1
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Phạm Thành
Hưng – người thầy đã tận tình giúp đỡ tôi về phương pháp và kinh nghiệm nghiên cứu
trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Phòng Sau đại học, quý thầy cô Khoa
Ngữ văn – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và quý thầy cô đã trực tiếp giảng dạy và
giúp đỡ trong suốt quá trình học tập; Trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Vĩnh Phúc đã
tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Hà Nội, tháng 12 năm 2012
Học viên
Trần Thị Thu
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung được trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu của
bản thân tôi.
Trong quá trình thực hiện luận văn tôi có nghiên cứu và tìm hiểu, tham khảo thành
quả khoa học của các tác giả khác với sự trân trọng và biết ơn nhưng những nội dung
nghiên cứu không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác.
Hà Nội, tháng 12 năm 2012
Học viên
Trần Thị Thu
3
Chương 3: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP KHU BIỆT
CỦA THỂ LOẠI NHẬT KÍ CHIẾN TRANH............................................................60
4
3.1. Ngôn ngữ quy ước, ẩn dụ........................................................................................63
3.2. Lối ghi chép linh hoạt, sáng tạo ..............................................................................66
3.3. Giọng điệu trăn trối, di chúc ...................................................................................71
KẾT LUẬN ..................................................................................................................77
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...........................................................................................82
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Nhắc đến từ “chiến tranh”, chúng ta không thể không liên tưởng
tới cuộc chiến đấu giành lại độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam anh hùng
trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, gắn liền với những
chiến tích vang dội năm châu đó là sự mất mát hy sinh xương máu của biết
bao thế hệ những người con đất Việt. Dường như những mất mát hy sinh đó
vẫn còn in đậm trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam, hơn thế nữa lại
được khắc họa một cách chân thực và sống động dưới góc nhìn văn học. Đó
là những cuốn tiểu thuyết, kí sự, phóng sự, truyện ngắn ra đời trong chiến
tranh, miêu tả hiện thực khắc nghiệt của cuộc chiến. Như một sự ngẫu nhiên,
vô tình, chúng ta đã chứng kiến sự ra đời một loại hình văn học mang đậm
tính nhân văn và giá trị giáo dục sâu sắc: Văn học về đề tài chiến tranh.
Ngày nay đọc lại những trang sách viết về chiến tranh, chúng ta như được
thưởng thức những thước phim quay chậm một cách chi tiết nhất, đầy đủ
chiến tranh vừa mang ý nghĩa lý luận vừa mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.
Với đặc điểm riêng về thể loại và những giá trị nhân đạo đó, Nhật ký
chiến tranh đã thực sự trở thành một bộ phận không thể thiếu trong văn chương
Việt Nam. Tuy thế, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể
nào về nhật ký chiến tranh, vì lẽ đó cho nên chúng tôi đã quyết định chọn đề tài:
Nhật ký chiến tranh qua sáng tác của một số tác giả tiêu biểu: Nguyễn Văn
Thạc; Đặng Thùy Trâm; Chu Cẩm Phong, với mong muốn luận văn sẽ góp
những suy nghĩ của mình vào việc khẳng định giá trị của thể loại đặc biệt này.
2. Lịch sử nghiên cứu
2.1. Với đặc trưng thể loại “Nhật ký” là những ghi chép mang tính
chất riêng tư vì thế có thể nói trước những năm 1986, sự xuất hiện của
chúng không nhiều, chưa thu hút được sự chú ý quan tâm của độc giả và
7
giới nghiên cứu.Vì thế sự góp mặt của nhật ký chiến tranh trên diễn đàn văn
học được cho là của “hiếm” vì chưa có một công trình nghiên cứu nào về
khái niệm, định nghĩa, đặc trưng của Nhật ký chiến tranh.
