MỤC LỤC
Contents
Thực trạng sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng Việt Nam
TÌM HIỂU VỀ THỰC TRẠNG SỞ HỮU
CHÉO TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
VIỆT NAM
I. KHUNG PHÁP LÝ.
Ảnh minh hoạ
1. Thông tư 36 quy định:
- Một ngân hàng thương mại (NHTM) chỉ được nắm giữ cổ phiếu của tối đa
không quá hai tổ chức tín dụng (TCTD) khác (trừ trường hợp TCTD khác là
công ty con của ngân hàng đó) đồng thời lượng cổ phần được nắm giữ tối đa
này phải dưới 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết của TCTD đó (trừ trường
hợp TCTD là công ty con của ngân hàng hoặc NHTM tham gia tái cơ cấu, xử
lý TCTD yếu kém theo chỉ định của Ngân hàng Nhà nước - NHNN).
2. Nghị định 96/2015/NĐ –CP đã có các quy định:
- Công ty con không được đầu tư góp vốn, mua cổ phần của công ty mẹ. Các
công ty con của cùng một công ty mẹ không được cùng nhau góp vốn, mua cổ
phần để sở hữu chéo lẫn nhau.
- Các công ty con có cùng một công ty mẹ là doanh nghiệp có sở hữu ít nhất
65% vốn nhà nước không được cùng nhau góp vốn thành lập doanh
nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
2
tích cực mang lại thì trong bối cảnh hiện nay, sở hữu chéo là một trong những
nguyên nhân quan trọng có thể dẫn đến các tác động tiêu cực cho hệ thống
ngân hàng như cho vay theo quan hệ, thu xếp vốn cho những dự án đầu tư chưa
minh bạch, hoặc phục vụ mục đích thâu tóm ngân hàng. Từ thực tiễn hoạt động
của hệ thống tài chính Việt Nam cho thấy, hệ thống các TCTD Việt Nam hiện
có 6 nhóm sở hữu chéo khác nhau: Nhóm 1 là sở hữu của các ngân hàng trong
nước và nước ngoài tại các ngân hàng liên doanh; Nhóm 2 là cổ đông chiến
lược nước ngoài tại các ngân hàng thương mại (NHTM) trong nước; Nhóm 3 là
cổ đông tại các ngân hàng là các công ty quản lý quỹ; Nhóm 4 là sở hữu của
các ngân hàng thương mại nhà nước tại các MHTM cổ phần; Nhóm 5 là sở hữu
lẫn nhau giữa các NHTM cổ phần; Nhóm 6 là sở hữu ngân hàng cổ phần bởi
các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và tư nhân (1). Trong khuôn khổ bài viết
này chúng tôi sẽ không đi sâu vào hệ thống các vấn đề lý luận cơ sở của hiện
tượng sở hữu chéo mà chủ yếu tập trung phân tích các tác động của sở hữu
chéo đến hoạt động của hệ thống TCTD Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất một
số các kiến nghị nhằm hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực của sở hữu chéo.
3
Thực trạng sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng Việt Nam
-
Trước hết, chúng ta cần nhìn nhận sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng là
một thuộc tính khách quan và đã tồn tại từ lâu ở nhiều nền kinh tế trên thế giới,
đặc biệt ở các quốc gia mà hệ thống tài chính phát triển dựa trên hoạt động
ngân hàng (bank-based), điển hình là Đức và Nhật. Bằng chứng của Đức và
Nhật đã cho thấy sở hữu chéo giữa ngân hàng và doanh nghiệp là yếu tố quan
trọng thúc đẩy sự thành công của quá trình công nghiệp hóa ở cả 2 quốc gia
này. Trong khi đó, mối quan hệ sở hữu chéo giữa ngân hàng và doanh nghiệp
một chiến lược quản trị doanh nghiệp. Các nghiên cứu thường tập trung nhiều
ở các quốc gia có mức độ sở hữu chéo cao như: Nhật Bản (phương Đông) và
Đức (phương Tây).
-
Sở hữu chéo được hiểu là mối quan hệ giữa giữa hai hay nhiều chủ thể kinh tế
trong đó các chủ thể kinh tế có quan hệ sở hữu lẫn nhau.
-
Và tuỳ vào bối cảnh,sở hữu chéo rất đa dạng khi kết hợp mọi thành phần kinh
tế:ngân hàng-doanh nghiệp sản xuất-công ty bảo hiểm-các quỹ đầu tư…Nhưng
trong các mối quan hệ chẳng chịt đó,mối quan hệ giữa Ngân Hàng với doanh
nghiệp là đặc biệt hơn cả.
2.2. Phân loại
Ba nhóm sở hữu chéo đầu tiên có tính tích cực vì chủ yếu hướng đến việc tăng
cường thúc đẩy hoạt động thương mại giữa Việt Nam và quố ctế, góp phần
nâng cao năng lực quản trị vốn hiệu quả của các TCTD.
- Trong khi đó, 3 nhóm còn lại có thể tiềm ẩn những nguy cơ xấu cho tính ổn
định của hệ thống ngân hàng.
