Bài viết số 5 lớp 12
Dưới đây là 3 đề cơ bản trong SGK
Đề 1: Trong một bức thư luận bàn về văn chương, Nguyễn Văn Siêu có viết:
"Văn chương [...] có loại đáng thờ. Có loại ko đáng thờ. Loại đáng thờ là loại
chỉ chuyên chú ở văn chương. Loại ko đáng thờ là loại chuyên chú ở con
người". Hãy phát biểu ý kiến về quan niệm trên.
Đề 2: Buy_phông, nhà văn Pháp nổi tiếng, có viết: " Phong cách chính là
người". Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào?
Đề 3: Anh (chị) hãy bày tỏ quan điểm của mình về ý kiến của nhà văn Pháp La
Bơ-ruy-e:" Khi một tác phẩm nâng cao tinh thần ta lên và gợi cho ta những tình
cảm cao quý và can đảm, không cần tìm một nguyên tắc nào để đánh giá nó
nữa: đó là một cuốn sách hay và do một nghệ sĩ viết ra".
Đề 1:
Bài tham khảo 1:
Không đợi đến thế kỉ XX này con người mới có nhiều quan điểm về văn
chương mà ngay ở thế kỉ XiX, Nguyễn Văn Siêu, một danh sĩ thời Nguyễn đã
từng có ý kiến “Văn chương có loại đáng thờ và không đáng thờ. Loại không
đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là loại chuyên chú
ở con người”. Song nói như Lê Quý Đôn “Văn chương là của công thiên hạ, ý
kiến của mỗi người mỗi khác, phân tích thì đuợc chứkhông nên chê mắng”.
Cho nên, ý kiến của Nguyễn Văn Siêu đáng nên hiểu lại và hiểu như thế nào
cho đúng.
Nguyễn Văn Siêu là một văn sĩ có tài, là bạn thân của Cao Bá Quát từng được
người đời tôn thờ là “Thần Siêu, Thánh Quát”. Quan niệm của ông không phải
là một quan niệm dễ dãi, điều quan trọng là ta phải hiểu cho đúng ý nghĩa của
câu nói “Văn chương chuyên chú ởvăn chương”, “văn chương chuyên chú ở
con người” là như thế nào?
“Văn chương chuyên chú ở văn chương” là loại văn chương chỉ chăm chút gò
câu đẽo chữ, tìm những chữthật kêu, những điển tích cổ bí ẩn...nói chung đấy là
văn chương của anh là kia, là bầu trời bạt ngàn gió mới, là nắng ban mai hồng
tươi sắc ngói. Anh đóng cửa để làm nghệ thuật, đểđuổi bắt nghệ thuật khi nghệ
thuật của anh ở ngoài kia,ở ngoài thanh sắc trần gian đầy sôi động: Anh có biết
rằng :
Bài thơ anh làm chỉ một nửa mà thôi
Còn một nửa do mùa thu làm lấy
(Chế Lan Viên)
Văn chương chỉ biết lấy chủ nghĩa duy mĩ làm đích thì thử coi có đáng thờ
chăng? “Văn chương phải có quan hệ với đời” (Ngô Thi Sĩ ) và “ Cuộc đời là
nơi đi tới cũng là điểm khởi đầu của văn chương” (Tố Hữu). Nếu L. Tônxtôi vĩ
đại bởi kiệt tác “Chiến tranh và hoà bình” thì cũng chính là kết quả của những
lần ông xông pha nơi chiến trận tìm hiểu, ghi chép. Nếu “đóng cửa phòng văn
hì hục viết thì Chiến tranh và hoà bình nó có ra đời không? Nếu không gắn bó,
đau đời Nguyễn Du có một Đoạn trường tân thanh không?
Văn chương không thể là như thế, văn chương để người ta gần gũi và tôn kính
chứ không phải văn chương “hũ nút” mà người ta có thể “kính nhi viễn chí”.
