I. Phần mở đầu :
1. Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm :
1.1. Tính lịch sử của vấn đề nghiên cứu :
Trường Tiểu học là nơi đầu tiên trẻ em được học tập Tiếng Việt, chữ viết với
phương pháp nhà trường, phương pháp học tập tiếng mẹ đẻ một cách khoa học. Học
sinh tiểu học chỉ có thể học tập các môn khác khi có kiến thức Tiếng Việt. Bởi đối với
người Việt, tiếng Việt là phương tiện giao tiếp, là công cụ trao đổi thông tin và chiếm
lĩnh tri thức. Hơn nữa, con người muốn tư duy phải có ngôn ngữ. Cả những lúc chúng
ta nghĩ thầm trong bụng, chúng ta cũng “bụng bảo dạ” cũng nói thầm, tức là cũng sử
dụng ngôn ngữ, một hình thức ngôn ngữ mà các nhà chuyên môn gọi là ngôn ngữ bên
trong. Còn thông thường thì chúng ta thể hiện ra ngoài kết quả của hoạt động tư duy,
những ý nghĩ tư tuởng của chúng ta thành những lời nói, những thực thể ngôn ngữ
nhất định. Ngôn ngữ là công cụ, là hiện thực của tư duy. Bởi lẽ đó, tư duy và ngôn
ngữ có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Người có tư duy tốt sẽ
nói năng mạch lạc, trôi chảy và nếu trau dồi ngôn ngữ được tỉ mỉ, chu đáo thì sẽ tạo
điều kiện cho tư duy phát triển tốt. Môn Tiếng Việt trong trường tiểu học không thể là
bản sao từ chương trình khoa học Tiếng Việt vì trường có nhiệm vụ riêng của mình.
Nhưng với tư cách là một môn học độc lập, Tiếng Việt có nhiệm vụ cung cấp cho HS
những tri thức về hệ thống Tiếng Việt (hệ thống âm thanh, cấu tạo từ, cấu trúc ngữ
pháp, khả năng biểu cảm của ngôn ngữ, quy tắc hoạt động của ngôn ngữ). Đồng thời,
kiến thức môn Tiếng Việt hình thành cho HS kĩ năng giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết).
Ngoài ra, Tiếng Việt còn là công cụ giao tiếp và tư duy cho nên nó còn có chức năng
kép mà các môn học khác không có được, đó là: trang bị cho HS một số công cụ để
tiếp nhận và diễn đạt mọi kiến thức khoa học trong nhà trường, là công cụ để học các
môn học khác; kĩ năng nghe, nói, đọc, viết là phương tiện là điều kiện thiết yếu của
quá trình học tập. Bên cạnh chức năng giao tiếp, tư duy ngôn ngữ còn có chức năng
quan trọng nữa đó là thẩm mĩ, ngôn ngữ là phương tiện để tạo nên cái đẹp, hình tượng
nghệ thuật. Trong văn học, HS phải thấy được vẻ đẹp của ngôn ngữ. Vì thế ở trường
1
3. Thời gian và địa điểm :
Từ tháng 8/2013 đến tháng 3/2014.
Học sinh lớp 5 - Trường Tiểu học Quyết Thắng.
4. Đóng góp mới về mặt thực tiễn :
Trong các tiết học, giáo viên muốn phát huy được tính tích cực của học sinh,
cho các em phát hiện từ khó nhưng chưa cho học sinh hiểu nghĩa từ bằng cách diễn
đạt dễ hiểu, gây ấn tượng để các em nhớ lâu, Khi tìm hiểu nghĩa của từ có giá trị nghệ
thuật trong văn bản tập đọc không có định hướng rõ ràng, cụ thể học sinh lan man,
không có trọng tâm. Hoặc một số giáo viên khi dạy khái niệm các lớp từ có quan hệ
ngữ nghĩa giáo viên hướng dẫn học sinh phân biệt từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ
đồng âm chưa rõ ràng, cụ thể khiến nhiều em còn lúng túng khi được hỏi đến....Tất cả
những thực tế trên đều làm giảm hiệu quả của tiết dạy Tiếng việt ở lớp 5 hiện nay.
