GVHD: TS. Lại Tiến Dĩnh Vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống NHTM
Nhóm 3 Ngân hàng Đêm 2 – K22 1
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: KHUNG PHÁP LÝ QUY ĐỊNH VỀ VẤN ĐỀ THÀNH LẬP, TỔ CHỨC, SỞ HỮU NGÂN
HÀNG 3
1.1 Quy định về vấn đề thành lập Ngân hàng 3
1.2 Quy định về vấn đề tổ chức Ngân hàng 4
1.3 Quy định về sở hữu Ngân hàng 5
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ SỞ HỮU CHÉO TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 6
2.1 Tình hình sở hữu chéo tại một số ngân hàng Việt Nam hiện nay 6
2.1.1 Doanh nghiệp sở hữu các ngân hàng TMCP 6
2.1.2 Ngân hàng sở hữu ngân hàng 7
2.1.3 Nhà đầu tư lớn sở hữu ngân hàng 15
2.2 Các nhân tố thúc đẩy sở hữu chéo 18
2.2.1 Ngân hàng thương mại đã dùng sở hữu chéo để lách các quy định đảm bảo an toàn hoạt động
do Ngân hàng Nhà nước ban hành: 18
2.2.2 Rót vốn vào các doanh nghiệp sân sau một cách dễ dàng: 18
2.2.3 Giảm được mức nợ xấu phải khai báo và không phải trích dự phòng rủi ro tương ứng 19
2.3 Tác động của việc sở hữu chéo 19
2.3.1 Tích cực: 19
2.3.2 Tiêu cực: 19
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM KIỂM SOÁT VÀ XỬ LÝ VẤN ĐỀ SỞ HỮU CHÉO TRONG HỆ
THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 23
3.1 Kinh nghiệm của các quốc gia khác 23
3.1.1 Nhật Bản 23
3.1.2 Hàn Quốc 24
3.1.3 Mỹ 24
không gây ảnh hưởng đến sự an toàn, ổn định của hệ thống TCTD, không tạo ra sự độc quyền hoặc
hạn chế cạnh tranh hoặc cạnh tranh không lành mạnh trong hệ thống TCTD.
Liên quan đến vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống Ngân hàng Việt Nam
Quy định về chủ sở hữu của TCTD có vai trò rất quan trọng trong việc minh bạch hóa hoạt động
của TCTD, khoản b điều 20 quy định như sau:
Chủ sở hữu TCTD là Công ty TNHH MTV, cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập là pháp nhân
đang hoạt động hợp pháp và có đủ năng lực tài chính để tham gia góp vốn; cổ đông sáng lập hoặc
thành viên sáng lập là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có đủ khả năng tài chính để
góp vốn.
Điều kiện đối với chủ sở hữu của TCTD là Công ty TNHH MTV, cổ đông sáng lập, thành viên
sáng lập do Ngân hàng Nhà nước quy định.
Kết luận: Các điều kiện trên áp dụng cho các TCTD trong nước, không áp dụng cho TCTD liên
doanh, TCTD 100% vốn nước ngoài, chi nhánh NH nước ngoài, Văn phòng đại diện NH nước
ngoài. Có thể tham khảo chi tiết tại Luật các TCTD 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010).
GVHD: TS. Lại Tiến Dĩnh Vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống NHTM
Nhóm 3 Ngân hàng Đêm 2 – K22 4
1.2 Quy định về vấn đề tổ chức Ngân hàng (được quy định cụ thể tại Điều 32, Luật các
TCTD số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010)
Cơ cấu quản lý của TCTD:
Được thành lập dưới hình thức Công ty Cổ phần bao gồm Đại Hội Đồng Cổ Đông, Hội Đồng
Quản Trị, Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc (Giám đốc).
Được thành lập dưới hình thức Công ty TNHH MTV, công ty TNHH hai thành viên trở lên bao
gồm Hội đồng Thành viên, Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc (Giám đốc).