Văn chương như vậy tuyệt đối là không đáng thờ. Khổng Tử đã từng dạy học
trò rằng “Từ đạt nhi dĩ hí” (nghĩa là : văn từ cần đạt mà thôi, dễ hiểu mà thôi)
điều quan trọng là cái “tâm” của người viết, nghĩa là thực tế, phải sống trong
cuộc đời. Quan niệm của Nguyễn Văn Siêu gần giống như những văn học hiện
thực Việt Nam vào giai đọn 1930-1945, lấy con người làm chủ thể sáng tạo,
ngòi bút hướng vào con người.
Cuộc đời cũ vốn cuồn cuộn sóng gió bão táp đau khổ ngày đêm cứ đổ dồn dập
vào con người, vào nhân loại , là “lương tâm của mọi thời đại” (Balzac). “Văn
phải chở đạo”, phải làm cho con người tốt hơn tự hoàn thiện hơn hay ít ra cũng
bắt gặp mình trong đó thì đấy mới là “văn đáng thờ”.
Bùi Huy Bích, học trò của Lê Quý Đôn đã viết những ý kiến thật xác đáng:
Tồn Chất thâm thuý hay thay.
Ý kiến của Nguyễn Văn Siêu đúng song nếu so sánh với quan điểm nghệ thuật
của Thạch Lam - Thế hệ hậu bối của “Thần Siêu” – thì có lẽ nhà văn trẻ này
phát biểu toàn diện hơn : “Đối với tôi văn chương không phải là một cách đem
đến cho người đọc sự thoát li hay sựquên, trái lại,văn chương là một thứ khi
giới thanh cao và đắc lực mà chúgn ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế
giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người đọc đựơc thêm trong sạch và
phong phú hơn”
Không phải ngẫu nhiên hay vô tình mà cụ Nguyễn Du viết:
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài
(Truyện Kiều)
Rõ ràng, thi sĩ Tiên Điền không hề phủ nhận chữ “tài”. Nhưng nếu coi văn học
là một cái cây thì chữ “tài” chỉ là lá cành mà chữ “tâm” kia mới là gốc là ngọn.
Cho nên nếu “văn chương” mà chỉ đơn thuần “chuyên chú ở con người” mà
không “chuyên chú ở văn chương” thì liệu có còn giá trị nữa không? Còn là
một bộ môn nghệ thuật nữa chăng?
Có văn chương nào lại không lấy con người làm đối tượng. M.Gorki đã khẳng
định : “Văn học là nhân loại”, ta phải hiểu rằng không thể tách rời văn chương
và con người cũng như tách rời nội dung và hình thức biểu đạt của nó. Đành
rằng người ta nói “tốt gỗ hơn tốt nước sơn” nhưng nếu cả gỗ và nước sơn đề tốt
thì sao? Lẽ dĩ nhiên là tốt hơn ! Cho nên nếu cái đẹp đích thực thì có chăng là ở
thế giới của con người, và vì vậy văn chương chân chính ( nghĩa là văn chương
của cái đẹp ) là văn chương luôn đi đến con người và thế giới con người. Văn
chương là nghệ thuật, tức là nó đi tìm kiếm, sáng tạo cái đẹp nhưng không thể
có một cái đẹp thuần tuý lung linh nào ngoài cái thế giới con người. Đề tài cái
đẹp văn chương không cần đâu xa lạ mà ở ngay những giản đơn bình thường
nhất. Thực ra, văn chương chuyên chúở văn chương và “văn chương chuyên
viết được một câi thơcó giá trị nào dù rất kiên tâm, rất dày công đẽo gọt ngôn
từ.
Bài tham khảo số 2:
Từ xa xưa, văn chương đã xuất hiện và phát triển song song với lịch sử xã hội
loài người. Trong kho tàng văn học nhân loại, có biết bao nhiêu kiệt tác mà giá
trị đã vượt qua giới hạn không gian, thời gian để trở thành bất hủ. Ấy thế nhưng
rất nhiều thế hệ cầm bút vẫn không nguôi trăn trở về ý nghĩa và giá trị đích
thực của văn chương.