3
II. Phần nội dung :
1. Chương 1. Tổng quan.
1.1.
Cơ sở ly luận :
Ngôn ngữ văn học còn là biểu hiện bậc cao của nghệ thuật ngôn từ nên khi dạy
văn là cách bồi dưỡng năng lực ngôn ngữ tối ưu cho người học. Dạy Tiếng Việt là
đưa các em hoà nhập vào một môi trường sống của thời kì hội nhập. Còn hiểu sâu sắc
về Tiếng Việt là tác động đến kĩ năng cảm thụ thơ văn của HS. Kết hợp giữa dạy văn
và dạy tiếng sẽ tạo được hiệu quả cao giữa hai môn văn - Tiếng Việt để HS lớn lên trở
thành những con người hiện đại, được giáo dục toàn diện. Về bản chất giáo dục là sự
chuyển giao các giá trị văn hoá đông - tây, kim - cổ, một sự giao tiếp mà phương tiện
vấn đề nghĩa của từ, các lớp từ có quan hệ về ngữ nghĩa và việc dạy vấn đề này ở
trường tiểu học không gây nhiều tranh cãi như việc dạy nội dung cấu tạo từ nhưng đây
lại là công việc không mấy dễ dàng bởi vì nghĩa của từ là một vấn đề phức tạp, trừu
tượng, khó nắm bắt trong khi đó tư duy của học sinh tiểu học chủ yếu thiên về cụ thể
tư duy trừu tượng phát triển nhưng ở mức độ thấp. Các em thường lẫn lộn giữa từ
nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âm, giải nghĩa từ còn mang tính chung chung,
không chính xác. Hơn thế nữa, các em chưa ý thức được vai trò xã hội của ngôn ngữ,
chưa nắm được các phương tiện kết cấu và quy luật cũng như họat động chức năng
của nó. Mặt khác, HS cần hiểu rõ người ta nói và viết không chỉ cho riêng mình mà
cho người khác nên ngôn ngữ cần chính xác, dễ hiểu, tránh làm cho người khác hiểu
sai nội dung câu, từ, ý nghĩa diễn đạt. Chính vì vậy việc dạy nghĩa của từ và các lớp từ
có quan hệ về ngữ nghĩa có rất nhiều giáo viên trong trường quan tâm song chưa có ai
nghiên cứu nên tôi đã chọn vấn đề này giúp học sinh tháo gỡ những khó khăn, vướng
mắc khi học mảng kiến thức này của môn TV.
5
2. Chương 2. Nội dung vấn đề nghiên cứu :
Qua thực tế giảng dạy, dự giờ đồng nghiệp ở trường sở tại, trường bạn, tôi nhận
thấy việc dạy và học tốt về nghĩa của từ và các lớp từ có quan hệ về ngữ nghĩa cho
học sinh lớp 5 là một công việc rất cần thiết.
Để khắc phục được những vấn đề đã nêu ở trên, tôi tìm hiểu kĩ nội dung và
hiểu được nội dung các tiết học trong chương trình, nghiên cứu cách tổ chức các trò
chơi có thể áp dụng để hoàn thành bài học một cách nhẹ nhàng mà hiệu quả cao nhất;
giúp học sinh thư giãn, mạnh dạn nói lên suy nghĩ của mình, nêu vấn đề để cùng giải
quyết; gợi cho học sinh thấy được mối liên hệ giữa các bài học, phân môn trong Tiếng
Việt để vừa nắm chắc bài, vừa củng cố được kiến thức đã học; kiểm tra kết quả, liên
hệ thực tế… Làm tốt được điều đó, giáo viên dạy phải tâm huyết với nghề, với học
sinh, phải chuẩn bị kĩ cho mỗi bài dạy, mỗi tiết dạy và nhất là phải nghiên cứu để tìm
- Phần nhiều học sinh ngoan, tích cực trong học tập và rèn luyện.