Hội đồng Quản trị có toàn quyền nhân danh ngân hàng để quyết định, thực hiện các quyền và
nghĩa vụ của ngân hàng (trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại Hội Đồng Cổ Đông (điều 16 –
Nghị định số 59/2009/NĐ – CP ngày 16/06/2009 về Tổ chức và Hoạt động của Ngân hàng Thương
mại).
Ban kiểm soát là cơ quan giám sát hoạt động Ngân hàng nhằm đánh giá chính xác hoạt động
hiện và tố cáo việc cấu kết, thao túng của các cổ đông lớn. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay thì tiếng
nói của các cổ đông phổ thông chưa được phổ biến và còn nhiều hạn chế, tỷ trọng của cổ đông phổ
thông trong quy mô vốn còn nhỏ và không ổn định.
Vai trò đại diện phần vốn chủ sở hữu: nếu các cổ đông phổ thông lại chiếm tỷ trọng lớn trong
cơ cấu vốn của Ngân hàng sẽ cho họ tiếng nói và quyền hạn lớn hơn. Trong tổ chức sẽ không có cổ
đông nào có khả năng thao túng, lạm dụng quyền lực để trục lợi riêng. Bên cạnh đó bản thân Ngân
hàng sẽ không bị ảnh hưởng lớn khi các cổ đông lớn gặp khó khăn về tài chính hay chuyển đổi phần
vốn góp của mình.
1.3 Quy định về sở hữu Ngân hàng
Một cổ đông là cá nhân không được sở hữu vượt quá 5% vốn điều lệ của một TCTD.
Một cổ đông là tổ chức không được sở hữu quá 15% vốn điều lệ của một TCTD trừ các trường
hợp sau đây:
a. Sở hữu cổ phần theo quy định tại khoản 3 Điều 149 Luật TCTD để xử lý TCTD gặp khó
khăn, đảm bảo an toàn hệ thống TCTD.
b. Sở hữu cổ phần nhà nước tại TCTD cổ phần hóa.
c. Sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài quy định tại khoản 2 Điều 16 của Luật các
TCTD.
Cổ đông và người có liên quan của cổ đông đó không được sở hữu vượt quá 20% vốn điều lệ
của một TCTD. Tỷ lệ sở hữu quy định tại các khoản 1,2 và 3 Điều này bao gồm cả phần vốn ủy
thác cho tổ chức, cá nhân khác mua cổ phần.
Trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày được cấp giấy phép, các cổ đông sáng lập phải nắm giữ số cổ
phần tối thiểu bằng 50% vốn điều lệ của TCTD; các cổ đông sáng lập là pháp nhân phải nắm giữ số
cổ phần tối thiểu bằng 50% tổng số cổ phần do các cổ đông sáng lập nắm giữ.
Trên đây là toàn bộ những vấn đề pháp lý liên quan đến việc thành lập, tổ chức và sở hữu
trong Ngân hàng. Có thể thấy, NHNN VN mới chỉ có những khái niệm đầu tiên chứ chưa đi
sâu và khai thác một cách triệt để hơn, các quy định còn quá sơ sài, đơn giản, chỉ mang tính
sơ khai nên việc các TCTD, các cá nhân lợi dụng nhưng kẽ hở của văn bản luật nhằm mục
đích trục lợi cho bản thân là hết sức dễ dàng.