2.2. Từ sau 1986, đặc biệt là từ năm 2005 với sự xuất hiện đầu tiên
của cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm một nữ bác sĩ- liệt sĩ đã được công bố
trong xã hội và tạo ra một “cơn sốt” về Nhật ký chiến tranh, tiếp theo đó là
Mãi mãi tuổi hai mươi của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc; Nhật ký chiến tranh của
liệt sĩ Chu Cẩm Phong…đã thực sự gây ấn tượng mạnh mẽ và thu hút sự
quan tâm của toàn xã hội, khiến các nhà nghiên cứu phải có cái nhìn sâu
rộng nghiêm túc về thể loại văn học đặc biệt này. Hàng loạt những bài viết;
giới thiệu; phê bình…xuất hiện dày đặc trên các phương tiện truyền thông,
điển hình nhất là có đến hàng chục bài báo về đề tài này với những nội dung
vô cùng phong phú:
- Những bài báo mang tính chất giới thiệu về hành trình của những
trở, sự hy sinh mất mát...trong chiến tranh.
Có thể nói, nghiên cứu về Nhật ký chiến tranh bước đầu chỉ dừng lại ở
việc giới thiệu sách và khai thác thông tin bên lề tác phẩm, chứ chưa có một
công trình nghiên cứu nào hội tụ đầy đủ những phẩm chất đặc sắc về nội dung
và nghệ thuật của thể loại văn học đặc biệt này.Vì thế, đề tài luận văn của
chúng tôi chứa đựng kỳ vọng về một hướng đi mới trong việc nghiên cứu về
đặc trưng cơ bản nhất của thể loại nhật ký chiến tranh cùng giá trị văn học,
hiệu ứng xã hội, ý nghĩa tinh thần cũng như đóng góp về thể loại của dòng
sách này.Vì thế, luận văn không tránh khỏi thiếu sót, kính mong hội đồng và
các thầy cô cho ý kiến đóng góp để luận văn hoàn thiện hơn.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Dưới lăng kính của văn chương, thể loại nhật ký nói chung đã góp
phần hoàn chỉnh bức tranh hiện thực đời sống của con người, phản ánh thực
tại cuộc sống trên nhiều bình diện, đa chiều và đa sắc, giúp cho độc giả có
9
cái nhìn toàn diện hơn về con người và xã hội. Với Nhật ký chiến tranh nói
riêng đã mở ra một thế giới tâm hồn sâu lắng giàu cảm xúc và chất chứa suy
tư, tình cảm của chủ thể sáng tạo khi đánh giá, nhận xét về hiện thực cuộc
sống dưới cái nhìn trực diện.
Bên cạnh đó, chúng tôi mong muốn với những giá trị tinh thần sâu sắc
mà nhật ký chiến tranh mang đến sẽ nhắc nhở mọi thế hệ Việt Nam nhất là
thế hệ trẻ về những ngày tháng hào hùng của dân tộc, về lý tưởng sống cao
đẹp của cha anh ….để từ đó hình thành nhân cách sống cao đẹp xứng đáng
với sự hy sinh của lớp cha anh vì sự nghiệp vẻ vang của dân tộc. Thông qua
đề tài nghiên cứu đã giúp cho chúng ta nhận thức được và có cái nhìn chân
thực nhất, rõ nét nhất về những gì cuộc chiến đã đi qua và ý nghĩa của dòng
sách đặc biệt này trong đời sống văn học Việt Nam.
những đóng góp của nhật ký chiến tranh cho dòng văn học viết về đề tài
chiến tranh nói riêng và văn chương Việt Nam nói chung dường như vẫn
chưa được đánh giá đúng mức. Với đề tài Nhật ký chiến tranh qua sáng tác
của một số tác giả tiêu biểu Nguyễn Văn Thạc, Đặng Thùy Trâm, Chu
Cẩm Phong, chúng tôi mong muốn luận văn sẽ mang lại cái nhìn toàn diện
về những đóng góp của thể loại nhật ký chiến tranh trong đời sống văn học
Việt Nam cũng như giá trị nhân văn cao cả mà dòng sách này mang đến.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn có 3 chương:
Chương 1: NHẬT KÝ CHIẾN TRANH – MỘT THỂ KÝ ĐẶC THÙ
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG CỦA NHẬT KÝ CHIẾN
TRANH QUA BA TÁC PHẨM CỦA CHU CẨM PHONG, ĐẶNG
THÙY TRÂM VÀ NGUYỄN VĂN THẠC
Chương 3: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP KHU BIỆT CỦA
THỂ LOẠI NHẬT KÝ CHIẾN TRANH
11
Chương 1: Có nhiệm vụ trình bày tổng quan lý luận về thể loại nhật
ký- nhật ký chiến tranh và những đặc trưng thể loại trong đời sống văn học.