- Các em có đầy đủ đồ dùng học tập, sách giáo khoa, vở viết đúng quy định.
- Phụ huynh học sinh luôn quan tâm đến việc rèn luyện học tập HS, có sự kết
hợp giữa phụ huynh, giáo viên và các lực lượng giáo dục trong, ngoài Nhà trường.
* Khó khăn:
+ Về phía giáo viên:
- Đôi khi ở một số tiết giáo viên chuẩn bị đồ dùng dạy học còn sơ sài chưa kích
thích được sự hứng thú, tìm tòi, sáng tạo của học sinh.
- Một vài giáo viên chưa nhanh nhạy trong việc đổi mới phương pháp dạy học
theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, lấy học sinh làm trung tâm.
+ Về phía học sinh:
- Một số ít học sinh còn lười học, làm bài còn cẩu thả, làm các bài toán dưới hình
thức qua loa cho xong.
- Một số gia đình chưa thực sự quan tâm đến việc học của con mình, còn giao
phó việc rèn luyện và học tập của học sinh cho Nhà trường.
2.1.2. Khảo sát :
* Dự giờ :
Ngay từ những ngày đầu năm học, tôi dự giờ thăm lớp của giáo viên cùng khối.
7
Qua dự giờ, tôi thấy tiết dạy đạt được một số ưu nhược điểm chính sau:
Ưu điểm:
- GV giảng dạy kiến thức cơ bản chính xác, có hệ thống.
- Dạy đúng đặc trưng bộ môn, đúng loại bài.
- Lời giảng mạch lạc, truyền cảm, quan tâm đến các đối tượng học sinh trong lớp.
- Hoạt động giữa giáo viên và học sinh diễn ra nhẹ nhàng, tự nhiên.
- Phân bố thời gian một cách hợp lý.
- HS hiểu bài, làm bài tương đối chính xác.
Khuyết điểm:
28,6% 42,8% 22,9% 5,7% 51,4% 42,9% 5,7%
Qua kết quả khảo sát, tôi thấy chất lượng làm bài ở lớp 5A cao hơn lớp 5B một
chút. Do vậy, để dạy và học phần nghĩa của từ và các lớp từ có quan hệ về ngữ nghĩa
đạt hiểu quả cao, cần chú trọng đến hình thức truyền thụ kiến thức để gây hứng thú
nâng cao chất lượng học cho học sinh. Qua tìm hiểu và áp dụng một vài biện pháp dạy
- học về vấn đề “Dạy nghĩa của từ và các lớp từ có quan hệ về ngữ nghĩa cho học
sinh lớp 5” trong năm học 2013 – 2014, tôi nhận thấy hiệu quả giờ học cao hơn, học
8
sinh hứng thú học, giờ học thật vui, thật nhẹ nhàng, sôi nổi đặc biệt mỗi học sinh đều
được bộc lộ suy nghĩ về vốn sống, vốn từ của mình
2.2. Các giải pháp :
Biện pháp dạy nghĩa của từ và các lớp từ có quan hệ về ngữ nghĩa:
Nghĩa của từ được hiểu là nội dung đối tượng vật chất, là sự phản ánh đối tượng
của hiện thực (một hiện tượng, một quan hệ, một tính chất, hay một quá trình) trong
nhận thức, được ghi lại bằng một tổ hợp âm thanh xác định. Để tăng vốn từ cho học
sinh, ngoài việc hệ thống hóa vốn từ, công việc quan trọng là làm cho học sinh hiểu
nghĩa từ, phân biệt được các lớp từ có quan hệ về ngữ nghĩa. Đây là nhiệm vụ quan
trọng trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em. Việc dạy nghĩa của từ được tiến hành
trong tất cả các giờ học, bất cứ ở đâu có cung cấp từ ngữ, thuật ngữ, khái niệm, thì ở
đó có dạy nghĩa từ. Bài tập giải nghĩa từ xuất hiện trong phân môn LTVC không nhiều
nhưng việc giải nghĩa từ lại chiếm vị trí rất quan trọng trong các bài học MRVT. Việc
cho các em hiểu nghĩa các từ chủ điểm, từ trung tâm của mỗi trường nghĩa là vô cùng
cần thiết.