Ba nhóm tích cực:
• Sở hữu của các ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại
nước ngoài tại các ngân hàng liên doanh (NHLD).
• Cổ đông chiến lược nước ngoài tại các ngân hàng thương mại
• Cổ đông tại các ngân hàng thương mại là các công ty quản lý quỹ
Ba nhóm tiêu cực:
• Sở hữu của các ngân hàng thương mại nhà nước tại các ngân hàng thương
mại cổ phần
6
Thực trạng sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng Việt Nam
-
-
-
các TCTD. Trong khi đó, 3 nhóm còn lại có thể tiềm ẩn những nguy cơ xấu
cho tính ổn định của hệ thống ngân hàng.
Nhìn chung, thực trạng sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng Việt Nam như
tỷ lệ nắm giữ giữa các tổ chức, vai trò của các cổ đông và công tác giám sát
vai trò này là những vấn đề hết sức phức tạp bởi quan hệ chồng chéo mang
tính lịch sử, đồng thời cũng mang tính biến động cao, kết hợpvới nguồn thông
tin hạn chế. Trước hết, rất nhiều công ty lớn, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế
Nhà nước và các tập đoàn cổ phần, dù không thuộc lĩnh vực tài chính nhưng
hiện đang đầu tư dài hạn với vai trò nhà sáng lập, nhà đầu tư chiến lược trong
các NHTM. Theo báo cáo của Ủy ban Kinh tế Quốchội, hiện tại có khoảng
gần 40 các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân có sở hữu trên 5% tại
cácNHTMCP.
Đối với hình thức sở hữu chéo giữa các ngân hàng với nhau, Vietcombank
hiện là TCTD sở hữu nhiều nhất cổ phần của những ngân hàng khác. Sau khi
thoái vốn khỏi NHTMCP Gia Định (tên mới làBản Việt), Vietcombank đang
còn là cổ đông của SaigonBank, Eximbank, Quân đội, Phương Đông và
Oceanbank với các tỷ lệ nắm giữ khác nhau. Theo thống kê, có khoảng 8
NHTMCP có quan hệ cổ phầnvới 4 NHTMNN. Quan hệ sở hữu này hình
thành chủ yếu từ những hạn chế nghiệp vụ ngân hàng củacác NHTMCP trong
Thực trạng sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng Việt Nam
nhau,cổ đông tại các ngân hàng thương mại là các công ty quản lý quỹ đầu tư
vốn vào những ngân hàng khác có tiềm năng.Hiện không ít tập đoàn,tổng công
ty nhà nước và tư nhân cũng đang đầu tư,sở hữu chéo khi trong tay họ có
nhiều ngân hàng.
-
Sở hữu của các ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương
mại nước ngoài tại các ngân hàng liên doanh (NHLD):Hiện tại có 6 ngân
hàng lien doanh trong hệ thống các tài chính doanh nghiệp của Việt Nam.
Thông thường một ngân hàng lien doanh được sở hữu bởi một ngân hàng
nước ngoài và một ngân hàng trong nước. Chẳng hạn ngân hàngViệt Thái là
ngân hàng lien doanh giữa 3 đối tác lớn: NH Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Việt Nam (NHNo&PTNT), NHTM Siam của Thái Lan và Tập đoàn
Charoen Pokphand (CP) của Thái Lan với tỷ lệ vốn góp tương ứng là 34%,
33% và 33%; NH Việt Nga là liên doanh giữa NH Đầu tư và Phát triển Việt
Nam (BIDV) và NH VTB (trước là NH Ngoại thương Nga Vneshtorgbank)
với mức góp vốn điều lệ ngang nhau.
-
Cổ đông chiến lược nước ngoài tại các ngân hàng thương mại, cả nhà nước
lẫn cổ phần: đứng trước nhu cầu thu hút vốn và kỹ năng quản trị từ các 158
định chế tài chính có kinh nghiệm nước ngoài, Ngân hàng nhà nước đã có chủ
trương khuyến khích các ngân hàng thương mại trong nước tìm kiếm các đối
tác nước ngoài làm cổ đông chiến lược. Đến nay, có khoảng 10 ngân hàng
thương mại có đối tác chiến lược là các tập đoàn tài chính nước ngoài.
-
-
được sở hữu bởi Agribank, trong khi đó Maritime Bank lại đang sở hữu MB và
Ngân hàng Phát triển Mê Kông (MDB.
Sở hữu lẫn nhau giữa các ngân hàng thương mại cổ phần: Hiện tượng sở
hữu lẫn nhau giữa các ngân hàng thương mại cổ phần cũng khá phổ biến ở
Việt Nam hiện nay. Từ những thông tin công bố của các ngân hàng, hiện có ít
nhất 6 ngân hàng thương mại cổ phần có cổ đông là một ngân hàng thương
mại cổ phần khác.Chẳng hạn như ACB đang sở hữu Eximbank ,6,1%
Kienlongbank(ACBS nắm giữ),10% Đại Á Bank và VietBank,Eximbank hiện
sở hữu 10,6 % cổ phần tại Sacombank,8,5% tại ngân hàng Việt Á.Điều này
cho thấy một hiện tượng sở hữu chồng chéo lẫn nhau giữa các ngân hàng
thương mại,tạo nên tháp ngân hàng mà nguy cơ của nó có thể dẫn đến sự đổ
vỡ của toàn hệ thống nếu không được quản lí chặt chẽ.
