chất và các hoạt động thể thao
của các trường thuộc Đại học Thái nguyên........................................................... 63
3.1.2 Nhận định của giảng viên và sinh viên về công tác giáo dục thể chất và
các hoạt động thể thao ............................................................................................ 65
3.1.3 Thực trạng thể lực chung và kết quả học tập môn Giáo dục thể chất của
sinh viên.................................................................................................................. 70
3.1.4 Thực trạng các hoạt động giáo dục thể chất và thể thao của sinh viên
nhóm Thể thao nâng cao ........................................................................................ 73
3.1.5 Nhu cầu bồi dưỡng nâng cao cho những sinh viên yêu thích và có năng
3.3.2
Kết quả kiểm tra ban đầu của các nhóm Thể thao nâng cao .................. 108
3.3.3
Kiểm tra đánh giá cuối Giai đoạn 1 ........................................................ 113
3.3.4
Kiểm tra đánh giá cuối Giai đoạn 2 (kết thúc chương trình).................. 119
3.3.5
Đánh giá của sinh viên sau khi tham gia chương trình........................... 124
3.3.6
Bàn luận về hiệu quả bước đầu của chương trình thực nghiệm ............. 128
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................................. 134
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ TRONG ĐỀ TÀI
Bảng
Bảng 3.1
Bảng 3.2
Mức độ hài lòng của sinh viên về các học phần GDTC đã học
Tổng hợp kết quả kiểm tra thể lực SV Trường ĐHSP-ĐHTN
Kết quả học tập học phần GDTC 1 và GDTC 2 của sinh viên
Tổng hợp ý kiến về việc học GDTC của sinh viên nhóm TTNC
Ý kiến của SV và cựu SV nhóm TTNC về tham gia HĐ ngoại
khóa
Hoạt động TT của cựu SV nhóm TTNC tại cơ quan và địa
phương
Ý kiến của sinh viên và cựu sinh viên về việc tham gia nhóm
TTNC
Tổng hợp ý kiến của SV và cựu SV về nội dung chương trình
TTNC
Ý kiến của cán bộ quản lý về nhu cầu bồi dưỡng SV nhóm TTNC
Ý kiến của cán bộ TT về năng lực cần bồi dưỡng cho SV TTNC
Ý kiến của cán bộ thể thao về mục tiêu của chương trình TTNC
Tổng hợp ý kiến đánh giá của CBQL về nội dung chương trình
TTNC
Tổng hợp ý kiến đánh giá của CBQL về nội dung kiểm tra đánh
giá
Kết quả kiểm tra thể lực chung ban đầu của sinh viên nhóm
TTNC
Kết quả kiểm tra ban đầu của nhóm Bóng đá
Thành tích chạy 5 lần 30m XPC ban đầu của nhóm Bóng đá
Kết quả kiểm tra ban đầu của nhóm Bóng chuyền
Kết quả kiểm tra thể lực chung sau Giai đoạn 1 của nhóm TTNC
So sánh thể lực chung ban đầu và sau giai đoạn 1 của nhóm
TTNC
Trang
65
Bảng 3.29
Bảng 3.30
Bảng 3.31
Bảng 3.32
Bảng 3.33
Bảng 3.34
Biểu đồ
Biểu đồ 3.1
Biểu đồ 3.2
Biểu đồ 3.3
Biểu đồ 3.4
Biểu đồ 3.5
Biểu đồ 3.6
Nội dung
Trang
Kết quả kiểm tra sau Giai đoạn 1 của nhóm Bóng đá
115
Kết quả kiểm tra sau Giai đoạn 1 của nhóm Bóng chuyền
116
Năng lực nghiệp vụ thể thao sau GĐ 1 của các nhóm TTNC
118
Kết quả kiểm tra thể lực chung sau Giai đoạn 2 của nhóm TTNC
120
So sánh thể lực chung sau GĐ 1 và sau GĐ 2 của nhóm TTNC
120
Kết quả kiểm tra, so sánh sau Giai đoạn 2 của nhóm Bóng đá
121
Kết quả kiểm tra, so sánh sau Giai đoạn 2 của nhóm Bóng chuyền
122
PHẦN MỞ ĐẦU
Vai trò của GDTC trong sự nghiệp đào tạo đại học ở nước ta được thể hiện
rõ nét ở những điểm sau: GDTC là một mặt GD toàn diện cho sinh viên; GDTC
đóng vai trò chủ động nâng cao sức khỏe, thể chất, năng lực vận động cho sinh
viên, nâng cao hiệu quả học tập; GDTC góp phần nâng cao đời sống văn hóa
tinh thần lành mạnh, ngăn chặn tệ nạn xã hội, tăng cường giao lưu hiểu biết lẫn
nhau; GDTC là môi trường GD, rèn luyện đạo đức, ý chí cho thanh niên, phát
hiện và bồi dưỡng các tài năng thể thao cho đất nước.