Trong quá trình nghiên cứu tôi đã cụ thể bằng những biện pháp sau:
a. Biện pháp dạy nghĩa của từ cho học sinh lớp 5.
- Các biện pháp giải nghĩa từ.
- Các biện pháp tìm hiểu ý nghĩa của một số từ ngữ có giá trị nghệ thuật trong
văn bản tập đọc.
Tạm thời phân biệt cách giải nghĩa các nhóm từ như sau:
a. Nhóm các từ thuộc từ loại danh từ
* Danh từ trừu tượng
Khi giải nghĩa các danh từ trừu tượng, tôi hướng dẫn HS làm như sau:
- Chọn được các từ gọi tên các nét nghĩa khái quát.
- Xác định rõ phạm trù nghĩa của các từ cần giải nghĩa.
- Tùy đặc điểm riêng từng từ mà có thể chọn một trong các từ sau: sự, cuộc,
những, phạm vi, lĩnh vực, nơi.... làm từ công cụ để mở đầu nét nghĩa khái quát cho
mỗi từ.
10
Ví dụ:
Tôi hướng dẫn HS giải nghĩa từ: “Tư tưởng”:
- Chọn được các từ gọi tên các nét nghĩa khái quát: suy nghĩ hoặc ý nghĩ
( tập trung tư tưởng).
- Xác định rõ phạm trù nghĩa của các từ cần giải nghĩa: quan điểm và ý nghĩa
chung của người đối với hiện thực khách quan (tư tưởng tiến bộ, tư tưởng phong
kiến...)
- Chọn từ công cụ để mở đầu cho nét nghĩa “sự”.
Vậy, “tư tưởng” là sự suy nghĩ hoặc ý nghĩ ( tập trung tư tưởng), quan
điểm và ý nghĩa chung của người đối với hiện thực khách quan (tư tưởng tiến bộ,
tư tưởng phong kiến...)
* Danh từ chỉ sự vật cụ thể.
Tên gọi các sự vật tồn tại trong thực tế khách quan có rất nhiều nhưng có thể quy
về các phạm trù sau:
- Từ chỉ đồ vật, từ chỉ người và con vật, từ chỉ cây cối, chỉ các hiện tượng tự
nhiên... Vì thế nét nghĩa khái quát mở đầu cho cách giải nghĩa bằng định nghĩa.
Khi dạy bài Cửa sông (TV5- T2 - Tr 75), tôi đã hướng dẫn HS giải nghĩa từ
“Tôm rảo” : một loại tôm (nghĩa khái quát) sống ở vùng nước lợ, thân nhỏ và dài.
+ Thanh ray: (TV5 – T2 - Tr136) Thanh sắt hoặc thép (nét nghĩa chỉ loại )
ghép nối với nhau thành hai đường song song để tạo thành đường cho tàu hoả, tàu
điện hay xe goòng chạy (cụ thể hóa).
b. Nhóm các từ thuộc loại động từ
Chia động từ thành ba loại: động từ chỉ hành động, động từ chỉ trạng thái và
động từ chỉ quá trình.... nghĩa chỉ ở loại vừa nêu chính là nét nghĩa khái quát, mở đầu
cho lời giải nghĩa động từ theo cách định nghĩa. Việc xác định các nét nghĩa tiếp theo
cũng căn cứ vào nét nghĩa khái quát này. Chẳng hạn khi giải nghĩa một động từ hành
động, người giải nghĩa phải nêu được các nét nghĩa hành động tự thân hay hành động
tác động, cách thức hành động và kết quả hành động.