Sở hữu ngân hàng thương mại cổ phần bởi các tập đoàn, tổng công ty nhà
nước và tư nhân: Trong giai đoạn bùng nổ các ngân hàng thương mại cổ phần
và quỹ đầu tư tài chính, rất nhiều tập đoàn và tổng công ty nhà nước đã tham
gia góp vốn hình thành các tài chính doanh nghiệp này.
Hiện nay-giai đoạn bùng nổ các NHTM cổ phần và quỹ đầu tư tài chính, rất
nhiều tập đoàn và tổng công ty nhà nước đã tham gia góp vốn hình thành các
tổ chức tín dụng này. Mới đây Ủy ban Kinh tế đã điểm mặt 40 tập đoàn, tổng
công ty nhà nước và tư nhân đổ vốn vào các ngân hàng thương mại với cổ
phần trên 5%. Nhìn vào các bản báo cáo cơ cấu cổ đông của các NHTMCP ở
VN, có thể thấy khá đầy đủ các gương mặt từ các tổng công ty đến các tập
đoàn DNNN bỏ vốn đầu tư vào các NH. Có thể điểm mặt được các tập đoàn
lớn đang mạnh tay chi tiền trái ngành như: Tập đoàn Bảo Việt sở hữu
BaoVietBank; TCông ty Petrolimex đầu tư vào PG Bank; Tập đoàn Viettel thì
sở hữu NH Quân đội (MBB); PVN bỏ vốn vào OceanBank, NH Dầu khí Toàn
cầu; Tập đoàn Dệt - May VN (Vinatex) đầu tư vào NH Nam Việt; Tập đoàn
Mục đích của các mối quan hệ sở hữu chéo này có thể là:
+ Đầu tư ngắn hạn, kiếm lời nhanh khi thị trường bất động sản, thị trường
chứng khoán đang sốt, nóng. Mục đích này rõ nhất trước năm 2008
+ Tăng quy mô tài sản ảo trước yêu cầu tăng vốn điều lệ của Ngân hàng Nhà
nước, “bơm” vốn giá rẻ cho các công ty (sân sau) của ngân hàng hay cá
nhân các ông/bà chủ ngân hàng.
+ Góp phần làm sạch bản báo cáo tài chính (xóa nợ xấu bằng việc biến nợ
thành vốn góp)
Thành lập các liên minh chiến lược trên cơ sở sở hữu vốn thông qua hoạt
động NH đầu tư; hoặc thôn tính ngân hàng khác thông qua việc mua lại,
hợp nhất và không loại trừ mục đích lũng đoạn thị trường
10
Thực trạng sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng Việt Nam
3.1. Tái cơ cấu TCDN giai đoạn 2016-2020:Mạnh tay với sở hữu chéo.
Ảnh minh hoạ
Vẫn nan giải thoái vốn:
-
-
-
-
-
và một công ty tài chính. Tuy nhiên đến thời điểm này, Vietcombank cũng sẽ
phải sớm đưa ra lựa chọn 1 trong 4 TCTD còn lại (ngoài MB) để giữ lại cổ
phần sở hữu.
Tháng 6/2016 vừa qua, VietinBank cũng mới thoái bớt vốn khỏi Saigonbank
(từ 10,39% xuống 4,91%), đồng thời quyết định thoái vốn tại CTCP Cảng Sài
Gòn và CTCP Cảng Hải Phòng. Trước đó, tháng 4/2016, MobiFone đăng ký
bán toàn bộ cổ phần nắm giữ tại SeABank và TPBank. Nhưng kém may mắn
là không có nhà đầu tư nào mặn mà mua cổ phần SeABank; TPBank dù “khá
khẩm” hơn nhưng cũng chỉ thu hút được 6 nhà đầu tư đăng ký mua 8,7 triệu cổ
phần. VNPT cũng là đơn vị viễn thông chưa thoái vốn khỏi Maritime Bank...
Có nhiều khó khăn dẫn tới việc các NH gặp trở ngại trong việc xử lý dứt điểm
sở hữu chéo. Một trong số đó liên quan tới vấn đề định giá lại giá trị của cổ
phiếu. “Sau thời gian đầu tư thì việc định giá lại sẽ như thế nào? Làm sao tìm
được đối tác để sang nhượng lại theo hình thức riêng lẻ, hay dưới hình thức
bán ra trên các sàn UpCOM, HNX, HoSE... là chuyện mà các NH phải đau
đầu tính toán”, ông Tín cho biết.