Đồng thời, lý giải hiệu ứng xã hội và giá trị văn học của nhật ký chiến tranh.
Chương2 : Luận văn đi sâu vào nghiên cứu tìm hiểu một số đặc điểm
về nội dung phản ánh của nhật ký chiến tranh trong phạm vi đề tài và tương
quan với dòng sách này; giá trị phản ánh chân thực nhất, chính xác nhất,
sống động nhất về hiện thực chiến tranh và gian khổ nơi chiến trường khốc
liệt làm nổi bật được tấm gương anh hùng đã sống, cống hiến và hy sinh vì
lý tưởng tuổi trẻ thời kháng chiến chống Mĩ.
Chương 3: Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu về đặc điểm nghệ thuật
nổi bật của thể loại văn học đặc biệt này như: Ghi chép linh hoạt; giọng điệu
thuộc loại hình ký”, là một dạng biến thể của ký hiện đại. So với các thể loại
13
khác như tiểu thuyết, thơ…thì ký xuất hiện muộn hơn, tận thế kỷ XVIII khi
có sự gia tăng chú ý đến thế giới nội tâm của con người, khi xuất hiện nhu
cầu tự bộc bạch, tự quan sát thì thể loại này mới xuất hiện ở Châu Âu và
phát triển cực thịnh vào thế kỷ XIX. Ở Việt Nam, thể ký ra đời muộn, có thể
lấy điểm mốc cho sự xuất hiện của thể loại này ở thời Lý- Trần với Vũ trung
tùy bút và Thượng kinh ký sự. Cũng như ở phương Tây, thể ký ở Việt Nam
cũng được coi là thể loại mở đường dẫn tới sự phát triển rực rỡ của chủ
nghĩa hiện thực trong văn học nghệ thuật. Qua nhiều giai đoạn lịch sử, ký
cũng có những biến thể cho phù hợp với xu thế phát triển của văn học. Nhật
ký chính là một dạng biến thể của ký hiện đại bên cạnh hồi ký, tùy bút, tản
văn, phóng sự…
Từ điển văn học (bộ mới) [39] định nghĩa nhật ký là “Loại văn ghi chép
sinh hoạt thường ngày. Trong văn học, nhật ký là hình thức trần thuật từ ngôi
thứ nhất số ít, dưới dạng những ghi chép hàng ngày có đánh số ngày tháng
(…) bao giờ cũng chỉ ghi lại những gì đã xảy ra, những gì đã nếm trải, thể
nghiệm; nó ít hồi cố; được viết ra chỉ cho bản thân người ghi chứ không tính
đến việc được công chúng tiếp nhận” [39, tr 1257]. Từ điển thuật ngữ văn học
cũng coi nhật ký là “một thể loại thuộc loại hình ký” hay “là hình thức tự sự ở
ngôi thứ nhất được thực hiện dưới dạng những ghi chép hàng ngày theo thứ
tự ngày tháng về những sự kiện của đời sống mà tác giả hay nhân vật chính là
người trực tiếp tham gia hay chứng kiến” [38, tr 204].Giáo trình Lý luận văn
học, tập 2:Tác phẩm và thể loại văn học do GS.Trần Đình Sử chủ biên [44]
thì định nghĩa như sau: “ Nhật ký là thể loại ký ghi chép sự việc, suy nghĩ,
cảm xúc hàng ngày của chính người viết, là những tư liệu có giá trị về tiểu
sử và thời đại của người viết” [44, tr 261]. Như vậy, có thể nói rằng, nhật ký
Nhật ký cũng vậy, cho dù là nhật ký văn học hay các loại nhật ký ngoài văn
học thì đều coi trọng tính chân thực, đáng tin cậy của sự kiện được ghi chép
lại, vì một cuốn nhật ký trước hết chính là sự giao lưu của người viết với
15
chính bản thân họ, bao giờ cũng chỉ ghi lại những gì đã xảy ra, những gì đã
nếm trải, đã thể nghiệm. Với các thể loại nhật ký ngoài văn học thì tính xác
thực là yếu tố quan trọng hàng đầu, ví dụ như một cuốn nhật ký công tác hay
nhật ký khoa học đòi hỏi một sự chính xác cao, hay với nhật ký riêng tư yếu
tố bí mật là yếu tố quan trọng vì đó là những lời bộc bạch tâm sự của chủ thể
không hướng tới mục đích quảng bá nên những gì viết ra luôn chân thực.