Ví dụ:
12
+ Trình (TV5- T2 – Tr84): hoạt động, đưa ra để người trên xem xét và giải
quyết.
Đối với các động từ chỉ ý nghĩa quá trình, sau nét nghĩa phạm trù cần nêu được
nét nghĩa chỉ diễn biến hoặc kết quả của quá trình biến đổi.
Ví dụ:
+ Hóa thân: quá trình biến đi và hiện ra lại thành một người hoặc một vật cụ thể
khác nào đó (hóa thân vào nhân vật).
Riêng đối với các động từ chỉ trạng thái, việc lựa chọn từ ngữ để giải nghĩa cần
chú ý sao cho các đặc điểm trạng thái của đối tượng được miêu tả rõ nét, nhưng
không lẫn với cách giải nghĩa các tính từ. Đặc biệt là các động từ chỉ trạng thái tâm lí,
tình cảm của con người.
Khi giải nghĩa các động từ chỉ trạng thái, nêu trạng thái của đối tượng trong
một tình trạng cụ thể như trạng thái tâm lí: xao xuyến, bồi hồi, băn khoăn, bối rối.
Hoặc trạng thái vật lí của sự vật: nứt, vỡ, mẻ, sứt... cũng có thể là các trạng thái, tình
trạng xã hội: náo loạn, nháo nhác, hỗn loạn, xôn xao. Còn khi giải nghĩa các tính từ
chỉ tính chất tâm lí, đặc điểm của người cần nêu rõ nét nghĩa thường biểu thị các đặc
+ Dạng 2: Cho từ và nghĩa của từ, yêu cầu học sinh xác lập sự tương ứng.
Ví dụ:
* Bài tập 1(TV5- T1- Tr116). Mỗi từ ở cột A dưới đây ứng với nghĩa nào ở cột
B?
A
Sinh vật
B
Quan hệ giữa sinh vật(kể cả người) với môi trường
Sinh thái
xung quanh.
Tên gọi chung các vật sống, bao gồm động vật, thực
hình thái
vật và vi sinh vật, có cinh ra, lớn lên và chết.
Hình thức biểu hiện ra bên ngoài của sự vật, có thể
quan sát được
B. Giải nghĩa theo lối so sánh từ đồng nghĩa, gần nghĩa hoặc trái nghĩa
14
Đây là cách giải nghĩa một từ bằng cách quy nó về những từ đã biết, các từ
dùng để quy chiếu đó phải được giảng kĩ.
Ví dụ: Khi dạy bài “ Tranh Làng Hồ”, tôi hướng dẫn HS giải nghĩa từ thuần
phác như sau:
Hoạt động giải nghĩa các từ ghép chính phụ cùng hình vị chính, khác nhau về
hình vị phân nghĩa sắc thái hóa, cũng thực hiện theo cách thức nêu trên.
Giải nghĩa từ bằng cách so sánh với từ trái nghĩa, giáo viên cần chú ý bản
chất của từ trái nghĩa là những từ có nghĩa trái ngược, đối lập nhau xét theo một phạm
trù nhất định. Tuy nhiên cần phân biệt, có những cặp từ trái ngược nhau tạo thành hai
cực mâu thuẫn, phủ định cực này tất yếu phải chấp nhận cực kia.
Ví dụ:
+ trắng – đen; trên- dưới... Khi nói trên có nghĩa là không phải ở dưới.
Có những từ trái nghĩa phương hướng là các từ chỉ hướng đối lập nhau trong
không gian hoặc thời gian.
Ví dụ:
nam- bắc; đông – tây; lên – xuống; ra – vào....