Đầu thế kỉ XX, trên văn đàn nước ta diễn ra những cuộc tranh luận gay gắt giữa
các quan điểm khác nhau, thậm chí đối lập nhau về văn chương, tiêu biểu là hai
trường phái: Nghệ thuật vị nghệ thuật và Nghệ thuật vị nhân sinh. Tuy nhiên, từ
cuối thế kỉ XIX, danh sĩ Nguyễn Văn Siêu đã khẳng định: Văn chương… có
loại đáng thờ. Có loại không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên
chú ở văn chương. Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người. Nhận định
đúng đắn này rất gần gũi với quan điểm: Mục đích tối thượng của văn học là
phục vụ con người, phục vụ nhân sinh.
Thế nào là loại văn chương chỉ chuyên chủ ở văn chương? Đó là loại văn
chương chỉ chú trọng về mặt nghệ thuật, coi nghệ thuật là trên hết, thậm chí tôn
sùng nghệ thuật như một tôn giáo kì bí. Người cầm bút chỉ lo trau chuốt cho vẻ
đẹp hình thức của tác phẩm chứ không quan tâm tới nội dung tư tưởng có liên
quan đến vận mệnh con người và trách nhiệm của nhà văn, nhà thơ đối với xã
hội hay không.
Loại văn chương ấy thường chuộng hình thức xưa cũ cầu kì hoặc thiên về vẻ
đẹp hào nhoáng, bóng bẩy của ngôn từ; còn nội dung thì xa rời, thoát li hiện
thực… Những sáng tác như thế đều không chịu nổi thử thách nghiêm ngặt của
Và mượn cây đàn ngàn phím tôi ca
Vẻ đẹp u trầm, đắm đuối hay ngây thơ
Cũng như vẻ đẹp cao siêu, hùng tráng,
Của non nước, của thi văn, tư tưởng…
(Cây đàn muôn điệu)
Trong bài thơ trên, Thế Lữ cho rằng thi nhân, nghệ sĩ là những khách tình si
ham mô Cái Đẹp. Thiên chức duy nhất và cao cả nhất của nghệ sĩ là đi tìm Cái
Đẹp, phụng sự Cái Đẹp chứ không bận tâm đến những vấn đề thiết thực của
con người và xã hội, đến trách nhiệm công dân của bản thân họ. Thi sĩ muốn
được sống trên cõi tiên để xa lánh cuộc đời trần tục và coi đó là biểu hiện của
thái độ thoát li thực tại. Thơ văn ấy tuy đẹp, tuy hay nhưng nó xa lạ với dân tộc
đang phải sống đói khổ, tủi nhục dưới ách nô lệ của thực dân, phong kiến.
Cực đoan hơn nữa, một vài nhà thơ, nhà văn theo quan niệm văn chương chỉ
chuyên chú ở văn chương đã phủ nhận nội dung tư tưởng và giá trị nhân sinh
trong tác phẩm. Họ cho rằng sáng tác nghệ thuật không nên đề cập tới các vấn
đề liên quan tới chính trị, tư tưởng, đạo đức… và có như thế mới xứng đáng
được gọi là văn chương. Hoặc khẳng định thơ không cần phải có nội dung, ý
nghĩa cụ thể mà thơ là nghệ thuật của âm thanh, hình ảnh; thậm chí chỉ là ảo
thuật của ngôn từ mà thôi.
Sang giai đoạn cuối của trào lưu lãng mạn, các trường phái thơ bí hiểm, thơ
loạn, thơ điên… là biểu hiện cụ thể của quan niệm sai lệch nêu trên. Không ít
những sáng tác loại này đã bị dư luận phê bình, chỉ trích.
Còn thế nào là văn chương chuyên chú ở con người? Đó là loại văn chương
quan tâm trước hết đến số phận con người và cuộc sống, luôn hướng tới mục
đích phục vụ con người. Các nhà văn, nhà thơ theo quan điểm này cho rằng giá
trị của văn chương không phải chỉ ở chỗ dùng từ ngữ hay, hình ảnh đẹp, điển
tích điển cố cầu kì, nội dung dẫn dắt người đọc xa rời thực tế hoặc có ảo tưởng
về cuộc sống trước mắt…, mà là ở chỗ nó có ích cho cuộc đời nhiều hay ít, gần
sâu sắc, nhân đạo mà còn phải hay, phải đẹp. Vậy hai ý kiến này có mâu thuẫn
với nhau chăng?