Trên thực tế, giá ở thời điểm đầu tư thường cao hơn, bây giờ đem ra bán trong
khi giá cổ phiếu giảm sẽ khiến NH chịu lỗ. Nhưng vị chuyên gia này cũng hy
vọng hoạt động NH đang cải thiện đáng kể sẽ giúp cổ phiếu NH bớt ảm đạm,
việc thoái vốn cũng sẽ nhanh hơn và ít chịu thiệt. Bởi cũng có không ít trường
hợp thoái được vốn sau khi tiến hành sáp nhập hoặc mua lại các CTTC, như
Techcombank mua lại Công ty tài chính cổ phần Hoá chất, SHB mua Công ty
tài chính Vinaconex Viettel...
Khung khổ pháp lý là ưu tiên hàng đầu:
-
NHTM tham gia tái cơ cấu, xử lý TCTD yếu kém theo chỉ định của Ngân hàng
Nhà nước - NHNN).
Theo lộ trình, các NHTM đang sở hữu cổ phần tại hơn hai tổ chức tín dụng
khác hoặc nắm giữ trên 5% vốn cổ phần của các TCTD đó phải tính đến việc
thoái vốn trong vòng một năm kể từ khi Thông tư 36 có hiệu lực (ngày 1-22015). Tuy vậy, tính đến nay đã quá thời hạn trên ba tháng nhưng ma trận sở
hữu chéo trong hệ thống ngân hàng vẫn còn rất phức tạp.
Bốn ngân hàng lớn có sở hữu nhà nước chiếm đa số là Agribank, BIDV,
VietinBank, Vietcombank đều đang có hoạt động đầu tư tại nhiều ngân hàng
có quy mô nhỏ khác. Cụ thể, Agribank sở hữu vốn trực tiếp tại Liên Việt Post
Bank, Trust Bank và thông qua công ty con là Chứng khoán Agribank sở hữu
cổ phần tại HD Bank, HD Bank lại sở hữu cổ phần tại ABBank. BIDV hiện
đang sở hữu 65% vốn tại ngân hàng liên doanh Lào - Việt, sở hữu 50% tại
ngân hàng liên doanh Việt - Nga, và 50% tại VID/Public Bank. VietinBank
bên cạnh việc sở hữu 50% Ngân hàng liên doanh Indovina cũng đang sở hữu
10,39% cổ phần SaigonBank.
Trong khi đó, Vietcombank hiện là ngân hàng nắm vốn tại các TCTD khác
nhiều nhất khi sở hữu cổ phần tại bốn ngân hàng và một công ty tài chính bao
gồm: 7,16% vốn tại MBB; 8,2% vốn tại EIB; 5,07% vốn tại Ngân hàng TMCP
Phương Đông (OCB); 4,3% vốn tại SaigonBank và 10,91% vốn tại Công ty
Tài chính Xi măng.
Kể từ đầu năm 2016 đến nay, thương vụ chuyển nhượng cổ phiếu ngân hàng
nhằm giảm sở hữu chéo được đánh giá thành công nhất thuộc về Maritime
Bank khi bán thành công 64,2 triệu cổ phiếu MBB (tương đương 4% vốn điều
lệ của ngân hàng này) cho nhóm nhà đầu tư nước ngoài thuộc quỹ Dragon
Capital vào ngày 19-2-2016. Nhờ thương vụ này, Maritime Bank thu về gần
1.000 tỉ đồng, đồng thời giảm tỷ lệ nắm giữ MBB xuống mức 4,96% (dưới
quy định 5% theo Thông tư 36).
của NHNN, đến năm 2020 toàn hệ thống sẽ thu hẹp chỉ còn từ 15-17 ngân
hàng thương mại với năng lực tài chính đủ mạnh, có thể cạnh tranh với ngân
hàng các nước trong khu vực.
Trên thực tế, trong bốn năm qua, đã có 17 TCTD, chi nhánh ngân hàng nước
ngoài được cắt giảm thông qua hoạt động M&A, rút giấy phép hay giải thể,
đưa số lượng các NHTM hiện giảm xuống chỉ còn khoảng 30 ngân hàng. Như
vậy, so với mục tiêu đề ra, trong vòng bốn năm nữa số ngân hàng cần phải
giảm xuống một nửa so với số lượng hiện nay.
Quay trở lại với mục tiêu nhằm đáp ứng yêu cầu của Thông tư 36, một số ngân
hàng cũng đã giảm tỷ lệ sở hữu đáng kể ở ngân hàng khác nhờ giải pháp tăng
vốn điều lệ.
Trước đây, Eximbank sở hữu hơn 9,73% vốn Sacombank, nhưng khi
SouthernBank sáp nhập vào Sacombank, vốn điều lệ được nâng lên thì tỷ lệ sở
hữu của Eximbank ở Sacombank giảm xuống còn 8,76%. Tuy nhiên, theo tài
liệu đại hội đồng cổ đông thường niên 2016 mới nhất thì tỷ lệ sở hữu của
Eximbank tại Sacombank hiện là 9,16%. Do đó, ngân hàng này sẽ vẫn phải
tiếp tục giảm tỷ lệ sở hữu tại Sacombank trong thời gian tới.