Lại có những từ trái nghĩa thang độ, tức là những cặp từ có nghĩa trái ngược
nhau tạo thành hai cực có điểm trung gian, phủ định cực này chưa hẳn đã tất yếu chấp
nhận cực kia.
Ví dụ:
+ nóng – lạnh, ở giữa có mát, ấm; già – trẻ, ở giữa có trung niên.... Vì thế khi
giải nghĩa từ bằng cách so sánh với các từ trái nghĩa, có trường hợp ta nói: sao nhãng
(TV5- T2- Tr153) là không nhớ ( cặp quên – nhớ). Nhưng không thể giải nghĩa rủi
(TV5- T2- Tr126) là không may mắn. Vì cặp rủi – may còn có nghĩa từ bình thường
(cuộc đời rủi ro, cuộc đời bình thường, cuộc đời may mắn). Trong thực tế, học sinh
thường quen giải nghĩa theo kiểu đối lập có – không. Như vậy, giáo viên cần chú ý
giải thích rõ hơn cho các em hiểu.
C. Giải nghĩa theo cách miêu tả
* Cách này có hai dạng:
16
- Thứ nhất là dạng dẫn tính chất (hiện tượng thường gặp) để giúp cho học sinh
hiểu ý nghĩa của từ.
theo quy ước chung trong cộng đồng và theo quy ước của pháp luật.
Biện pháp 2. Các biện pháp tìm hiểu ý nghĩa của một số từ ngữ có giá trị
nghệ thuật trong văn bản Tập đọc
Tác phẩm văn học vốn hàm súc và có nhiều tầng ý nghĩa. Việc đọc hiểu văn
bản nghệ thuật thực chất là khai thác hàm ý ẩn sâu trong câu chữ, hình ảnh, hình
tượng của tác phẩm. Đối với học sinh tiểu học, yêu cầu này là khó đối với các em.
Giáo viên cần có biện pháp giúp các em huy động vốn hiểu biết của mình từ các môn
học khác và từ trong cuộc sống để hiểu nghĩa của từ ngữ có giá trị nghệ thuật. Nhưng
làm thế nào để giúp học sinh nhận ra các từ ngữ được dùng một cách nghệ thuật. Điều
này đòi hỏi giáo viên không chỉ hướng dẫn mà cần có các bài tập cụ thể để học sinh
thực hành nhận diện và phân tích. Việc tìm hiểu ý nghĩa của một số từ ngữ có giá trị
nghệ thuật trong văn bản tập đọc nên thực hiện như sau:
A. Nhận diện các từ ngữ nghệ thuật
Trước khi tìm ra các biện pháp phân tích từ ngữ nghệ thuật, giáo viên cần giúp
học sinh nhanh chóng tìm ra các từ dùng hay trong văn bản.
Chưa phân tích làm sao biết được từ ngữ đó dùng hay như thế nào nhưng bằng
sự hiểu biết về tính cụ thể, tính trừu tượng trong nghĩa của từ, về hiện tượng nhiều
nghĩa và các quan hệ ngữ nghĩa giáo viên có thể đặt ra các câu hỏi định hướng để học
sinh xác định từ ngữ nghệ thuật.
Ví dụ : Khi dạy bài tập đọc Quang cảnh làng mạc ngày mùa SGK yêu cầu trả lời
câu hỏi sau: hãy chọn một từ chỉ màu sắc trong bài Quang cảnh làng mạc ngày mùa
mà em thích nhất ?
Với bài tập như trên, học sinh sẽ biết cách chỉ ra các từ ngữ mà các em thích,
hoặc được gợi ý là từ ngữ đó được dùng độc đáo, sáng tạo. Yêu cầu các em tìm từ ngữ
thể các biện pháp tu từ. Thực hiện bài tập trên các em sẽ tìm ra được các từ dùng đắt
trong văn bản nghệ thuật. Còn các từ đó được dùng nghệ thuật ra sao, giáo viên cần
phải hướng dẫn cụ thể.