Như trên đã nói, con người là trung tâm của cuộc sống mà văn chương lại là
tấm gương phản chiếu cuộc sống. Nếu văn chương không đề cập tới con người
thì nó sẽ không có giá trị; Mặt khác, giá trị nội dung và nghệ thuật của văn
chương luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Nội dung chi phối và lựa chọn hình
thức thể hiện. Do vậy mà không có nội dung thì cũng không thể có hình thức.
Xét cho cùng, chất lượng nghệ thuật của tác phẩm chủ yếu là ở chỗ nó đã thể
hiện nội dung tác phẩm như thế nào? Văn chương sáng tạo ra Cái Đẹp mà Cái
Đẹp lại chính là sự sống. Không có Cái Đẹp thuần túy, trừu tượng chẳng liên
quan gì đến cuộc sống muôn màu muôn vẻ. Phản ánh con người chính là cách
thức duy nhất để văn chương đến với Chân, Thiện, Mĩ của cuộc đời.
Một tác phẩm có giá trị lâu dài nghĩa là phải vừa hay, vừa đẹp. Nhà văn sáng
tạo ra nó phải thực sự có tài năng và tâm huyết. Cái tâm chính là tấm lòng là
tình người, tình đời của người cầm bút. Cái tâm mới là gốc rễ bền vững làm
nên mọi giá trị thực sự của văn chương chân chính.
Lòng thương yêu, cảm phục người nông dân yêu nước giúp nhà thơ Nguyễn
Đình Chiểu dựng nên một tượng đài hùng tráng về người nghĩa sĩ nông dân
trong lịch sử văn học Việt Nam. Sự đau xót chân thành trước số phận bi thảm
của con người lương thiện; thái độ bất bình, căm phẫn xã hội phong kiến thối
nát, bất công là cơ sở để thi hào Nguyễn Du viết nên một Truyện Kiều bất hủ.
Nhà văn Nam Cao lạnh lùng, tỉnh táo phân tích cội nguồn mọi điều xấu, điều ác
đều xuất phát từ giai cấp thống trị đương thời. Đạo tục đen tối của xã hội đã
tước đoạt quyền sống, quyền làm người và chà đạp lên danh dự, nhân phẩm.
Những tác phẩm như Đời thừa, Trăng sáng, Sống mòn, Vợ chồng A Phủ, Vợ
nhặt… và đặc biệt là Chí Phèo của Nam Cao là lời kêu cứu hãy bảo vệ con
người, hãy chặn đứng bàn tay tội ác tha hóa con người.
Mấy trăm năm qua, người đời vẫn rung động sâu xa trước tiếng than xé ruột:
+ Độc đáo về nghệ thuật thể hiện ở phương thức biểu hiện, ở việc lựa chọn các
thủ pháp nghệ thuật , tổ chức kết cấu, sử dụng ngôn ngữ….
- Điều thú vị khi đọc tác phẩm văn học là phát hiện được những nét độc đáo
trong phong cách của mỗi nhà văn.
Bài tham khảo
“Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay chỉ làm theo một vài
kiểu mẫu… Văn chương chỉ dung nạp những ai biết đào sâu suy nghĩ, khơi
những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”, với nhà văn Nam
Cao, ông đòi hỏi ở mỗi người cầm bút một sự sáng tạo riêng cho mình, để lại
cho văn học những gì là của riêng mình. Nhà văn Pháp Buy-phông thì quan
niệm “Phong cách chính là người”. Quan niệm này phải chăng xuất phát từ mối
quan hệ giữa nhà văn với những điều thuộc về riêng nhà văn đó?
Trong câu nói của Buy-phông, “Phong cách” là những nét độc đáo của riêng
mỗi nhà văn thể hiện trong văn học. Đó là “những nguồn chưa ai khơi” nhưng
nhà văn đó đã khơi tìm và hưởng được sự ngọt mát của nó. Cần hiểu rằng,
phong cách của nhà văn được thể hiện trên cả hai phương diện: nội dung và
nghệ thuật.