Một trường hợp khác là Ngân hàng Phương Đông (OCB) với kế hoạch tăng
vốn điều lệ từ 3.547 tỉ đồng lên 4.500 tỉ đồng. Nếu việc tăng vốn này được
thực hiện suôn sẻ, tỷ lệ sở hữu của Vietcombank ở OCB sẽ giảm từ mức
5,07% xuống còn xấp xỉ 4%. Saigonbank cũng đã được NHNN chấp thuận
cho tăng vốn điều lệ từ 3.080 tỉ đồng lên 4.080 tỉ đồng theo phương án phát
hành riêng lẻ. Nếu kế hoạch phát hành của Saigonbank thành công, tỷ lệ sở
hữu của hai cổ đông lớn là Vietcombank và VietinBank cũng sẽ giảm đáng kể.
Mặc dù các ngân hàng nhỏ đang rất nỗ lực tăng vốn để tránh nguy cơ phải sáp
nhập vào một ngân hàng khác hay giúp giảm tỷ lệ sở hữu của một số cổ đông
lớn nhưng trước diễn biến khó khăn của thị trường, kế hoạch này đang gặp
nhiều thách thức, nhất là trong bối cảnh lợi thế cạnh tranh của nhóm ngân
hàng này không thật sự nhiều. Trong khi đó, cơ chế mở room cho nhà đầu tư
nước ngoài trong ngành ngân hàng hiện vẫn gặp nhiều rào cản. Vì những lý do
của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Các trường hợp ngoại lệ được thực hiện khi việc mua, nắm giữ cổ phiếu nhằm
tái cơ cấu, hỗ trợ tài chính cho tổ chức tín dụng gặp khó khăn và được NHNN
chấp thuận, hoặc chỉ định theo quy định của pháp luật. Vì thế, theo lộ trình các
NHTM đang nắm tỷ lệ sở hữu cổ phần tại hơn 2 tổ chức tín dụng khác phải
tính đến việc thoái vốn trong 1 năm kể từ khi Thông tư 36 có hiệu lực (ngày
1/2/2015).
-
-
15
Thực trạng sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng Việt Nam
-
Tuy nhiên sau hơn một năm, các ngân hàng thương mại vẫn gặp khá nhiều khó
khăn khi thực hiện quy định tại Thông tư 36/2014/TT-NHNN về giảm sở hữu
chéo của các ngân hàng thương mại tại tổ chức tín dụng khác.
Những tín hiệu đáng mừng:
Cho đến gần đây, một số ngân hàng mới thực thi về việc thoái vốn. VietinBank
đã đem đấu giá gần 16,9 triệu cp Saigonbank để thực hiện thoái vốn tại
SaigonBank từ 10,39% xuống 4,91% vốn. Mặc dù giá khởi điểm đưa ra
10.800 đồng/cổ phần tuy nhiên đã có 10 cá nhân (không có tổ chức nào tham
gia) tranh nhau đặt mua với số lượng gấp 4 lần lượng cổ phần VietinBank bán
đấu giá công khai.
- Kết quả là, toàn bộ 16,875 triệu cổ phần đã được bán thành công cho 2 nhà
16
Thực trạng sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng Việt Nam
Như vậy, Vietcombank sẽ phải chọn 1 trong 4 TCTD trên ngoài MBB để giữ
lại cổ phần sở hữu và thoái vốn tại 3 TCTD còn lại.
Một cái tên khác là Eximbank. Mặc dù tổ chức 2 lần ĐHĐCĐ đều bất thành,
song trong nội dung thảo luận Eximbank cũng không đề cập đến việc sẽ thoái
8,76% vốn đang nắm giữ tại Sacombank. Cũng chính vì sở hữu chéo mà ngân
hàng này đang vấp phải những tranh cãi gay gắt về vấn đề nhân sự, về vị trí
những chiếc ghế lèo lái ngân hàng. Một trong hai nhóm cổ đông đề cử vào
chiếc ghế quản trị - đang nắm giữ trên 10% vốn tại Eximbank lại từng là lãnh
đạo chủ chốt của ngân hàng khác.
Đang phải đối mặt với những mâu thuẫn nội bộ, vì vậy mục tiêu giảm sở hữu
chéo của ngân hàng này tại Sacombank chắc chắn sẽ còn phải chờ đợi thêm.
Thực tế, vấn đề sở hữu chéo, đầu tư chéo có ở hầu hết các hệ thống tài chính,
hệ thống các TCTD trên thế giới với quy mô và độ phức tạp khác nhau. Ở Việt
Nam, sở hữu chéo, đầu tư chéo trong hệ thống TCTD là vấn đề có tính lịch sử,
gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực như làm gia tăng rủi ro hệ thống, tạo điều kiện
cho các hành vi chuyển vốn lòng vòng, tăng vốn điều lệ không thực chất…
Theo các chuyên gia ngân hàng, mặc dù quy mô sở hữu chéo trực tiếp tại Việt
Nam chưa lớn, nhưng có nhiều hình thức khác nhau khá phức tạp. Sở hữu
chéo cũng là một trong những vật cản trong tiến trình cơ cấu lại hệ thống
TCTD. Vì vậy, việc siết chặt sở hữu chéo để làm sạch hệ thống ngân hàng là
cần thiết. Và tất nhiên là phải cho các ngân hàng một lộ trình thoái vốn, song
cũng cần tiến hành kiên quyết, bởi càng để lâu, càng khó xử lý.