18
Theo GS. Đỗ Hữu Châu: từ ngữ và các hình ảnh ngôn ngữ trong tác phẩm
thường nằm trong các trường hợp ngữ nghĩa sau:
a, Từ ngữ được dùng trong nghĩa chính hay nghĩa phụ ngôn ngữ và chỉ dùng
trong nghĩa đó mà thôi.
b, Từ ngữ được dùng trong nghĩa tu từ và chỉ có nghĩa tu từ mà thôi.
c, Từ ngữ vừa dùng trong nghĩa chính vừa dùng trong nghĩa bóng tu từ.
Đối với trường hợp từ chỉ dùng trong nghĩa chính, giáo viên có thể hướng dẫn
học sinh so sánh với các từ cùng trường nghĩa, đồng nghĩa hay trái nghĩa, nhờ biện
pháp tái hiện giả định quá trình lựa chọn của tác giả mà học sinh phát hiện ra cái hay,
cái đẹp của việc dùng từ.
Còn những trường hợp từ được dùng trong nghĩa phụ ngôn ngữ hay nghĩa bóng
tu từ, tức là từ được dùng với nghĩa chuyển. Nguyên tắc để phân tích hiện tượng nhiều
nghĩa trong tác phẩm là phải bám chắc lấy nghĩa chính, hiểu thật chính xác nó, dựa
vào cơ chế chuyển nghĩa mà tìm ra sự sáng tạo trong cách dùng từ của tác giả.
Ví dụ:
Trong bài thơ ‘‘Hạt gạo làng ta’’, câu thơ cuối Trần Đăng Khoa viết: Em vui em
hát, hạt vàng làng ta. Để học sinh hiểu được giá trị của từ hạt vàng trong câu, giáo
viên phải giúp học sinh hiểu nghĩa của từ: hạt vàng là kim loại hiếm có màu vàng và
có giá trị cao (quí như vàng). Nhưng trong câu thơ được tác giả sử dụng gọi thay thế
cho hạt gạo, tác giả đã dùng phép so sánh để nói nên mồ hôi công sức một nắng hai
sương của bố mẹ làm ra hạt gạo và hạt gạo đó đã góp công vào chiến thắng chung của
dân tộc. Do vậy hình ảnh hạt gạo trong bài thơ được tác giả so sánh nâng cao tầm giá
trị như hạt vàng nhưng nó lại mang sắc thái gần gũi tạo nên vẻ đẹp có giá trị nghệ
thuật cao.
Biện pháp 3. Dạy các lớp từ có quan hệ về ngữ nghĩa
Bài học về các lớp từ có quan hệ về ngữ nghĩa: từ đồng nghĩa và trái nghĩa,
nhiều nghĩa được bố trí trong môn Luyện từ và câu lớp 5 với thời lượng 9 tiết, thành
hai dạng bài. Dạng lí thuyết được xếp trong tiết học đầu tiên của mỗi lớp từ. Dạng bài
20
21
thái tình cảm, trân trọng, nâng niu, yêu thương,...( quả tim/ trái tim; quả
trứng/trái trứng)
b) Các từ đồng nghĩa khác nhau về sắc thái biểu cảm
Ví dụ 1: Cho, biếu, tặng: Cho có sắc thái trung hòa, biếu có sắc thái kính trọng,
tặng có sắc thái thân mật .
c) Do có sự khác nhau về sắc thái nghĩa và sắc thái biểu cảm nên cách dùng
các từ cũng khác nhau nên các từ đồng nghĩa không phải bao giờ cũng thay thế cho
nhau được.
Ví dụ : Hoài sơn/ củ mài ; trần bì/ vỏ quýt: Các từ Hán Việt dùng trong khoa
học còn các từ thuần Việt dùng trong đời sống .
d) Hiện tượng đồng nghĩa không tách rời hiện tượng đa nghĩa, đó là nguyên
nhân của tính mức độ. Các từ đồng nghĩa với nhau không phải đồng nghĩa về toàn bộ
dung lượng nghĩa của nó mà chỉ đồng nghĩa ở một một nghĩa nào đó mà thôi.