Để công tác TDTT trường học đạt hiệu quả cao thì việc phân loại sức
khỏe và trình độ người tập là một trong những yếu tố quan trọng. Từ đó xây
dựng nội dung và hình thức GD phù hợp với từng nhóm đối tượng. Đối với sinh
viên trong các trường đại học và cao đẳng, việc phân loại trình độ người tập
thường theo các nhóm sau:
Nhóm cơ bản: là những sinh viên có sức khỏe bình thường hoặc sức khỏe
tốt, không có bệnh mãn tính hoặc thương tật;
Nhóm đặc biệt: là những sinh viên có sức khỏe yếu, có bệnh mãn tính
hoặc thương tật;
Nhóm thể thao nâng cao (TTNC): Gồm những sinh viên yêu thích và có
năng khiếu thể thao. Tùy theo điều kiện cụ thể mà các trường tổ chức các nhóm
TTNC, đặc biệt ở những trường có điều kiện về cơ sở vật chất và đội ngũ giảng
viên. Nội dung và yêu cầu đối với nhóm này do Bộ môn (Khoa) TDTT soạn
thảo với yêu cầu cao hơn chương trình GDTC cơ bản. [65], [69].
Năm 1995 (Giai đoạn 1) và năm 1997 (Giai đoạn 2), Bộ GD&ĐT đã ban
hành Chương trình GDTC cho sinh viên các trường đại học và cao đẳng (150
tiết trong 5 học kỳ). Trong đó rất quan tâm đến “… đảm bảo cho sinh viên được
học tập theo khả năng và sở thích…”, “Phát triển năng khiếu thể thao trong sinh
viên, từng bước nâng cao trình độ thể thao trong lực lượng sinh viên…”. Nội
dung chương trình cũng quan tâm đến bồi dưỡng nghiệp vụ thể thao cho sinh
viên. Tuy nhiên, với xu thế tự chủ (cả về chương trình đào tạo) của các trường
Các Bộ môn GDTC (khoa TDTT) của các trường đại học thuộc Đại học
Thái Nguyên có nhiệm vụ chính là xây dựng chương trình GDTC, giảng dạy các
học phần GDTC, tổ chức các hoạt động thể thao cho cán bộ, sinh viên trong các
3
nhà trường, tham gia các hoạt động thể thao tại địa phương. Ngoài ra, các Bộ
môn GDTC còn được các Nhà trường giao nhiệm vụ tổ chức các đội tuyển Thể
thao sinh viên tham gia các giải thi đấu thường niên do địa phương và ngành tổ
chức. Các Bộ môn GDTC tại các trường thuộc Đại học Thái Nguyên đã hoàn
thành cơ bản nhiệm vụ được giao và đạt được những thành tích nhất định.