GVHD: TS. Lại Tiến Dĩnh Vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống NHTM
GVHD: TS. Lại Tiến Dĩnh Vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống NHTM
Nhóm 3 Ngân hàng Đêm 2 – K22 7
2.1.2 Ngân hàng sở hữu ngân hàng
2.1.2.1 “Mạng nhện” sỏ hữu giữa ACB với KiênLongBank, DaiABank, Eximbank, Viet Bank và
VietABank:
ACB - KienLongBank
Năm 2007, ACB thông qua công ty con là Công ty Chứng khoán ACB ( ACBS ) góp vốn mua
10% cổ phần tại Ngân hàng TMCP Kiên Long (KienLongBank), hiện đã giảm xuống còn 6.1%. Vai
trò của ACB tại KienLongBank khá lớn, cụ thể ACB hỗ trợ KienLongBank trong đào tạo nguồn
nhân lực, chuyển giao công nghệ ngân hàng, khi KienLongBank gặp khó khăn về tài chính, ACB sẽ
hỗ trợ theo khả năng của mình và đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước. Ngoài ra, ACB cũng
cam kết mua cổ phần của KienLongBank khi ngân hàng này thực hiện lộ trình tăng vốn điều lệ như
thông tin được công bố trên website KienLongBank.
Năm 2008, ACB có đến 3 đại diện tại HĐQT của KienLongBank gồm ông Nguyễn Văn Hòa
(Kế toán trưởng ACB), ông Lê Quang Chính (Phó Giám đốc Sở Giao dịch ACB) và ông Lê Thanh
Hải (Trưởng phòng thẩm định tài sản kiêm Trưởng phòng pháp chế ACB). Hiện nay, ông Hòa đã
rút khỏi HĐQT, ACB còn hai đại diện gồm ông Chính và ông Hải.
Ngày 17/10 vừa qua, một cổ đông lớn của KienLongBank là Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn –
TNHH MTV (Saigontourist) thoái hết vốn thông qua việc bán đấu giá 5 triệu cổ phần với giá khởi
điểm chỉ có 8,780 đồng/cp, thấp hơn mệnh giá. Đối tượng mua lượng cổ phần trên là một cá nhân
và một tổ chức trong nước không công bố tên.
GVHD: TS. Lại Tiến Dĩnh Vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống NHTM
Nhóm 3 Ngân hàng Đêm 2 – K22 8 ACB - DaiABank
lại lẫn nhau.
GVHD: TS. Lại Tiến Dĩnh Vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống NHTM
Nhóm 3 Ngân hàng Đêm 2 – K22 10
ACB - VietBank
Tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín (VietBank), ACB giữ tư cách là cổ đông sáng lập
nhưng không công bố cụ thể khoản đầu tư tại ngân hàng này là bao nhiêu, tuy nhiên 2/8 thành viên
HĐQT của VietBank lại có sự liên hệ đến ACB gồm bà Đặng Ngọc Lan (vợ ông Nguyễn Đức Kiên,
nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng sáng lập ACB) và ông Trương Hùng.
Tại ACB, bà Lan đang giữ chức vụ Phó Ban Kiểm toán nội bộ còn ông Trương Hùng là Giám
đốc Chi nhánh Phú Lâm (Quận 6).
Ngoài ra, đại gia thủy sản Diệu Hiền đình đám trên báo chí thời gian qua cũng có mối quan hệ
cùng VietBank thông qua Công ty TNHH XD TM Diệu Hiền, đơn vị đồng sáng lập VietBank cùng
với Công ty Đầu tư & Phát triển Hoa Lâm và ACB.
ACB - VietABank
Tại Ngân hàng TMCP Việt Á (VietABank), ACB đóng vai trò là cổ đông sáng lập. Cụ thể,
VietABank ra đời từ năm 2003 trên cơ sở hợp nhất Công ty Tài chính Cổ phần Sài Gòn và Ngân
GVHD: TS. Lại Tiến Dĩnh Vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống NHTM
Nhóm 3 Ngân hàng Đêm 2 – K22 11
hàng TMCP Nông thôn Đà Nẵng. Ngày mới thành lập, VietABank có vốn điều lệ hơn 76 tỷ đồng.
Cổ đông sáng lập nắm cổ phần lớn nhất là Ban Tài chính Thành ủy TPHCM với tỷ lệ 29.8% (Trước
hợp nhất, Công ty Tài chính Cổ phần Sài Gòn được đầu tư bởi 6 đơn vị, đặc biệt trong đó có ACB
và Ngân hàng Nông thôn Đà Nẵng).