Còn với nhật ký văn học, để mang tính hiện đại cho những vấn đề có ý
nghĩa lớn thì bản thân việc ghi chép phải có sự chân thực mới thu hút được
sự quan tâm của độc giả cũng như xã hội: Ví dụ như nhật ký “Ở rừng” của
Nam Cao là những ghi chép chân thực những ngày tháng gian khổ mà đầy ý
nghĩa trong ngày đầu hoạt động cách mạng của nhà văn, đó cũng là những
gian khổ, khó khăn thách thức các văn nghệ sĩ trong việc “nhận
đường”…Tác phẩm thành công bởi trong nó chứa đựng những cảm xúc
chân thành của người viết thể hiện tư tưởng, tình cảm và cái nhìn bao quát
mọi sự vật, sự việc. Hay tập Nhật ký trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
cho chúng ta thấy được bộ mặt tàn ác của nhà tù với những gian khổ, thiếu
thốn đủ điều nhưng lại toát lên vẻ đẹp của tinh thần lạc quan yêu đời của
người chiến sĩ- thi sĩ cách mạng. Tính xác thực của nhật ký cũng có nét
tương đồng với hồi ký, tuy nhiên nếu như hồi ký có thể có yếu tố hư cấu
những khi thể hiện thái độ, những sự việc mà nhân vật trải nghiệm nhằm
làm nổi bật hơn chủ đề của tác phẩm thì với nhật ký, yêu cầu về tính xác
thực rất khắt khe. Vì hư cấu trong nhật ký là điều tối kị. Người viết nhật ký
không được phép hư cấu thêm tình tiết. Hư cấu ở nhật ký chẳng khác với sự
bao quát, quán xuyến toàn bộ tác phẩm. Tác giả không ngại ngần xuất hiện
trong từng chi tiết nhỏ nhất và chính sự có mặt của cái tôi ấy đã góp phần
quan trọng trong việc tạo ra niềm tin của công chúng vì họ tin rằng đang
được nghe kể về những sự thật mà tác giả là người trực tiếp chứng kiến” [
37, tr 218]. Tuy nhiên, có nhưng khi lời độc thoại của tác giả hay nhân vật
17
lại chính là một cuộc đối thoại ngầm với người khác về con người và cuộc
đời nói chung, về bản thân mình nói riêng. Hình tượng tác giả trong nhật ký
văn học là hình tượng mang tầm khái quát tư tưởng thẩm mĩ lớn lao.
Nhật ký ghi chép sự việc, suy nghĩ, cảm xúc theo ngày tháng ở thì
hiện tại, có thể liên tục nhưng cũng có thể ngắt quãng tùy vào người ghi.