Tuy nhiên, qua khảo sát sơ bộ tác giả nhận thấy bên cạnh những thành
tích đã đạt được thì công tác TDTT cho sinh viên của các trường thuộc Đại học
Thái Nguyên vẫn còn một số tồn tại. Trong đó có vấn đề tổ chức dạy học theo
đặc điểm sức khỏe, trình độ và sở thích của người học. Chương trình và các giờ
học GDTC được xây dựng và tổ chức đồng loạt cho tất cả các sinh viên. Chưa
có chương trình và các hình thức hoạt động riêng cho các nhóm đối tượng khác
nhau. Việc bồi dưỡng cho nhóm TTNC chưa được quan tâm đúng mức. Công
tác chuẩn bị các đội tuyển thể thao chỉ được thực hiện trong thời gian ngắn trước
giải. Trong các giờ học GDTC, sinh viên nhóm TTNC vẫn phải tập luyện cùng
chương trình với các sinh viên khác nên họ không phát huy được hết khả năng
của mình trong thi đấu cũng như vai trò trong các hoạt động thể thao của tập thể.
Từ những vấn đề trên cho thấy việc bồi dưỡng sinh viên nhóm TTNC của
các trường thuộc Đại học Thái Nguyên theo hướng nâng cao năng lực thi đấu
thể thao và bồi dưỡng hạt nhân thể thao cấp cơ sở là cần thiết. Qua khảo sát sơ
bộ điều kiện thực tiễn, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu xây dựng
chương trình Thể thao nâng cao cho sinh viên Đại học Thái Nguyên”.
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở thực trạng công tác TDTT cho sinh viên và nhu cầu của sinh
cận và xu hướng tiên tiến trong lý luận và thực tiễn GD và GDTC.
Ý nghĩa thực tiễn:
Đánh giá được thực trạng công tác GDTC của các trường thuộc Đại học
Thái Nguyên từ góc nhìn phân hóa trong GD. Kết quả này góp phần đánh giá,
toàn diện hơn về công tác GDTC cho sinh viên tại Đại học Thái Nguyên;
Xác định được nhu cầu bồi dưỡng nâng cao cho những sinh viên yêu thích
và có năng khiếu thể thao. Đây là một trong những cơ sở thực tiễn để xác định
mục tiêu và nội dung bồi dưỡng của chương trình TTNC cho sinh viên;
Xây dựng được chương trình TTNC cho sinh viên. Đây là một lựa chọn
bổ ích cho những sinh viên yêu thích và có năng khiếu thể thao. Góp phần đáp
ứng nhu cầu tập luyện phong phú của sinh viên trong hoạt động thể thao.
5
Với mục tiêu nâng cao năng lực thi đấu và bồi dưỡng nghiệp vụ cho sinh
viên yêu thích và có năng khiếu thể thao, chương trình góp phần nâng cao hiệu
quả công tác TDTT trường học và phong trào thể thao cho mọi người.
Giả thuyết khoa học
Bồi dưỡng nâng cao cho những sinh viên yêu thích và có năng khiếu thể
thao (nhóm TTNC) theo hướng nâng cao năng lực thi đấu và bồi dưỡng nghiệp
vụ thể thao góp phần không nhỏ trong việc chuẩn bị lực lượng cho các đội tuyển
thể thao cũng như tạo nên những hạt nhân trong hoạt động thể thao cơ sở. Nếu
chương trình TTNC mà đề tài xây dựng được triển khai sẽ nâng cao hiệu quả
chuẩn bị các đội tuyển thể thao cho các trường thuộc Đại học Thái Nguyên và
tạo nên những hạt nhân thể thao cho nhà trường và xã hội. Qua đó nâng cao hiệu
quả công tác GDTC và thể thao trường học cũng như phong trào thể thao cơ sở.
6
7
vật chất, lớp học thể dục…). Để tạo được bước chuyển biến mạnh mẽ về TDTT
trường học, Nhà nước cần có chương trình quốc gia về phát triển TDTT trường
học với các mục tiêu toàn diện, thiết thực và hiệu quả. Cần gắn việc rèn luyện
thể chất cho học sinh với công tác y tế học đường để xây dựng lối sống lành
mạnh, phòng chống các bệnh học đường và phát hiện sớm các bệnh tật ảnh
hưởng đến sức khỏe, thể lực của học sinh”. [1], [73].