Có thể thấy, VietABank có mối quan hệ “mật thiết” cùng ACB, DaiABank và Eximbank thông
qua các mối quan hệ sở hữu vòng giữa ACB – DaiABank – VietABank, ACB – Eximbank –
Ngân hàng TMCP Quân đội (MB Bank):
Nguồn: cafef
Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank):
Nguồn: cafef GVHD: TS. Lại Tiến Dĩnh Vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống NHTM
Nhóm 3 Ngân hàng Đêm 2 – K22 13 Ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB):
Nguồn: cafef
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương (SaiGonBank):
Nguồn: cafef
GVHD: TS. Lại Tiến Dĩnh Vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống NHTM
Nhóm 3 Ngân hàng Đêm 2 – K22 14
Trường hợp khác, Agribank hiện đang sở hữu 15% tại NHTMCP Hàng Hải (cổ phần gián tiếp
Nguồn: FEPT
2.1.3 Nhà đầu tư lớn sở hữu ngân hàng
Ông Đặng Thành Tâm sở hữu cổ phần của nhiều ngân hàng khác nhau:
Nguồn: cafef
GVHD: TS. Lại Tiến Dĩnh Vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống NHTM
Nhóm 3 Ngân hàng Đêm 2 – K22 16
Ông Đặng Thành Tâm tuy sở hữu 2,7% NH Navibank và không có cổ phần tại NH Western
Bank nhưng ông lại sở hữu gián tiếp cả 2 ngân hàng này, cụ thể như sau: Ông Đặng Thành Tâm
nắm giữ 23,9% cổ phần Công ty Viễn Thông Sài Gòn (SGT), nắm 34,94% cổ phần của Tổng Công
Phát Triển Nhà Kinh Bắc (KBC), mối quan hệ sở hữu gián tiếp là SGT sở hữu 9,41% cổ phần của
Western Bank, còn KBC đầu tư số tiền 483 tỷ vào Công ty CP Năng Lượng Sài Gòn - Bình Định,
công ty này hiện đang sở hữu 9,85% cổ phần tại Western Bank và 11,93% cổ phần tại Navibank.
Ngoài mối quan hệ sở hữu trên, thông tin từ báo cáo tài chính định kỳ của các tổ chức trên còn
cho thấy các khoản tín dụng, đầu tư trái phiếu với giá trị lớn, nhỏ, ngắn hạn, dài hạn đan xen giữa
Western Bank, Navibank, SGT và KBC.
Đến cuối năm 2013 Ông Đặng Thành Tâm đã thoái vốn khỏi Navibank, đến hết tháng 3/2013
vợ của ông Tâm cũng đã bán toàn bộ 14,82 triệu cổ phiếu tại Navibank. Ngoài ra KBC, SGT, Công
ty CP Năng Lượng Sài Gòn - Bình Định cũng đang trong quá trình thoái vốn dần tại Navibank.
Bà Trương Mỹ Lan sở hữu nhiêu doanh nghiệp phi tài chính và SCB
Hiện tại Ngân hàng Việt Nam Tín Nghĩa, Ngân hàng TMCP Sài Gòn, Ngân hàng Đệ Nhất đã hợp
nhất thành một ngân hàng mới lấy tên là Ngân hàng TMCP Sài Gòn.
GVHD: TS. Lại Tiến Dĩnh Vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống NHTM
không mấy ai biết.
2.2 Các nhân tố thúc đẩy sở hữu chéo
2.2.1 Ngân hàng thương mại đã dùng sở hữu chéo để lách các quy định đảm bảo an toàn
hoạt động do Ngân hàng Nhà nước ban hành:
2.2.1.1 Quy định về vốn
Theo quy định của Nghị định 141/2006/NĐ-CP, vốn điều lệ thực góp của các ngân hàng phải
đạt 1.000 tỷ đồng vào năm 2008 và 3.000 tỷ đồng vào năm 2010. Thông qua sở hữu chéo, cổ đông
ngân hàng A có thể vay tiền ngân hàng B để góp vốn vào ngân hàng A và ngược lại. Hoạt động đi
vay này tạo ra tình trạng tăng vốn ảo trong các ngân hàng.
