MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ
Giao dịch dân sự có một quá trình phát triển không ngừng theo trình độ văn
minh của loài người. Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội
chủ nghĩa ở nước ta phát sinh nhiều loại hình giao dịch mà pháp luật dân sự phải
từng bước hệ thống hóa bằng các quy định cụ thể. Có thể khẳng định rằng, giao
dịch dân sự là loại quan hệ có tính chất phổ biết, được áp dụng rộng rãi nhất trong
giao lưu dân sự. Hiện nay, bộ luật dân sự đã phần nào đáp ứng được yêu cầu nhu
cầu của cuộc sống và thỏa mãn các điều kiện vật chất, tinh thần hàng ngày của các
chủ thể. Tuy nhiên việc giao lưu dân sự trong thực tế là rất phức tạp, cho nên
không thể tránh khỏi những trường hợp giao dịch dân sự bị vô hiệu, mà trong đó
giao dịch dân sự vô hiệu có yếu tố giả tạo chiếm tỷ lệ không nhỏ. Chính vì vậy
nhóm chúng tôi xin được “ Sưu tầm một ví dụ thực tiễn về giao dịch dân sự có
yếu tố giả tạo và bình luận về hướng giải quyết vụ việc đó trên có sở pháp luật
Việt Nam hiện hành’’
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Khái quát chung về giao dịch dân sự
1. Giao dịch dân sự
a. Khái niệm
Khái niệm về giao dịch dân sự được thể hiện tại Điều 121 Bộ Luật Dân sự
năm 2005, giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm
phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Như vậy, giao dịch dân sự là một sự kiện pháp lý ( hành vi pháp lý đơn
phương hoặc đa phương - một bên hoặc nhiều bên) làm phát sinh hậu quả pháp lí.
Tùy từng giao dịch cụ thể mà làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật
dân sự.
nghĩa vụ dân sự.
-Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật,
không trái đạo đức xã hội. Các giao dịch có mục đích vi phạm điều cấm của pháp
luật (buôn bán ma túy, buôn bán phụ nữ, trẻ em …) hay trái với đạo đức xã hội đều
bị vô hiệu, các bên tham gia giao dịch nói trên đều phải chịu trách nhiệm trước
pháp luật về hành vi của mình.
-Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện, không bên nào trong giao
dịch dân sự và không ai được ép buộc, lừa dối bên nào khi tham gia giao dịch.
Ngoài ba điều kiện cơ bản trên, BLDS còn quy định một điều kiện ngoại lệ
liên quan đến hình thức của giao dịch dân sự. Nếu pháp luật có quy định hình thức
của giao dịch phải tuân theo những yêu cầu nhất định, thì nếu giao dịch không tuân
theo các quy định về hình thức sẽ bị vô hiệu.
Tóm lại, điều kiện bắt buộc để giao dịch có hiệu lực chỉ phụ thuộc vào một
số yếu tố liên quan đến nội dung: ý chí tự nguyện của các bên tham gia, đối tượng,
nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo
đức xã hội.
2. Giao dịch dân sự vô hiệu và giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo
a. Giao dịch dân sự vô hiệu
Điều 122 BLDS năm 2005 quy định về các điều kiện có hiệu lực của giao
dịch dân sự. Như vậy, một giao dịch dân sự muốn phát sinh hiệu lực pháp lý phải
thỏa mãn tất cả những điều kiện này. Điều 127 BLDS năm 2005 quy định “Giao
dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 của Bộ
luật này thì vô hiệu.”
Qua đó, chúng ta có thể rút ra khái niệm về giao dịch dân sự vô hiệu là giao
dịch dân sự không thỏa mãn một trong các hiệu lực của giao dịch dân sự do pháp
luật quy định.