Nếu như ở hồi kí là sự ghi chép thời gian đã qua, thời gian quá khứ bằng
cách hồi cố, hồi tưởng lại thì nhật ký ghi chép bằng thời gian hiện tại. Có
thể ngắt quãng, nhưng chắc chắn thời gian phải là thời gian của hiện tại,
không thể ở thời điểm ghi nhật ký mà ghi hộ cho thời điểm trước hay sau
đó được.
Đặc điểm lời văn của nhật ký là sự ngắn gọn, tự nhiên bởi nó là lời
nói bên trong, là tiếng nói nội tâm về những sự việc riêng tư, những tâm sự
thầm kín, ý nghĩa thành thực; vì thế lời văn thường kết hợp linh hoạt giữa tự
sự và trữ tình, giữa ngôn ngữ đời thường và giọng văn trữ tình mượt mà.
Thông thường, nhật ký được viết bằng văn xuôi. Thế nhưng đôi lúc
nhật ký lại xuất hiện như là một truyện ngắn: Nhật ký người điên của Lỗ
Tấn, hay có thể được thể hiện dưới hình thức một tập thơ: Nhật ký trong tù
của Hồ Chí Minh.
1.2. Hiệu ứng xã hội và giá trị văn học của thể loại nhật ký chiến tranh
1.2.1. Nhật ký chiến tranh và một số đặc điểm thể loại
Văn chương góp phần không nhỏ vào việc tái hiện chân dung cuộc
Phong, Tài hoa ra trận của Hoàng Thượng Lân, Nhật ký chiến trường của
Dương Thị Xuân Quý, Đường về của Phạm Thiết Kế, Nhật ký chiến tranh
của Trình Văn Vũ…
Trong luận văn này, chúng tôi đã lựa chọn ba cuốn nhật ký được coi
là ấn tượng nhất, đặc biệt nhất hội tụ đầy đủ những đặc điểm tiêu biểu của
thể loại, đại diện cho dòng sách viết về chiến tranh và thi pháp của chúng
chịu sự quy định, ràng buộc của điều kiện chiến tranh. Đó là những dòng
19
tâm sự, suy nghĩ, tình cảm chân thật của những con người đã trực tiếp sống
và chiến đấu, hy sinh quên mình vì lý tưởng của tuổi trẻ như những dòng
tâm sự của nữ bác sĩ Đặng Thùy Trâm về những khó khăn, gian khổ, mất
mát nơi mảnh đất Đức Phổ; Những con người và tình cảm gắn bó sâu nặng
quân- dân trong Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong, hay những ngày
tháng huấn luyện đầy gian khổ của chàng trai đất Hà thành Nguyễn Văn
Thạc. Tất cả đã được ghi chép đầy đủ, chi tiết và chân thật về hiện thực
chiến tranh qua những trang nhật ký đặt sâu dưới đáy ba lô trải qua những
cuộc hành quân gian khổ của người lính. Có thể nói, những cuốn nhật ký kể
trên là những tài sản tinh thần vô giá của người lính, chúng trở thành người
bạn tâm tình để người lính trút bầu tâm sự, nỗi nhớ nhung tha thiết, hay thái
độ yêu- ghét cùng những suy tư, trăn trở của cuộc đời người lính…Nhật ký
của họ đã cho chúng ta những thế hệ mai sau một cái nhìn rõ nét nhất, chân
thực nhất về những gì cuộc chiến đã đi qua và sự cống hiến, hy sinh xương
máu của thế hệ cha anh đặc biệt là lý tưởng sống cao đẹp của một thế hệ
thanh niên thời bấy giờ, những người đã sống, chiến đấu và hy sinh quên
mình vì sự nghiệp chung của dân tộc. Với đặc điểm riêng về thể loại, có thể
coi nhật ký như là những thước phim quay chậm, cận cảnh tái hiện một cách
chân thực và sinh động về hiện thực khốc liệt chiến trường và những ngày
Có thể thấy điều khác biệt ở hoàn cảnh ra đời của những cuốn nhật ký