2.2.1.2 Giới hạn tín dụng theo quy định hiện hành đã bị sở hữu chéo làm vô hiệu hóa
Các khoản tín dụng cấp cho các doanh nghiệp nhà nước bởi ngân hàng thương mại nhà nước
vượt hạn mức tín dụng được chính ngân hàng nhà nước phê chuẩn là những ví dụ điển hình. Thêm
vào đó, quy định về các trường hợp không được cấp tín dụng, hoặc hạn chế cấp tín dụng cũng bị sai
lệch.
2.2.1.1 Hoạt động ngân hàng đầu tư phải được tách bạch khỏi hoạt động của ngân hàng
thương mại, sở hữu chéo sẽ giúp ngân hàng lách luật.
Từ kinh nghiệm cuộc khủng hoảng tài chính ngân hàng toàn cầu và theo Luật Các tổ chức tín
dụng năm 2010, cũng như Thông ty 13/2010/TT-NHNN, hoạt động ngân hàng đầu tư phải được
tách bạch khỏi hoạt động của ngân hàng thương mại. Theo đó, ngân hàng không được cấp tín dụng
cho công ty trực thuộc hoạt động kinh doanh chứng khoán. Tuy nhiên, thay vì cho vay trực tiếp,
ngân hàng A có thể mua trái phiếu của ngân hàng B (A đang sở hữu) để ngân hàng B cho vay, hoặc
đầu tư và trái phiếu của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ của Ngân hàng A.
2.2.1.2 Các quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro của Ngân hàng nhà nước
có thể bị làm sai lệch tinh thần bởi sở hữu chéo.
2.2.2 Rót vốn vào các doanh nghiệp sân sau một cách dễ dàng:
Sở hữu chéo cho phép một doanh nghiệp (hay ngân hàng) có tỷ lệ cổ phần lớn trong các ngân
hàng thương mại có thể gây áp lực (một cách hợp pháp như qua bỏ phiếu trong Hội đồng quản trị
với vị thế cổ đông chiến lược) để ngân hàng này cấp vốn đầu tư vào những dự án (dưới chuẩn) của
doanh nghiệp hay ngân hàng “sân sau” của mình. Nguy cơ là quy định bị “vượt rào”, bộ máy sàn
lọc theo tiêu chí hiệu quả đầu tư vốn rất nghiêm ngặt của hệ thống ngân hàng thương mại có thể bị
ngân hàng thương mại, các tập đoàn/tổng công ty có các hoạt động liên quan tới hoạt động tài
chính, bất động sản). Tình trạng này tạo ra các nhóm lợi ích có thể chi phối thị trường, gây khó tách
bạch sở hữu, do vậy cản trở quá trình giám sát, tái cơ cấu ngân hàng.
Rủi ro thị trường tài chính ngân hàng mang tính hệ thống, dù rủi ro ấy ban đầu chỉ xuất phát từ
một vài tổ chức riêng lẻ. Vì đó là quan hệ giữa dòng tiền với nền sản xuất kinh tế thực. Rủi ro này
GVHD: TS. Lại Tiến Dĩnh Vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống NHTM
Nhóm 3 Ngân hàng Đêm 2 – K22 20
khi vỡ, do quan hệ “lằng nhằng” do sở hữu chéo giữa các ngân hàng, thì không chỉ lan tỏa đối với
hệ thống sản xuất kinh doanh ngoài ngân hàng mà ngay cả trong ngân hàng.
Nếu nhà nước có khả năng giám sát, khung khổ pháp lý chặt chẽ thì hạn chế được rủi ro.