Tháng 12/2011, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 08/NQ-TW về tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về Thể dục, thể thao
đến năm 2020, trong đó xác định mục tiêu và giải pháp nâng cao chất lượng
công tác GDTC và thể thao trong nhà trường đến năm 2020, trong đó đề ra mục
tiêu là phấn đấu 90% học sinh, sinh viên đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể... Cần
quan tâm đầu tư đúng mức TDTT trường học, với vị trí là bộ phận quan trọng
của phong trào TDTT; là một mặt của GD toàn diện nhân cách học sinh, sinh
viên... Xây dựng và thực hiện Đề án tổng thể phát triển GDTC và thể thao
trường học. Thực hiện tốt GDTC theo chương trình nội khoá; phát triển mạnh
các hoạt động thể thao của học sinh, sinh viên, bảo đảm mục tiêu phát triển thể
lực toàn diện và kỹ năng vận động cơ bản của học sinh, sinh viên, góp phần đào
tạo năng khiếu và tài năng thể thao; Đổi mới chương trình và phương pháp
GDTC, gắn GDTC với GD ý chí, đạo đức, GD quốc phòng, GD sức khoẻ và kỹ
năng sống của học sinh, sinh viên. Đãi ngộ hợp lý và phát huy năng lực đội ngũ
giáo viên thể dục hiện có; mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng
đội ngũ giáo viên, hướng dẫn viên thể dục cho trường học; củng cố các cơ sở
nghiên cứu khoa học về tâm sinh lý lứa tuổi và TDTT trường học. [2].
Thể dục thể thao trường học là một mặt của GD toàn diện, nó thuộc lĩnh
vực TDTT cho mọi người. Nhiệm vụ và mục tiêu của TDTT trường học là:
Nâng cao sức khoẻ, đảm bảo sự phát triển bình thường của cơ thể học sinh; Phát
trường học phổ thông có câu lạc bộ thể dục, thể thao, có hệ thống cơ sở vật chất
đủ phục vụ cho hoạt động thể dục, thể thao, có đủ giáo viên và hướng dẫn viên
thể dục, thể thao, thực hiện tốt hoạt động thể thao ngoại khóa đến năm 2015 đạt
45% và đến năm 2020 đạt từ 55 – 60% tổng số trường. Số học sinh được đánh
giá và phân loại thể lực theo Quy định của Bộ GD&ĐT đến năm 2015 đạt 75%
và đến năm 2020 đạt 85% - 90% tổng số học sinh phổ thông các cấp. [11].
9
Trong Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020 cũng đề ra
các nhiệm vụ cụ thể về phát triển giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trường
học gồm: “Tăng cường chất lượng dạy và học thể dục chính khóa …”; “Phát
triển hoạt động thể dục, thể thao ngoại khóa … Xây dựng các loại hình câu lạc
bộ thể dục, thể thao trường học; khuyến khích học sinh dành thời gian từ 2 - 3
giờ/tuần để tham gia hoạt động thể thao ngoại khóa trong các câu lạc bộ, các lớp
năng khiếu thể thao. Củng cố và phát triển hệ thống thi đấu thể dục, thể thao giải
trí thích hợp với từng cấp học, từng vùng, địa phương …”; “Ban hành Nghị định
về phát triển giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trường học…” [11].
Luật Thể dục, Thể thao quy định: “Giáo dục thể chất là môn học chính
khóa, thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động,
góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện. Hoạt động thể thao trong nhà
trường là hoạt động tự nguyện của người học, được tổ chức theo phương thức
ngoại khoá phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khoẻ, nhằm tạo điều
kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể
thao” (Điều 20). [77].