Trong nội dung, phong cách nhà văn in đậm trong quan niệm về cuộc sống con
người, việc lựa chọn đề tài, xây dựng chủđề, cách lí giải vấn đề về cuộc sống
con người… Có thể thấy rõ điều này ở nhiều nhà văn như Nguyễn Tuân, Nam
Cao, Hồ Chí Minh… Nguyễn Tuân thường nhìn mọi sự vật, sự việc dưới góc
độ của sự tài hoa. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhà văn tìm thấy sự
tài hoa của những nhà Nho hết thời trong những thú chơi tao nhã của họ: thả
thơ, uống trà, ngâm vịnh… Sau Cách mạng, nhà văn lại say mê với sự tài hoa
của những con người Việt Nam trong lao động, sản xuất… Nam Cao lại khác.
Trước Cách mạng, ông đau đáu với đề tài về những người nông dân Việt Nam
nô lệ bị tha hóa về tinh thần, nhân phẩm hay những nhà trí thức Việt Nam quằn
quại trong nỗi đau vì bị “áo cơm ghì sát đất”…
hay những người ôm mộng văn chương phải biết định hình cho mình một
phong cách riêng nổi bật. Đó phải là phong cách của riêng anh để người đọc
nhận ra đó là anh chứ không phải là người khác. Đến lượt mình, mỗi độc giả
cần là một người đọc thông minh biết tìm tòi, suy nghĩ phát hiện nét phong
cách riêng của mỗi nhà văn.
Bài viết số 6 lớp 12 đề 3: Anh (chị) hãy bày tỏ quan điểm của mình về ý
kiến của nhà văn Pháp La Bơ-ruy-e:" Khi một tác phẩm nâng cao tinh
thần ta lên và gợi cho ta những tình cảm cao quý và can đảm, không cần
tìm một nguyên tắc nào để đánh giá nó nữa: đó là một cuốn sách hay và do
một nghệ sĩ viết ra".
Bài tham khảo 1:
Giá trị của một tác phẩm văn học là lí do tồn tại của tác phẩm ấy đồng thời là
cơ sở để khẳng định tài năng và tâm huyết của người sáng tạo ra nó. Những
tiêu chuẩn nào thường được đưa ra để đánh giá giá trị của tác phẩm? Theo quan
niệm của nhà văn người Pháp La Bơ-ruy-e thì “Khi một tác phẩm nâng cao tinh
thần ta lên và gợi cho ta những tình cảm cao quý và can đảm, không cần tìm
một nguyên tắc nào đểđánh giá nó nữa: đó là một cuốn sách hay và do một
nghệ sĩ viết ra”. Vậy cần phải hiểu ý kiến này như thế nào?
hãy tham gia diễn đàn Văn học là sản phẩm nghệ thuật bằng ngôn từ phản ánh
hiện thực khách quan qua lăng kính chủ quan của tác giả. Khi đến với độc giả,
ở từng thời kì khác nhau lại có những cách tiếp nhận khác nhau. Nhưng có thể
nói, tất cả đều tựu trung ở những giá trị mà tác phẩm đó mang lại.
Đi vào tìm hiểu ý kiến của La Bơ-ruy-e trước hết cần phải hiểu thế nào là một
cuốn sách hay? Đây là một khái niệm cụ thể nhưng cũng được dùng với ý
nghĩa chỉ chung cho tất cả các sáng tác văn học nghệ thuật. Có người lấy sự
sáng tạo của người nghệ sĩ, lấy sự “phát minh về hình thức và khám phá về nội
dung” làm tiêu chí đểđánh giá một tác phẩm hay, hoàn thiện; Có người lại lấy
nội dung thể hiện cuộc sống, con người trong tác phẩm làm cơ sở xem xét tác
“Tham gia vào hoạt động văn chương cho dù là sáng tác hay thưởng thức,
người ta đều được “thanh lọc”, ít nhiều sẽ trở nên tốt hơn, nhân ái hơn. Trong
thế giới xô bồ ồn ã hiện nay, khi con người ta luôn bị lôi ra bên ngoài, bị cuốn
vào đám đông và bị nhu cầu vật chất cám dỗ dữ dội thì thi ca, văn chương lại
càng cần thiết” (Nguyễn Văn Hạnh – Ý nghĩa của văn chương).