chiến tranh so với những cuốn nhật ký thông thường khác. Ở những cuốn
nhật ký chiến tranh là những dòng ghi chép vội vàng, ngắt quãng trong lúc
giải lao sau cuộc hành quân vất vả, bàn viết là trên những chiếc ba lô trong
điều kiện thiếu thốn nhiều khi giấy và mực cũng có khi trở thành thứ “xa
xỉ”. Trong Mãi mãi tuổi hai mươi, Nguyễn Văn Thạc phải dừng sở thích viết
nhật ký lại vì bút hết mực hay những trận chạy càn, cứu chữa thương binh
cũng khiến nữ bác sĩ phải tạm thời dừng cảm xúc của mình. Có khi căn bệnh
sốt rét và cái đói hành hạ nơi chiến trường cũng khiến nhà văn – chiến sĩ
Chu Cẩm Phong đành phải bỏ giở những ý tưởng hay, làm lỡ kế hoạch sáng
21
tác văn nghệ phục vụ kháng chiến. Còn với nhật ký thông thường tác giả có
thời gian ghi chép liên tục theo ngày tháng theo tâm trạng hay những lúc
hứng thú hoặc những lúc chưa muốn ghi chép gì…
Không những thế, những cuốn nhật ký chiến tranh, mà nhất là những
cuốn nhật ký chiến trường đều được viết ở những nơi nguy hiểm, những trận
bom tàn phá kinh hoàng và cái chết luôn cận kề có thể đến bất cứ lúc nào.
Dường như với họ đã mang sẵn trong mình tâm lý sẵn sàng chiến đấu và hy
sinh bất kỳ lúc nào, cho nên ngay cả trong những trang nhật ký họ cũng đã
có những lời nhắn nhủ tới những người thân yêu, tới bạn bè đồng chí khi
chẳng may họ ngã xuống, vì thế trong nhật ký chiến tranh luôn chứa đựng
giọng điệu trăn trối - di chúc đặc biệt. Đặng Thùy Trâm đã nói với Thuận,
người em kết nghĩa của mình “…Chị gửi ba lô cho em, trong đó có quyển
sổ”, “muốn nói tiếp rằng nếu chị không về nữa thì nhờ em giữ quyển sổ đó
và sau này gửi về gia đình ”, “Ngày mai trong tiếng ca khải hoàn sẽ không
có con đâu. Con tự hào vì đã dâng trọn đời mình cho Tổ quốc. Dĩ nhiên con
cũng cay đắng vì không được sống tiếp tục cuộc sống hòa bình hạnh phúc
Theo tiêu chí phân loại của Từ điển thuật ngữ văn học, về mục đích
sử dụng của nhật ký thì những cuốn nhật ký trên được viết chỉ để dành riêng
cho bản thân mà không hề có ý định phổ biến rộng rãi. Do đó, đây đích thực
là thể tài ngoài văn học, là loại nhật ký riêng tư. Nhật ký riêng tư là loại nhật
ký gần gũi với nhật ký văn học hơn cả. Tuy nhiên, cũng theo sự phân chia
của cuốn từ điển trên thì “điểm khác nhau cơ bản là ở chỗ nhật ký văn học
thường hướng về một chủ đề nhất định và có sự ưu tiên chú ý đến nội tâm
của tác giả hoặc nhân vật trước những vấn đề, những sự kiện có ý nghĩa xã
hội nhân bản rộng lớn” [44, tr 204]. Trong ba cuốn nhật ký luận văn lựa
chọn, các tác giả- chiến sĩ – liệt sĩ tuy viết về những sự kiện, những vấn đề
suy nghĩ của cá nhân mình song đều liên quan đến một sự kiện vô cùng
23
trọng đại của dân tộc. Đó là cuộc kháng chiến chống Mĩ. Vì sự kiện trung
tâm, trọng đại và lâu dài đó, nhật ký của các tác giả trên là những dòng cảm
xúc, suy nghĩ được ghi vội nơi chiến trường ác liệt của các chiến sĩ – thi sĩnhà văn giữa mưa bom bão đạn, khốc liệt của chiến tranh.