Luật Thể dục, Thể thao quy định rõ trách nhiệm của các cấp, các tổ chức
trong việc thực hiện công tác thể dục, thể thao trường học: Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo phối hợp với Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ banTDTT (nay là Tổng
cục TDTT thuộc Bộ VH-TT và Du lịch) xây dựng chương trình giáo dục thể
chất…”; Điều 7 quy định: “Cơ quan quản lý giáo dục các cấp và các nhà trường
có trách nhiệm hỗ trợ, tạo điều kiện cho các câu lạc bộ thể thao …“ [13].
1.2 Công tác Giáo dục thể chất và Thể thao trong trường đại học
1.2.1 Khái niệm về Giáo dục thể chất và thể thao trường học
Theo tác giả Vũ Đức Thu thì GDTC là quá trình sư phạm nhằm GD và
đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm
việc và kéo dài tuổi thọ của con người.
Trong quá trình GDTC, hình thái và chức năng các cơ quan trong cơ thể
được từng bước hoàn thiện, hình thành và phát triển các tố chất thể lực, kỹ năng,
kỹ xảo vận động và hệ thống tri thức chuyên môn. GDTC có vai trò đặc biệt
quan trọng trong việc hoàn thiện năng lực vận động của con người, cả về tố chất
thể lực và kỹ năng vận động.
11
Giáo dục thể chất là một phạm trù biện chứng của triết học Đông - Tây.
Nó tồn tại từ khi xuất hiện xã hội loài người và tồn tại tự nhiên như một nhu cầu
hết sức cấp bách, không thể thiếu trong điều kiện của nền sản xuất xã hội và đời
sống con người. [65].
Tác giả Nguyễn Toán thì khái niệm GDTC là một loại hình GD với các
nội dung chuyên biệt là:
Dạy học vận động (qua việc thực hiện các động tác): là truyền thụ và tiếp
thu có hệ thống những cách thức điều khiển hợp lý sự vận động của con người,
qua đó hình thành những kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản cần thiết và những
hiểu biết liên quan.
Phát triển có chủ định các tố chất vận động. Tác động có chủ đích theo
định hướng các tố chất thể lực nhằm nâng cao sức lực vận động của con người.
Việc dạy học động tác và phát triển các tố chất vận động có liên quan chặt
chẽ, làm tiền đề cho nhau, thậm chí có thể “chuyển” lẫn nhau. Nhưng chúng
người học.
Các nội dung cơ bản của công tác TDTT trường học gồm: Thực hiện giờ
học nội khóa theo chương trình quy định; Tổ chức tập luyện và kiểm tra tiêu
chuẩn rèn luyện thân thân thể theo lứa tuổi hàng năm; Tổ chức tập luyện ngoại
khóa theo CLB thể thao tự chọn trong các trường học; Ổn định hệ thống thi đấu
thể thao các cấp của học sinh, sinh viên theo chu kỳ năm và nhiều năm. [69].
1.2.2 Mục đích, nhiệm vụ của thể dục thể thao trong trường đại học
Mục đích của TDTT trong các trường đại học là góp phần thực hiện mục
tiêu đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý, kinh tế và văn hóa xã
hội, phát triển hài hòa, có thể chất cường tráng, đáp ứng yêu cầu chuyên môn,
nghề nghiệp và có khả năng tiếp cận, bắt nhịp nhanh với thực tiễn cuộc sống.
Để đạt được mục đích trên, các nhiệm vụ cơ bản được đề ra với chương
trình GDTC và các hoạt động thể thao trong các trường đại học gồm:
Giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa. Rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổ
chức kỷ luật, xây dựng niềm tin, lối sống tích cực lành mạnh, tinh thần tự giác
học tập và rèn luyện thân thể, chuẩn bị sẵn sàng lao động và bảo vệ Tổ quốc;
Cung cấp cho sinh viên những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung và
phương pháp tập luyện TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản một số môn
13
thể thao thích hợp. Trên cơ sở đó, bồi dưỡng khả năng sử dụng các phương tiện
để tự rèn luyện thân thể, tham gia tích cực vào việc tuyên truyền và tổ chức các
hoạt động TDTT của nhà trường và xã hội;
Góp phần duy trì và củng cố sức khỏe của sinh viên, phát triển cơ thể một
cách hài hòa, xây dựng thói quen lành mạnh và khắc phục những thói quen xấu
(nghiện rượu, hút thuốc…), rèn luyện thân thể đạt những chỉ tiêu thể lực quy
định cho từng đối tượng và năm học;
Phát hiện và bồi dưỡng các tài năng cũng như các hạt nhân trong các hoạt
thường và việc tổ chức giờ học theo hướng huấn luyện thể thao để tạo điều kiện
tiếp tục nâng cao thành tích thể thao cho họ. [65].