Ngược lại sẽ dẫn đến rủi ro đạo đức. Bản thân các định chế tài chính, đặc biệt là hệ thống tài chính
lớn, họ đều biết từ khi sinh ra là rủi ro của họ mang đến rủi ro hệ thống.”Nhưng có lẽ các ngân hàng
đều dựa vào việc Chính phủ sẽ lại bỏ tiền đứng ra cứu khi có rủi ro, nếu không thì cả hệ thống sụp
đổ. Ai cũng hiểu cần chặn rủi ro ngay từ đầu. Nhưng trên thực tế không chỉ ở Việt Nam mà rất
nhiều giai đoạn khủng hoảng cho thấy thế giới đều vấp phải sai lầm như thế” – TS Võ Trí Thành
dẫn chứng.
2.3.2.2 Nợ xấu
Nếu giám sát không chặt chẽ, dòng tiền có thể chuyển cho vay các dự án sân sau do chính
những người chi phối hoặc chủ ngân hàng làm chủ. Như vậy, rõ ràng nguồn lực dễ không được
đánh giá, giám sát đầy đủ, dễ dẫn đến câu chuyện nợ xấu. Khi đã xuất hiện nợ xấu, thì việc xử lý
khó khăn hơn nhiều, vì mối quan hệ lằng nhằng của sở hữu chéo.
Một thực tế là nhiều “đại gia” đầu tư vào các ngân hàng rồi sau đó lại dùng các doanh nghiệp
(DN) liên quan của mình đi vay vốn từ ngân hàng để kinh doanh. Đó dường như là một mối quan
hệ lòng vòng, phức tạp khiến cho các quan hệ tín dụng nhiều khi trở nên sai lệch và ẩn chứa nhiều
rủi ro.
Nâng cao nợ xấu của hệ thống ngân hàng, tạo ra những chi phí, đặc biệt là rủi ro mang tính hệ
thống vì vấn đề thanh khoản và khả năng trả nợ của một ngân hàng có thể kéo theo những vấn đề
tương tự ở rất nhiều các ngân hàng khác.
Bên cạnh đó, khi mà đồng tiền có giá rẻ và dễ vay thì các doanh nghiệp có xu hướng đầu tư
vào các dự án quy mô lớn, tập trung chủ yếu ở bất động sản và khu công nghiệp,… Nhu cầu phát
triển nóng nảy sinh ở rất nhiều doanh nghiệp.
Hiện tượng vay vốn ngắn hạn (của ngân hàng) đầu tư cho các dự án dài hơi đã khiến cho cơ
cấu nguồn vốn bị phân bổ không hợp lý, giữa ngắn hạn và dài hạn, giữa cho vay đầu tư vào sản xuất
và phi sản xuất.
Việc chính sách tiền tệ đột ngột bị thắt chặt, thanh khoản của toàn hệ thống trở nên khó khăn
và hàng loạt các doanh nghiệp từ lớn tới nhỏ, từ của đại gia tầm trung cho tới cỡ lớn đều rơi vào
tình trạng thiếu vốn nghiêm trọng cho các dự án khổng lồ đang dang dở.