-
-
quá thời hạn phải hoàn thành, vẫn chưa có nhiều ngân hàng thực hiện đúng quy
định. Nguyên nhân của sự chậm trễ này là gì?Chuyên gia này cho biết:
- Vào tháng 2-2016, Ngân hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã công bố
báo cáo “Việt Nam 2035: Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân
chủ”. Báo cáo này nhận xét, tại Việt Nam, tình trạng sở hữu chéo vẫn còn
nghiêm trọng tại các ngân hàng tư nhân, giữa các ngân hàng với nhau và giữa
ngân hàng với doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp Nhà nước. Vì thế, trong buổi
làm việc với Ngân hàng Nhà nước vào tháng 4-2016, Phó Thủ tướng Chính
phủ Vương Đình Huệ đã chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước phải xử lý dứt điểm các
tổ chức tín dụng yếu kém và vấn đề sở hữu chéo.
- Thông tư của NHNN yêu cầu giảm tỷ lệ sở hữu của NHTM xuống 5% là điều
hợp lý để quyền lực được dàn trải ra. Vì trong hoạt động ngân hàng, một cổ
đông có lượng cổ phiếu khoảng 5% đã là rất lớn và với tỷ lệ này thì chỉ cần
khoảng 10 cổ đông hợp tác với nhau là có thể có tỷ lệ khống chế cả ngân hàng.
- Tuy nhiên, những quy định này chưa được thực hiện phần lớn là do ý thức của
các cổ đông. Bởi họ có cổ phần lớn, nhờ đó lợi dụng được vị thế để phát triển
kinh doanh, lợi dụng được cổ phần để gom quyền lực thì những cổ đông này
không muốn tước bỏ quyền lực của mình. Với nhiều người, việc nắm quyền
điều hành một ngân hàng là có một công cụ tài chính rất hữu hiệu để tài trợ
những dự án, doanh nghiệp của họ. Mặc dù có giới hạn về tín dụng, nhưng họ
vẫn có cách để vượt giới hạn đó. Do vậy, các cổ đông không muốn giảm tỷ lệ
sở hữu, loại bỏ sở hữu, nếu đã không muốn thì họ sẽ có cách để lách luật.
- Hơn nữa, hiện giá cổ phiếu của các ngân hàng đang ở mức dưới mệnh giá
10.000 VND/cổ phần nên các ngân hàng muốn ráo riết thoái vốn cũng khó
bán. Bên cạnh đó là các áp lực đến từ việc tái cơ cấu ngân hàng, nợ xấu và từ
các đợt thoái vốn đầu tư ngoài ngành của các công ty Nhà nước.
- Bên cạnh đó, nguyên nhân cũng có phần đến từ cơ quan Nhà nước. Cơ quan
Nhà nước không có biện pháp xử lý thật mạnh tay với những ngân hàng và
18
mỗi năm, các ngân hàng đều bị 3 cơ quan chủ quản thanh tra. Thứ nhất là cơ
quan chủ quan của tiểu bang, thứ hai là cơ quan chủ quản liên bang và cuối
cùng Công ty Bảo hiểm Quốc gia (FDIC). Dưới sự kiểm soát như thế, nếu cơ
quan này không phát hiện được thì cơ quan kia sẽ làm được, trong khi ở Việt
Nam hiện chỉ có mỗi NHNN đứng ra kiểm soát.
-Về tỷ lệ sở hữu, luật pháp Hoa Kỳ quy định tỷ lệ sở hữu của cá nhân không
vượt quá 10%, còn các tổ chức kinh tế không thể sở hữu quá 5%. Do ở Hoa
Kỳ quan niệm, các cá nhân không thể khuynh đảo một ngân hàng bằng các
doanh nghiệp. Những con số về tỷ lệ sở hữu ở Việt Nam cũng khá tương đồng
với Hoa Kỳ nên tôi hy vọng, mọi việc sẽ được thực hiện hiệu quả hơn trong
tương lai gần
19
Thực trạng sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng Việt Nam
III. NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN TÌNH TRẠNG SỞ HỮU CHÉO
TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM.
1. Nguyên nhân chủ quan.
- Kẽ hở pháp lý, chậm trễ trong việc ban hành các các văn bản quy phạm
pháp luật cần thiết.