Có thể phân loại GDDS theo hai cách:
Cách thứ nhất là căn cứ vào mức độ vi phạm đối với từng giao dịch thì giao
luật dân sự các nước đều coi GDDS xác lập do giả tạo là vô hiệu bởi chủ thể cố ý
bày tỏ ý chí không đúng với ý chí thực của họ. Cổ luật Việt Nam sử dụng thuật
ngữ “giả trang” nhưng thực tế hiện nay không có điều luật định nghĩa về giả tạo,
tại điều 129 BLDS 2005 chỉ quy định: “khi các bên xác lập giao dịch dân sự một
cách giả tạo nhằm che dấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân giả tạo vô
hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng
vô hiệu theo quy định của Bộ luật này. Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo
nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu”
Xét việc xác lập GDDS giả tạo, ý chí được bày tỏ của các bên trong GDDS
giả tạo là hoàn toàn không thật, không đúng với ý chí nội tâm của chủ thể. Sự khác
nhau đó không giống với sự sai khác giữa ý chí và bày tỏ ý chí của chủ thể bị
nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa. Không do hành vi có lỗi của bên đối tác tác động mà chủ
thể trong GDDS giả tạo tự bản thân chủ động bày tỏ ý chí sai khác đi để thực hiện
“gian ý” của mình. Gian ý đó có thể là trốn tránh nghĩa vụ trước nhà nước (như
trốn thuế, tẩu tán tài sản bị tịch thu…), trốn tránh nghĩa vụ trước bên có quyền
(như nghĩa vụ chuyển giao tài sản, trả nợ). Trong GDDS giả tạo, lợi ích có thể bị
xâm hại là lợi ích của người thứ ba có liên quan chứ không phải bên chủ thể nào.
Do đó, nó có quy chế xử lý khác biệt – giao dịch vô hiệu tuyệt đối –mặc nhiên bị
vô hiệu ngay từ thời điểm xác lập, tuyên bố của toàn án có giá trị xác nhận sự vô
hiệu đó cụ thể như sau:
+ Thời hiệu yêu cầu tòa án GDDS vô hiệu do giả tạo: Điều 12 BLDS 2005
quy định: “giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che dấu vẫn có hiệu lực”.
Khoản 2 điều 136 BLDS 2005 quy định: “đối với giao dịch dân sự quy định tại
điều 128 và 129 bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố GDDS vô hiệu
không bị hạn chế”. Quy định như vậy vì nhằm trốn tránh nghĩa vụ chủ thể có thể
coi là một sự vi phạm quy định pháp luật. Về nguyên tắc, thời gian không thể làm
một GDDS vi phạm pháp luật trở thành có hiệu lực.
+ Người có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố GDDS vô hiệu do giả tạo. Cả chủ
Nội dung diễn biến vụ việc như sau:
Ngày 15/07/2011 chị Uông Thị Ngấn là con gái ông Uông Văn Quyết và bà
Đinh Thị Thiển đến văn phòng của anh Nguyễn Duy Hậu để vay 1,1 tỉ đồng đầu tư
cho công ty, hẹn 10 ngày sau sẽ trả. Anh Hậu đồng ý cho vay với điều kiện chị
Ngấn phải có tài sản đảm bảo. Chị Ngấn đã mời anh Hậu đến gặp ông Quyết và bà
Thiển trao đổi. Hai ông bà đã đồng ý làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất của ông bà cho anh thì anh mới cho chị Ngấn vay tiền. Ngày 6/7/2011 hai ông
bà đến văn phòng công chứng Từ Liêm để làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất ở
số 314 A tờ bản đồ số 4 trên đó có 3 gian nhà diện tích 233 m 2 tại cụm 8, Hạ Mỗ,
huyện Đan Phượng, Thành Phố Hà Nội với giá 1,1 tỉ đồng cho anh. Sau khi làm
thủ tục công chứng ông Quyết và chị Ngấn đến văn phòng của anh để nhận tiền, tại
đây anh đưa cho ông Quyết số tiền 1,1 tỉ đồng và ông Quyết đã ký vào hợp đồng
mua bán nhà đất ngày 16/7/2011 và cho gia hạn nợ hợp đồng trong 2 tháng, đến
ngày 16/09/2011 nếu ông Quyết và chị Ngấn không trả được nợ thì hợp đồng sẽ có
hiệu lực pháp luật. Đến thời hạn trả nợ ông Quyết và chị Ngấn không trả anh Hậu
đã làm đơn yêu cầu UBND xã giải quyết. Tại UBND xã ông Quyết và bà Thiền đã
đồng ý sẽ trả anh 1,3 tỉ đồng nhưng sau đó lại không thực hiện. Nay anh yêu cầu
hai ông bà phải thanh toán cho anh tiền gốc và tiền lãi là 1.514.500.000 nếu ông bà
không thanh toán thì phải tiếp tục hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dung đất.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Quyết bà Thiển và một số người có quyền và
nghĩa vụ liên quan có lời khai.