Văn học dân gian Việt Nam từ xưa đến nay được biết đến như một kho tàng
văn hóa của dân tộc, một đời sống tinh thần vô cùng phong phú và đa dạng.
Ngay từ thời xưa ông ta đã dùng ca dao, dân ca, tục ngữ một cách phổ biến với
tư cách là những kinh nghiệm dân gian trong lao động sản xuất, trong đối nhân
xử thế, những lời than thân, những tình cảm yêu thương tình nghĩa. Chúng
không chỉ góp phần nâng cao tinh thần mà còn gợi và bồi
dưỡng cho ta những tình cảm yêu thương con người, yêu thương đồng loại.
Trước khó khăn vất vả tưởng chừng như có thể gục ngã, ca dao giúp con người
trở nên mạnh mẽ. Đó là câu chuyện của “Mười cái trứng” khi tất cả niềm hi
vọng, ước mơ của người nông dân dồn vào thứ tài sản quí giá ấy thì bảy quả bị
ung, ba quả nở ra ba con:
“Con diều tha
Con quạ bắt
Con mắt cắt xơi”
Người nông dân vẫn đầy lạc quan tin tưởng: “Còn da lông mục, còn chồi nảy
cây”. Mỗi chúng ta tự nhìn nhận lại mình từđó mà vững vàng, mạnh mẽ hơn
trước sóng gió cuộc đời.
Ca dao giáo dục quí trọng thành quả lao động vất vả mới có được:
“Aiơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần”
Cao dao còn là những bài ca ca ngợi tình nghĩa thủy chung thương yêu
giữa con người với nhau. Ta bắt gặp trong đó tình yêu mãnh liệt nhưng cũng
thật tế nhị:
tình cảm con người tốt đẹp: sự đồng cảm, trân trọng, xót thương…
“Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”
Truyện “Lục Vân Tiên” (Nguyễn Đình Chiểu) xây dựng hai hình tượng nhân
vật đẹp, lí tưởng là Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga. Tình yêu thủy chung
son sắt của Nguyệt Nga một lần nữa bổ sung thêm vào thế giới hình tượng đẹp
về người phụ nữ. Còn đức tính hào hiệp “giữa đường thấy chuyện bất bình
chẳng tha” của Vân Tiên cũng là một điều đáng cho chúng ta học tập.
Với những tác phẩm như vậy, các nhà thơ trung đại như Nguyễn Du, Nguyễn
Trãi, Nguyễn Đình Chiểu… xứng đáng là những nghệ sĩ lớn. Bước sang thời kì
hiện đại, văn học không chỉ bó mình trong những
khuôn mẫu có sẵn mà ngày càng mở rộng và trở nên gần gũi hơn với cuộc sống
con người nhưng không vì thế mà làm giảm đi tính giáo dục, thẩm mĩ. Tô Hoài
đi vào khai thác thế giới loài vật với những dế mèn, dế chũi, chị bồ nông, anh
xén tóc, vợ chồng nhà chuột… gửi gắm sau đó bài học sâu sắc về cách đối
nhân xử thế giữa con người với nhau, bài học về tình đoàn kết, tinh thần yêu
thương đồng loại. Cuộc phiêu lưu của Dế Mèn là một cuộc hành trình vươn tới
hoàn thiện mình cả trong suy nghĩ và trong tình cảm, lối sống.
“Mùa lạc” (Nguyễn Khải) là câu chuyện thay đổi cuộc đời con người trong
cuộc sống lao động mới. Đào, một người phụ nữ kém may mắn, chịu nhiều bất
hạnh cuối cùng cũng tìm thấy hạnh phúc của mình trên mảnh đất Điện Biên. Từ
chao chát, chỏng lỏn chị trở thành một con người hoàn toàn khác. Chị chỉ mỉm
cười bao dung trước những câu đùa của mọi người, bởi vì giờ đây họ đã trở
thành những người “nhà trai, nhà gái” của chị. Ta hiểu thêm rằng trong mọi
hoàn cảnh, nghị lực sẽ giúp chúng ta vượt qua tất cả.
“Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu) mang đến cho người đọc thông
điệp về cái đẹp đích thực. Nghệ thuật không chỉ là khám phá sự vật ở cái bề
ngoài mà phải nhìn thấy được cái hiện thực bộn bề nằm ở bề sâu. Đó là chất
Bơ-ruy-e, nó đã “nâng cao tinh thần ta lên, gợi cho ta những tình cảm cao quí
và can đảm…”
Bài tham khảo 2:
Ý kiến của nhà văn Pháp có thể hiểu như sau: Một tác phẩm có giá trị và thật
sự hay khi nó khiến cho tâm hồn và tinh thần con người thêm cao đẹp, trau dồi
những phẩm chất có sẵn và xây dựng những phẩm chất chưa có, cũng như khơi
nguồn những gì tốt đẹp nhất trong tận sâu con người ta. Ý kiến của ông cũng
được nhiều nhà văn đồng tình,vậy hãy cùng tìm hiểu về sự đồng tình đồng ý
đồng chí này nhé!
"Văn chương vừa có thế thay đổi một thế giới tàn ác, vừa làm cho lòng người
trong sạch hơn"(Thạch Lam). Văn chương có 3 chức năng, một trong các chức
năng đó là chức năng nhận thức. Một tác phẩm hay sẽ là một tác phẩm giúp
con người ta nhận thức được bản thân, nhìn nhận qua góc nhìn của tác giả tác
phẩm hoặc chính các nhân vật trong tác phẩm. Từ việc nhận thức dẫn đến sự
thay đổi trong cách sống, cách đối nhân xử thế và dĩ nhiên, hoàn thiện bản thân.
Chức năng thứ hai chính là giáo dục, bất kì một tác phẩm nào cũng hướng tới
mục đích giáo dục con người, và vì thế M.Gorki mới nói "văn học là nhân học".
Cũng như La Bury-e nói vậy "một tác phẩm nâng cao tinh thần ta lên và gợi
cho ta những tình cảm cao quý và can đảm ...đó là một cuốn sách hay". Dĩ
nhiên, ông cũng muốn nói đến giá trị của một tác phẩm và thứ làm nên giá trị
của nó, đó chính là nội dung và hình thức, cũng như tấm lòng của tác giả đã
khơi gợi trong lòng người đọc một sự đồng cảm sâu sắc, nếu làm được vậy thì
đích thực là 1 tác phẩm hay. Tác phẩm văn học thực sự có giá trị khj nó hoàn
mỹ về nội dung và nghệ thuật,và thực hiện đầy đủ các chức năng của nó, đó là
"nâng cao tinh thần" và "thanh lọc tâm hồn".
Nam Cao cũng có viết "một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất các
bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa
đựng một cái gì đó lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca
Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình… Nó làm cho người gần
người hơn. Nhà văn phải ỉà những người nghệ sĩ vừa có tâm vừa có tài, trong
sáng tác phải tạo cho mình một phong cách riêng, một dấu ấn riêng không thể
lẫn với bất cứ ai khác; vì: Văn chương không cần đến những người thợ khéo
tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những
người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo
những cái gì chưa có (Nam Cao).
Chúng ta có thể lấy một số tác phẩm kinh điển của các nhà văn nổi tiếng thế
giới để chứng minh và khẳng định ý kiến của La Bơ-ruy-e là đúng.
Bộ tiểu thuyết Những người khốn khổ của Vích-to Huy-gô là bài ca tuyệt vời
về tình thương yêu con người, về đức vị tha, hi sinh đến quên mình. Nhân vật
Giăng Van-giăng là “nhân vật tư tưởng” tiêu biểu cho chủ nghĩa nhân đạo của
nhà văn. Người thợ làm vườn nghèo khổ này vì thương đàn cháu mồ côi nheo
nhóc, đói khát nên đã liều đập vỡ cửa kính tiệm bán bánh mì để lấy cắp một ổ
bánh. Bị kết án khổ sai, Giăng Van-giăng mấy lần tìm cách vượt ngục nhưng
không thành nên thời gian ngồi tù cứ kéo dài ra mãi. Sau khi được trả tự do, vì
hoàn cảnh ngặt nghèo, Giăng Van-giăng lại phạm tội cướp đồng xu của một
đứa trẻ và lấy cắp bộ đồ ăn bằng bạc của giám mục Mi-ri-en. Sự độ lượng và
lòng bác ái của vị giám mục nhân từ đã cứu Giăng Van-giăng thoát vòng lao lí
và nó tác động rất lớn tới tư tưởng, tình cảm của con người tội nghiệp này. Nó
đóng vai trò quyết định trong việc thay đổi cuộc sống và tính cách của Giăng
Van-giăng.