+ Pháp lệnh về NH, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính năm 1990 chỉ
quy định: “TCTD chỉ được dùng vốn tự có và quỹ dự trữ để hùn vốn hoặc
mua cổ phần, nhưng không quá 10% vốn của công ty, xí nghiệp mà mình
hùn vốn hoặc mua cổ phần". Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 đề cập
chung chung về giới hạn góp vốn, mua cổ phần là: “Mức góp vốn, mua cổ
phần của TCTD trong một doanh nghiệp, tổng mức góp vốn, mua cổ phần
của TCTD trong tất cả các doanh nghiệp không được vượt quá mức tối đa
20
Thực trạng sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng Việt Nam
+ Với mục tiêu nâng cao năng lực tài chính, NHNN quy định, tới cuối năm
2010, các NH thương mại (NHTM) phải có vốn điều lệ tối thiểu 3.000 tỷ
đồng. Áp lực tăng vốn là cực kỳ khó khăn bởi các NH chủ yếu huy động
vốn qua việc phát hành cổ phiếu, bán cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài,
các quỹ đầu tư... Nhưng thị trường chứng khoán suốt từ năm 2008 đến nay
rơi vào tình trạng sụt giảm nên việc tăng vốn rơi vào bế tắc. Đó cũng chính
là lý do Chính phủ gia hạn thời gian tăng vốn đến cuối năm 2011 song
chứng khoán năm 2011 còn sụt giảm mạnh hơn, đặc biệt là tình trạng mất
thanh khoản kéo dài nên việc phát hành thêm, niêm yết hay kêu gọi sự tham
gia của cổ đông chiến lược trong và ngoài nước càng khó. Có thể nói, áp
lực tăng vốn cộng hưởng với tình hình huy động vốn gặp khó khăn buộc
các ông chủ nhà băng phải tìm cách xoay sở, một trong các cách đó là tăng
vốn thông qua sở hữu chéo để rồi kết quả đạt được là thành tích xuất sắc
tăng vốn lên 3.000 tỷ đồng của các NHTM. Chưa kể nhiều NH lớn, dù
không nằm trong nhóm phải chạy đua tăng vốn theo quy định cũng liên tục
công bố tăng vốn thêm từ một ngàn tới vài ngàn tỷ.
3. Các nhân tố khác
- Lách các quy định đảm bảo an toàn hoạt động do ngân hàng nhà nước ban
hành
- Rót vốn vào các doanh nghiệp sân sau một cách rõ ràng
- Giảm được mức nợ xấu phải khai báo và không phải trích dự phòng rủi ro
tương ứng
IV. TÁC ĐỘNG CỦA TÌNH TRẠNG SỞ HỮU CHÉO TRONG HỆ
-Giúp các ngân hàng tăng vốn đáp ứng theo yêu cầu của Chính phủ:
Theo nghị định 141/2006/NĐ-CP các NHTM hoạt độngtrong hệ thống ngân
hàng Việt Nam, phải đáp ứng yêu cầu tăng vốn đạt 1000 tỷ đồng năm 2008 và
3000 tỷ đồng vào năm 2010. Trong một thời gian ngắn việc phải huy động số
vốn lớn là không dễ dang đối với các NHTM. Sở hữu chéo giúp các Ngân
hàng giải quyết nhu cầu tăng vốn, đối phó với quy định của Chính phủ một
cách nhanh chóng và đơn giản. Đây cũng chính là một trong những nguyên
nhân gia tăng tình trạng sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng Việt Nam.
-Sở hữu chéo giúp các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận nguồn vốn từ các ngân
hàng:
Một lợi ích nữa phải kể tới đó là việc sở hữu chéo giữa các ngân hàng và tập
đoàn, tổng công ty sẽ tạo điều kiện để cho các doanh nghiệp, công ty con của
những tập đoàn sở hữu các ngân hàng này có thể dễ dàng vay được vốn từ
ngân hàng kia khi mà cả hai ngân hàng cùng thuộc sở hữu của một chủ thể.
2. Mặt tiêu cực
- Thứ nhất, nguồn lực và khả năng chống đỡ rủi ro của ngân hàng không được
đánh giáđúng mức. Sở hữu chéo đã cho phép nhiều ngân hàng với quy mô vốn
điều lệ nhỏ lách được quyđịnh của Nghị định 141/2006/ NĐ-CP về mức vốn
pháp định của các TCTD. Thôngqua sở hữu chéo, cổ đông của ngân hàng A có
thể vay tiền ngân hàng B thông qua một công ty đầutư tài chính của mình để
góp vốn vào ngân hàng A và ngược lại hoặc là ngân hàng A đầu tư vào
ngânhàng B, ngân hàng B đầu tư vào ngân hàng C và ngân hàng C lại quay lại
đầu tư vào ngân hàng A.Chính điều này đã tạo ra luồng vốn tưởng là góp thật
vào hệ thống nhưng thực chất lại là vốn vay lẫnnhau giữa các ngân hàng.
Trong 4 năm qua, hàng loạt các NHTMCP đã nâng vốn điều lệ lên 3.000
tỷđồng. Nhưng trên thực tế, quy mô của dòng vốn mới thực sự được bổ sung
vào hệ thống ngân hàng vẫn chưa được làm rõ. Với quy mô vốn điều lệ tăng,
các ngân hàng được phép huy động thêm tiền gửitrong dân cư và hàng nghìn
tỷ đồng vốn huy động mới này lại có thể được dùng để tài trợ cho nhữngdự án
sân sau của chính các cổ đông lớn của ngân hàng. Ngoài ra, sở hữu chéo làm
mình. Hay nói các khác, khi một TCTD lớn chiếm cổ phần chi phối ngân hàng
khácvà biến ngân hàng này thành “sân sau” của mình, họ có thể buộc ngân
hàng bị chi phối cấptín dụng cho những dự án rủi ro hoặc cho doanh nghiệp có
quan hệ thân thiết. Mặc dù theoquy định thì các ngân hàng không được cho
các cổ đông của mình vay vốn, nhưng các ngânhàng có thể lách quy định này
bằng cách cho các công ty con của các doanh nghiệp vay vốn.Mặt khác, không
loại trừ trường hợp lãnh đạo của ngân hàng chi phối lạm dụng quyền lựcbuộc
ngân hàng mà mình có thể chi phối cấp tín dụng để phục vụ lợi ích cá nhân.