Nguyên tắc thích hợp và cá biệt hóa:
Theo cơ sở về lý luận và phương pháp GDTC thì việc phân loại sức khỏe
và trình độ sinh viên trong GDTC về cơ bản dựa trên nguyên tắc “thích hợp và
các biệt hóa” với một số nội dung cơ bản sau:
Thích hợp và cá biệt hóa chính là việc tính đến đặc điểm của người tập.
Hoạt động GDTC phải tương ứng với khả năng và đặc điểm cá nhân của người
tập cả về nội dung và hình thức hoạt động;
Xác định chính xác mức độ thích hợp của nội dung GD: Quá trình xây
dựng nội dung phải căn cứ vào chương trình chung kết hợp với kiểm tra đánh
giá thường xuyên để điều chỉnh nội dung và hình thức cho phù hợp với những
thay đổi của người tập;
Cá biệt hoá theo xu hướng chung và riêng trong GDTC. Tức là sự xây
dựng toàn bộ quá trình GDTC và sử dụng các phương tiện, phương pháp và hình
thức tập luyện riêng của quá trình đó sao cho có thể đối xử cá biệt với người tập
và tạo được những điều kiện để phát triển tốt nhất các năng lực của họ;
Chuẩn bị chung: Giúp người học nắm được một số kiến thức và kỹ năng
cơ bản, quan trọng trong cuộc sống, đồng thời phát triển toàn diện thể lực chung.
Trong đó cũng có những yêu cầu riêng để phù hợp với đặc điểm cá nhân hoặc có
thể cá biệt hoá theo yêu cầu chung bằng những con đường riêng;
Chuyên môn hoá: Nhằm hoàn thiện sâu hơn về một môn hoạt động đã
được chọn. Không những các phương pháp mà cả nội dung tập luyện cũng phải
căn cứ vào thiên hướng và năng khiếu cá nhân;
15
Cá biệt hoá phải dựa trên cơ sở các quy luật chung về GD và GDTC. Cá
biệt hoá không có nghĩa là chỉ bị động chạy theo đặc điểm cá nhân mà còn phải
bị tri thức chuyên môn, hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động cần thiết cho cuộc
sống và hoạt động thể thao. Giờ học chính khóa với ưu điểm là được tổ chức
chặt chẽ và có tính thống nhất cao theo kế hoạch đào tạo, theo thời khóa biểu
của nhà trường và theo giáo án của giáo viên. Các giờ học được tiến hành trên
sân tập của nhà trường với các lớp học có số lượng học sinh, sinh viên tương đối
ổn định và tương đồng về lứa tuổi.[67].
Hoạt động thể thao ngoại khóa:
Hoạt động thể thao ngoại khóa đáp ứng nhu cầu tập luyện, giải trí ngoài
giờ học chính khóa của một bộ phận học sinh sinh viên với mục đích và nhiệm
vụ là góp phần phát triển năng lực thể chất một cách toàn diện, nâng cao thành
tích thể thao cũng như giao lưu, giải trí của học sinh sinh viên. Giờ học ngoại
khoá nhằm củng cố và hoàn thiện các bài học chính khoá và được tiến hành vào
giờ tự học của học sinh sinh viên, hay dưới sự hướng dẫn của giáo viên TDTT,
hướng dẫn viên. Ngoài ra còn các hoạt động thể thao ngoài giờ học bao gồm:
Luyện tập trong các câu lạc bộ, các giải thi đấu trong và ngoài trường được tổ
chức hàng năm, các bài tập thể dục vệ sinh chống mệt mỏi hàng ngày, cũng như
giờ tự luyện tập của học sinh sinh viên, phong trào tự tập luyện rèn luyện thân
thể. Hoạt động ngoại khoá với chức năng là động viên lôi kéo nhiều người tham
gia tập luyện các môn thể thao yêu thích, góp phần nâng cao sức khoẻ phục vụ
học tập và sinh hoạt. [65], [69].