Có một điều đặc biệt, không giống như Đặng Thùy Trâm và Nguyễn
Văn Thạc, Chu Cẩm Phong ra trận với tư cách là một nhà văn, mang trong
mình tư chất của một người nghệ sĩ, anh ra trận thực hiện nhiệm vụ là sáng
tác văn nghệ phục vụ chiến tranh. Từ một địa hình gần bờ sông Thu Bồn
thuộc huyện Duy Xuyên, Quảng Nam, nhà văn Chu Cẩm Phong đã xếp lại
cuốn nhật ký đang ghi dở dang và cầm súng chuẩn bị chiến đấu. Cuốn nhật
ký đã vĩnh viễn dừng lại ở dòng chữ “10 giờ, 2 chiếc phản lực đến thả bom
và bắn đạn 20 ly, sau đó quân bộ kéo sang” (ngày 27-4-1971). Đúng ba ngày
sau, anh đã hy sinh khi bị địch khui hầm. Anh và đồng đội đã anh dũng
chống trả quyết liệt đến viên đạn cuối cùng, cuốn nhật ký vẫn lặng lẽ nằm
yên trong ba lô, lẽ ra số phận của nó đã bị chôn vùi trong đất nếu không có
hai sĩ quan bên kia chiến tuyến đã lưu giữ nó trong suốt 4 năm trời để rồi
Nghệ trẻ, 15-5-2005) cũng đã coi những trang nhật ký anh viết trên đường
hành quân “không đơn thuần là một cuốn nhật ký riêng tư mà nó có giá trị
văn học đích thực”. Khi tiếp xúc với Nhật ký Đặng Thùy Trâm chắc hẳn ai
trong chúng ta sẽ hình dung ra đây là những dòng tâm sự của một tâm hồn
lãng mạn bởi chất trữ tình và bi tráng của nữ bác sĩ – chiến sĩ cảm nhận giữa
chiến trường về gian khổ trong chiến tranh. Nhà nghiên cứu Vương Trí
Nhàn đã nhận xét: “…Cuốn nhật ký có số phận kỳ lạ nhất; cuốn nhật ký mà
người con gái Hà Nội cương nghị, thủy chung, trong sáng đến thánh thiện đã
viết với bao buồn vui, cay đắng, đớn đau và nước mắt; cuốn nhật ký mà
người con gái 27 tuổi đã trút vào đó cả nỗi nhớ cháy bỏng khôn nguôi về gia
đình, về những ngõ phố của một Hà Nội yên ấm, cả cơn đau xé ruột khi mỗi
ngày trôi qua một đồng đội thân thương lại ngã xuống…”. Quả thực cuốn sổ
25
nhỏ bé đó phải có sức hút ghê gớm khiến cho Frederic Whitehurst gìn giữ
nó như một báu vật trong suốt 35 năm và đau đáu nỗi niềm đi tìm gia đình
của người con gái đó và khi trao tận tay họ cuốn sổ nhỏ này đã khiến anh
xúc động “bật khóc”. Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong hoàn toàn
mang đậm yếu tố văn chương vì chủ thể sáng tác vốn xuất thân là một nhà
văn thực thụ, trên đường làm nhiệm vụ của người nghệ sĩ – chiến sĩ trên mặt
trận văn hóa, những tâm sự, suy nghĩ của anh đã hiện lên trong từng trang
viết của cuốn nhật ký thực sự xúc động.
Như vậy, có thể nói ở mỗi cuốn nhật ký đều thể hiện những yếu tố,
đặc điểm nghệ thuật văn chương, đem đến giá trị văn học cho thể loại nhật
ký chiến tranh đặc biệt này.
Sự xuất hiện của hai cuốn nhật ký Nhật ký Đặng Thùy Trâm và Mãi
mãi tuổi hai mươi đã tạo tiếng vang lớn trong xã hội, sức lan tỏa của nó vượt
qua không gian, phạm vi lãnh thổ đất nước nhờ có sự giúp sức của các