Thứ ba, các quy định về giới hạn tín dụng, phân loại nợ và trích lập dự phòng
rủi ro của NHNN có thể bị làm sai lệch tinh thần bởi sở hữu chéo. Khi khách
hàng doanh nghiệp không trả được nợ cho ngân hàng, thay vì xếp khoản vay
thành nợ xấu và trích dựphòng rủi ro theo quy định, ngân hàng A giấu nợ xấu
của mình bằng cách không khai báo nợ xấu mà nhờ ngân hàng B (ngân hàng A
có sở hữu) cho vay để đảo nợ. Đây cũng là một trong những lý do khiến
NHNN khó nắm được chính xác số nợ xấu của toàn bộ hệ thống ngânhàng.
Thứ tư,Rủi ro thâu tóm đối với hoạt động ngân hàng:
Theo quy định hiện nay, một cổ đông là cá nhân không được sở hữu quá 5%,
một tổ chức không được sở hữu quá 15%, cổ đông và những người liên quan
của cổ đông đó không được sở hữu vượt quá 20% vốn điều lệ của một tổ chức
tín dụng (trừ những trường hợp đặc biệt theo quyết định của Thủ tướng Chính
phủ) nhằm hạn chế việc thâu tóm ngân hàng trái pháp luật. Tuy nhiên để lách
các quy định trên, các cổ đông sở hữu số vốn nhỏ hơn 5% vốn điều lệ lại ủy
quyền cho những cá nhân tổ chức không có họ hàng với mình để đầu tư vào
một ngân hàng, như ở trên chúng ta có thể thấy trường hợp của ông Đặng
Thành Tâm với Navibank và ngân hàng Phương Tây là một ví dụ. Như vậy khi
sở hữu chéo diễn ra thì quy định này dường như bị vô hiệu hóa. Sở hữu chéo
23
+ Nguyên nhân đến từ việc cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại, khi
mà hoạt động này không dựa vào quy định tín dụng chặt chẽ mà chủ yếu từ
quan hệ thân thiết “sân sau”. Các chủ sở hữu có thể tác động gây áp lực để
thực hiện cấp tín dụng cho các hoạt động kinh doanh theo mục đích riêng
của mình; hoạt động này được thực hiện với sự qua loa trong khâu thẩm
định, và lỏng lẻo trong thanh tra giám sát, giải ngân và thực hiện khoản vay.
Việc nguồn lực phân bổ không được đánh giá, giám sát đầy đủ sẽ dễ gây ra
nợ xấu. Khi đã xuất hiện nợ xấu, việc xử lý sẽ khó khăn hơn nhiều, do mối
quan hệ lằng nhằng của sở hữu chéo. Khi đó ngân hàng A che giấu nợ xấu
của mình bằng cách không khai báo nợ xấu mà nhờ ngân hàng B (A có sở
hữu) cho vay, qua đó giảm được mức nợ xấu phải khai báo và không phải
trích dự phòng rủi ro tương ứng. Đó cũng là một trong những lý do khiến
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) khó nắm được chính xác số nợ xấu của toàn
bộ hệ thống ngân hàng,
24
Thực trạng sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng Việt Nam
V. GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT VÀ SỬ LÝ
-
-
-
-
Thứ ba, cần nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp trong nội bộ ngân hàng,
yêu cầu ban kiểm soát (BKS) phải thực sự độc lập với HĐQT và có quyền phủ
quyết các quyếtđịnh có ảnh hưởng tiêu cực hoặc rủi ro cao đối với quyền lợi
của các nhà đầu tư nhỏ lẻ; phải can thiệp, ngăn chặn, phát hiện, báo cáo với cơ
quan quản lý nhà nước trong trường hợpHĐQT có những quyết định trái pháp
luật. Bên cạnh đó, vai trò của thành viên độc lập trong HĐQT phải thực sự độc
lập, có tiếng nói, ngăn chặn, thể hiện quan điểm của mình trong trường hợp
những quyết định của HĐQT gây bất lợi cho các cổ đông nhỏ lẻ hoặc phục
vụcho lợi ích nhóm.
Thứ tư, quy định cấm hiện tượng tình trạng đầu tư “lòng vòng” giữa các ngân
hàng với nhau (theo kiểu ngân hàng A đầu tư vào ngân hàng B, ngân hàng B
đầu tư vào ngân hàn gC và ngân hàng C lại quay lại đầu tư vào ngân hàng A).
Nếu hiện tượng này bị phát hiện, cầncó các chế tài theo hướng xử lý hình sự.
25