Hoạt động thể thao ngoại khóa cho sinh viên các trường đại học có vai trò
rất lớn đối với công tác GDTC nói riêng cũng như GD nói chung:
Hỗ trợ cho giờ học chính khóa và thỏa mãn nhu cầu vận động cho sinh
viên. Hiện nay đa số các trường đại học đều thực hiện chương trình GDTC
chính khóa trong 3 học kỳ với tổng khối lượng từ 90 đến 120 tiết, mỗi tuần 1
buổi, mỗi buổi từ 2 đến 3 tiết. Do vậy, nếu chỉ GDTC qua giờ học chính khóa thì
hiệu quả sẽ không cao, không đáp ứng được nhu cầu vận động của sinh viên;
Nghỉ ngơi tích cực sau các hoạt động học tập: Hoạt động học tập của sinh
viên yêu cầu khả năng lao động trí óc cao. Lao động trí óc với cường độ cao,
Bất cứ một lớp học, trường học, môn học nào cũng có sự đa dạng về đối
tượng người học với những khả năng và nhu cầu GD khác nhau. Một số giỏi ở
lĩnh vực này nhưng lại không giỏi ở lĩnh vực khác. Phương pháp, hình thức GD
18
nào đó có thể phù hợp với nhóm người học này nhưng lại không phù hợp với
nhóm đối tượng khác. Đáp ứng nhu cầu và trình độ của người học luôn là yêu
cầu và thách thức đối với mỗi giảng viên và mỗi cơ sở GD. Thực tiễn cũng cho
thấy rằng không có một chương trình, một cách thức GD và cách đánh giá nào
phù hợp với sự đa dạng của tất cả người học. Để đáp ứng tốt nhất nhu cầu khác
nhau của người học cần xây dựng những chương trình GD khác nhau và đa dạng
hóa cách thức, phương tiện GD cho phù hợp với đặc điểm của mỗi người học.
Đây chính là sự “phân hóa” trong quá trình GD.
Carol Ann Tomlinson cho rằng: Phân hóa là một phương thức GD mà
theo đó, nhà GD tích cực thay đổi hoặc điều chỉnh chương trình, phương pháp
GD, các nguồn lực, hoạt động học và những sản phẩm của người học để đáp ứng
nhu cầu của cá nhân người học. [75]
Tác giả Tracey Hall thì cho rằng: Dạy học phân hóa là lý thuyết giảng dạy
với các cách tiếp cận giảng dạy cần phải đa dạng và thích nghi với sự đa dạng về
đặc điểm cá nhân của học sinh trong lớp học. [75]
Các tác giả tuy có quan niệm khác nhau về phân hóa trong GD nhưng ta
có thể rút ra những đặc điểm chung trong các định nghĩa trên như sau:
Thừa nhận sự khác biệt, đa dạng về đặc điểm cá nhân của người học. Sự
khác biệt này luôn tồn tại trong mọi hoạt động GD. Đây là cơ sở quan trọng của
sự cần thiết phải có phân hóa trong quá trình GD;
Phân hóa trong quá trình GD là một phương thức GD tập trung vào việc
thiết kế quá trình GD (bao gồm cả chương trình và phương thức TCHĐ) một
cách đa dạng đáp ứng nhu cầu và đặc điểm cá nhân của mỗi người học, nhằm