Ông Quyết bà Thiển khai: khoản tiền chị Ngấn vay anh Hậu thì chị Ngấn
sẽ phải trả, còn hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do ông Quyết bà
Thiển và anh Hậu sẽ được thanh lý và huỷ hợp đồng khi chị Ngấn trả hết tiền cho
anh Hậu, số tiền phải trả bao nhiêu do anh Hậu và chị Ngấn thoả thuận.
Chị Ngấn khai: chị bảo bố mẹ chị phải ký hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng thửa đất ở số 314 A tờ bản đồ số 4 trên đó có 3 căn nhà diện tích 233 m2
kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất và giải quyết hậu quả của hợp đồng bị vô hiệu là có căn cứ bởi các lẽ
sau :
Thứ nhất: Trong vụ án này các bên trong giao dịch cho vay tiền muốn xác
lập hợp đồng thế chấp tài sản, tài sản được thế chấp là quyền sử dụng đất. Vậy hợp
đồng mà các bên phải hướng đến là hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất theo
Điều 715 BLDS “Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất là sự thoả thuận giữa các
bên, theo đó bên sử dụng đất (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng quyền sử dụng
đất của mình để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự với bên kia (sau đây gọi
là bên nhận thế chấp). Bên thế chấp được tiếp tục sử dụng đất trong thời hạn thế
chấp” Vậy hợp đồng thế chấp là hợp đồng mà các bên phải hướng đến trong giao
dịch này bên cạnh hợp đồng cho vay đúng như ý chí mà các bên mong muốn.
Thứ hai: Trong vụ án này các bên đã lựa chọn hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất để nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình, bản chất
của hợp đồng chuyền quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên theo Điều
428 BLDS về hợp đồng mua bán tài sản “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thoả
thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận
tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán”. Suy luận ra,
các bên đã xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để che đậy một
giao dịch khác là hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất.
Như vậy thực chất không có việc mua bán nhà đất, việc ký kết hợp đồng
chuyển nhượng là để đảm bảo cho khoản vay của chị Ngấn - con ông Quyết bà
Thiển. Nếu chị Ngấn, ông Quyết trả hết tiền thì hợp đồng mua bán sẽ được huỷ bỏ.
Như vậy bản chất của sự việc là vay tiền có thế chấp nhưng các bên không thực
hiện việc thế chấp tài sản mà thay bằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất ngày 16/7/2011 là không đúng với quy định của pháp luật. Các bên đã xác lập
giao dịch một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo
bị vô hiệu theo quy định trong điều 129 Bộ luật Dân sự.
2. Giáo trình luật dân sự Việt Nam (phần chung) – ĐH Quốc gia Hà Nội Khoa
Luật – Bùi T. Thanh Hằng – Nxb ĐHQGHN /2002
3. Giáo trình luật dân sự Việt Nam tập 1 – TS. Lê Đình Nghị - Nxb Giáo dục
Quốc Gia /2009
4. Bình luận những nội dung mới của Bộ Luật Dân sự năm 2005 – TS. Đinh
Trung Tụng – Nxb Tư pháp /2005
5. Bộ luật dân sự nước CHXHCN Việt Nam 2005. NXB Lao Động.
6. TS. Phạm Văn Tuyết "Tư cách chủ thể của cá nhân khi tham gia giao dịch
dân sự" Tạp chí Luật học số 2/2004
7. Nguyễn Văn Cương "Giao dịch dân sự vô hiệu và việc giải quyết hậu quả
pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu " Luận án Tiến sĩ luật học
8. Hoàng Thị Hưng "Một số vấn đề về ý chí của chủ thể trong giao dịch dân
sự " Luận văn tốt nghiệp, Đại học Luật Hà Nội
9. Hà Thị Thanh Hương "Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của
giao dịch dân sự vô hiệu" luận văn tốt nghiệp, Đại học Luật Hà Nội