Đoạn trích Người cầm quyền khôi phục uy quyền tiêu biểu cho phong cách
nghệ thuật của Vích-to Huy-gô và mang dấu ấn đặc trưng của chủ nghĩa lãng
mạn trong văn chương Pháp thế kỉ XIX. Nội dung đoạn trích phản ánh sự đối
lập giữa cái ác và cái thiện, giữa bạo lực cường quyền và nạn nhân của nó. Qua
đó, nhà văn phê phán cường quyền, khơi dậy mối đồng cảm với những người
khốn khổ và khẳng định lí tưởng nhân đạo tốt đẹp.
và hai con gái nhỏ bị trúng bom của phát xít; con trai lớn của anh cũng là một
chiến sĩ Hồng quân đã trúng đạn ngã xuống tại cửa ngõ Béc-lin ngay trong
ngày chiến thắng. Đất nước đã hòa bình nhưng Xô-cô-lốp không thể sống yên
ổn bởi anh mang trong tim một nỗi đau vô hạn. Anh nhận chú bé mồ côi
Va-ni-a làm con nuôi và từ đó cuộc sống của anh thay đổi hẳn. Tuy vất vả, cực
nhọc nhưng Xô-cô-lốp thấy lòng vui trở lại, thấy cuộc đời là đáng yêu, đáng
sống. Tình yêu thương quả là một sức mạnh thần kì giúp con người vượt qua
nghịch cảnh, chiến thắng sự nghiệt ngã của số phận. Nhân vật Xô-cô-lốp là
hiện thân của tính cách Nga kiên cường, dũng cảm và giàu lòng nhân ái. Bằng
hình tượng nhân vật điển hình này, nhà văn Sô-lô-khốp đã đề cập tới một vấn
đề trọng đại từng ám ảnh bao nghệ sĩ lớn, đó là vấn đề số phận con người. Một
khái niệm trừu tượng đã được nhà văn cụ thể hóa thông qua cuộc đời của một
nhân vật với nhiều đau khổ, mất mát; để rồi với ý chí, nghị lực phi thường và
lòng nhân ái sâu sắc, nhân vật đã vượt qua tất cả để chiến thắng số phận bất
hạnh. Đọc truyện ngắn Số phận con người của Sô-lô-khốp, người đọc nhận
thức được rất nhiều điều và cũng học được nhiều bài học nhân sinh bổ ích từ
nhân vật Xô-cô-lốp. Đó là thành công của tác phẩm, là vinh dự lớn lao của
người nghệ sĩ.
Trong tiểu thuyết ông già và biển cả của nhà văn Mĩ Hê-minh-uê, hình ảnh ông
lão đánh cá đơn độc dũng cảm săn đuổi con cá lớn nhất đời mình là một biểu
tượng về vẻ đẹp của ước mơ và hành trình gian khổ của con người để biến ước
mơ thành hiện thực. Tác phẩm này là một bài học thiết thực và bổ ích về khát
vọng, ý chí và nghị lực của con người. Nhà văn đặt nhân vật vào một tình
huống đặc biệt là chỉ có một mình giữa biển khơi bao la đầy bất trắc ; một mình
săn đuổi, đánh bắt con cá kiếm khổng lồ và một mình đương đầu với đàn cá
mập hung dữ để bảo vệ thành quả lao động, ông lão đánh cá Xan-ti-a-gô suốt
đời làm lụng vất vả, cực nhọc nhưng không nguôi mơ ước một ngày nào đó sẽ
đánh bắt được một con cá thật to để thỏa mãn ước mơ và khẳng định tài năng