Thanh khoản kém buộc các ngân hàng phải nâng lãi suất lên rất cao, và kéo theo đó là một loạt
các hệ lụy khác như: Nợ xấu tăng vọt, bất động sản đóng băng, doanh nghiệp phá sản do nặng lãi,…
2.3.2.4 Làm lũng đoạn thị trường tài chính
Theo các chuyên gia, không ít DN “sân sau” thời gian qua không chỉ vay hàng nghìn tỷ đồng
từ ngân hàng mà còn tham gia với các ông chủ ngân hàng có quyền điều hành hay chi phối các
quyết định của Tổ chức tín dụng có lợi cho mình, gây tiềm ẩn rủi ro cho TCTC. Không ít lãnh đạo
các NH đã tận dụng DN “sân sau” để giúp tăng vốn. Khi đó DN có vốn góp lớn của các ông chủ
ngân hàng sẽ đứng ra phát hành trái phiếu kỳ hạn 3 – 5 năm. Sau đó, ngân hàng của các ông chủ
trên sẽ bỏ tiền ra mua trái phiếu của DN. Khi đã có tiền, DN này sẽ sử dụng vốn đó góp và đúng
ngân hàng vừa bỏ tiền ra mua trái phiếu của mình để tăng vốn điều lệ. Như vậy, vốn điều lệ ngân
hàng ghi trên sổ sẽ cao nhưng thực tế đó là vốn ảo. Có quyền lực trong tay, các ông chủ ngân hàng
GVHD: TS. Lại Tiến Dĩnh Vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống NHTM
Nhóm 3 Ngân hàng Đêm 2 – K22 22
tiếp tục lũng đoạn qua việc bơm vốn vào các DN “sân sau”… Trên thực tế, việc tăng vốn ảo đã giúp
không ít ông chủ ngân hàng cùng một lúc sở hữu 2 – 3 ngân hàng và đẩy vốn vào lĩnh vực đầu tư
bất động sản, dẫn đến khó khăn về thanh khoản cho những ngân hàng nhỏ.
Trong ba năm qua, hàng loạt các NH TMCP đã nâng vốn pháp lý lên 3,000 tỷ đồng. Nhưng
trên thực tế, gần như không có đồng vốn mới nào bổ sung vào hệ thống ngân hàng, nhưng do vốn
pháp lý tăng, các ngân hàng được phép huy động tiền gửi xã hội lớn hơn và hàng nghìn tỷ đồng vốn
3.1 Kinh nghiệm của các quốc gia khác
3.1.1 Nhật Bản
Sở hữu chéo bùng nổ ở Nhật Bản từ những năm 1960 trong thời kỳ phục hồi kinh tế sau Chiến tranh
Thế giới thứ II. Trong bối cảnh thị trường chứng khoán suy giảm, sở hữu chéo giúp cho các CTCP
có khả năng vay vốn dễ dàng từ ngân hàng và giúp ngân hàng tăng trưởng lợi nhuận từ cho vay. Sở
hữu chéo là công cụ để hạn chế mua thâu tóm công ty cổ phần của nước ngoài trong bối cảnh Nhật
Bản buộc phải thực kiện cam kết tự do hóa thương mại khi trở thành thành viên của Tổ chức Hợp
tác và Phát triển (OECD).
Trên thực tế, sở hữu chéo tạo ra liên kết giữa các công ty trong các tập đoàn sản xuất như Tập đoàn
Toyota. Ngoài ra, phải kể đến sự liên kết duy trì sở hữu chéo giữa ngân hàng trung tâm và các công
ty sản xuất công nghiệp, công ty thương mại trong 6 Tập đoàn quy mô lớn nhất Nhật Bản là
Mitsubishi, Sumitomo, Mitsui, Sanwa, Fuyo và Ichikan. Kết quả sở hữu chéo là làm giảm số cổ
phần lưu thông và tác động vào giá cổ phần, duy trì chúng ở mức cao.
Tuy nhiên sở hữu chéo cũng có những hạn chế, có thể tạo ra những hệ quả xấu nên Chính phủ Nhật
đã đưa ra những giải pháp để hạn chế tiêu cực của nó.
Ngay từ năm 1981, Luật Thương mại Nhật Bản đã quy định cấm công ty con sở hữu cổ phần của
công ty mẹ, trừ một số trường hợp đặc biệt. Sau đó, Luật Công ty cũng cấm thực hiện quyền biểu
quyết của cổ đông là công ty sở hữu chéo ngược chiều trong trường hợp sở hữu chéo có dấu hiệu
chi phối thực chất. Bên cạnh đó, luật cấm độc quyền gián tiếp tác động quan hệ sở hữu chéo cổ
phần thông qua quy định về giới hạn sở hữu và nghĩa vụ báo cáo nhằm kiểm soát tình trạng độc
quyền.
Về vấn đề sở hữu chéo của các ngân hàng, từ 1/4/2000, Nhật Bản áp dụng chế độ hạch toán kế toán
theo giá thị trường đối với hàng hóa tài chính thay thế chế độ hạch toán theo nguyên giá. Kết quả là
các ngân hàng thương mại và công ty sở hữu chéo cổ phần bị rơi vào tình trạng thua lỗ do định giá
cổ phần sở hữu chéo theo giá thị trường. Các chủ thể này đã nhận thức được sở hữu chéo là tác
nhân gây ra tăng trưởng lợi nhuận âm và từng bước điều chỉnh tỷ lệ sở hữu cổ phần chéo. Từ năm
2000, nhiều NHTM và các công ty đã bán tháo số lượng lớn cổ phần khiến hàng loạt cổ phiếu sụt
giá. Tình trạng này đã tạo ra áp lực đối với thị trường chứng khoán và xã hội nói chung.
Trong bối cảnh đó, năm 2001, Nhật Bản ban hành Luật Hạn chế Ngân hàng sở hữu cổ phần. Luật
Thứ hai, những NH nhà đầu tư muốn sở hữu cổ phần không nằm trên cùng một địa bàn.
Nghĩa là phải ở hai địa bàn hoạt động khác nhau, chẳng hạn hai bang khác nhau hoặc hai thị
trấn khác nhau.
Thứ ba, các NH đó cũng không được cạnh tranh nhau trong cùng một phân khúc thị trường
tại cùng một địa điểm. Bởi theo nguyên tắc nhà đầu tư có cổ phần của NH A rồi mà lại có cổ
phần của NH B trên cùng khu vực đó sẽ tạo ra ưu thế độc quyền, gây áp lực đến những NH
khác, gây mất bình đẳng. Chẳng hạn nếu nhà đầu tư sở hữu nhiều NH, họ có thể dùng vai
trò là cổ đông lớn để yêu cầu hai hay nhiều NH khác đưa ra một mức lãi suất chung (được
gọi là price fixing) đồng nghĩa với “làm giá”, vi phạm luật cạnh tranh.
Nếu bị phát hiện trong trường hợp này sẽ bị xử lý nghiêm khắc, thậm chí là thoái vốn hoặc là bị nộp
GVHD: TS. Lại Tiến Dĩnh Vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống NHTM
Nhóm 3 Ngân hàng Đêm 2 – K22 25
phạt nặng. Các cơ quan giám sát soi rất kỹ xem người này có cổ phần, cổ phiếu ở chỗ nào khác hay
không, có người trong gia đình liên quan hay không… Họ dễ dàng phát hiện và xử lý sai phạm.
3.2 Kiểm soát vấn đề sở hữu chéo tại Việt Nam
3.2.1 Hoàn thiện các quy định pháp luật
Quy định chung về sở hữu chéo
Thực hiện bổ sung thuật ngữ sở hữu chéo vào trong Thông tư 13/2010/TT-NHNN đồngthời hình sự
hóa các vấn đề liên quan đến sở hữu chéo để ngăn ngừa tối đa hành vi này (Bổsung vào Luật Hình
sự). Các cơ quan quản lý cần thường xuyên giám sát, yêu cầu các TCTDtuân thủ nghiêm Điều 55
của Luật các TCTD năm 2010 về quy định giới hạn sở hữu cổ phầncủa cổ đông cá nhân, cổ đông
pháp nhân và những người có liên quan, bao gồm cả phần cổphần ủy thác cho cá nhân, tổ chức khác
đứng tên. Nếu vi phạm, các cá nhân và người đứngđầu tổ chức phải chấp nhận bị xử lý theo luật
hình sự.
Quy định về kế toán, hệ thống các quy định an toàn cần được liên tục nâng cao tính
minh bạch, đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế.
Để loại trừ tính nhiễu của sở hữu chéo trong vốn tự có như đã đề cập ở trên, khoản đầu tư của
TCTD này vào TCTD khác phải được xác định rõ và loại trừ khỏi vốn cấp 1 của tổ chức được góp