Ví dụ : Trông có ba nghĩa : - hướng mắt quan sát
- giữ, chăm sóc
- nương vào, nhờ vào
Dựa có ba nghĩa :
- theo, căn cứ theo
- tựa vào, nhờ vào
- nương vào, nhờ vào
Trông và dựa đồng nghĩa với nhau ở nghĩa thứ ba
*Một từ nếu là từ đa nghĩa, với các nghĩa gốc khác của nó, nó có thể đồng nghĩa
với nhiều từ khác nhau
Ví dụ : Ăn
+ Theo cơ chế ẩn dụ nghĩa của từ thường có hai dạng sau :
-Dạng 1: Nghĩa của từ phát triển dựa vào sự giống nhau về hình thức giữa các
sự vật, hiện tượng hay là dựa vào kiểu tương quan về hình dáng.
Ví dụ : Mũi1 ( mũi người) và Mũi2( mũi thuyền) :Miệng1 ( miệng xinh) và
miệng2( miệng bát)
Dạng 2 : Nghĩa của từ phát triển trên cơ sở ẩn dụ về cách thức hay chức năng,
của các sự vật, đối tượng .
Ví dụ : cắt1 ( cắt cỏ) với cắt2 ( cắt quan hệ )
23
Dạng 3 : Nghĩa của từ phát triển trên cơ sở ẩn dụ kết quả do tác động của các sự
vật đối với con người.
Ví dụ: đau1 (đau vết mổ ) và đau2 (đau lòng )
+Theo cơ chế hoán dụ có tác dụng.
Nghĩa của từ phát triển trên cơ sở quan hệ giữa bộ phận và toàn thể.
Ví dụ: Chân1, Tay1, mặt1 là những tên gọi chỉ bộ phận được chuyển sang chỉ cái
toàn thể ( anh ấy có chân2 trong đội bóng Tay2 bảo vệ của nhà máy số ba có Mặt2 trong
hội nghị)
Nghĩa của từ phát triển trên quan hệ giữa vật chứa với cái được chứa.
Ví dụ : Nhà1 Là công trình xâu dựng (Anh trai tôi đang làm nhà)
Nhà2 là gia đình ( Cả nhà có mặt)
Dạng 4 : Nghĩa của từ phát triển dựa trên nguyên liệu hay công cụ với sản
phẩm được làm ra từ nguyên liệu hay công cụ đó hoặc hành động dùng nguyên liệu
hay công cụ đó .
Ví dụ : Muối1 : Nguyên liệu ( Một kg muối) ; muối2: hành động làm cho thức ăn
chín hoặc lên men (Chị ấy muối dưa ngon lắm)
Sau khi học sinh đã được cung cấp các hiểu biết lí thuyết về các lớp từ cần học,
SGK đưa ra các bài tập luyện tập ứng với hai nhiệm vụ: củng cố khái niệm và vận
dụng khái niệm vào nói và viết. Các bài tập nhận diện tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa là
B. Một số bài tập thực hành về từ đồng nghĩa, trái nghĩa, từ nhiều nghĩa.
Như trong chương lí thuyết luận văn đã xác định rõ, đồng nghĩa có nhiều mức
độ vì thế có các loại từ đồng nghĩa khác nhau. Từ trái nghĩa cũng vậy, có trái nghĩa
đối nghịch phủ định, nhưng cũng có trái nghĩa không phủ định. Vì thế khi xây dựng
hệ thống bài tập, luận văn cố gắng bao quát được các dạng, loại để học sinh có cái
nhìn toàn diện về từ đồng nghĩa, trái nghĩa. Từ đó học sinh có vốn liếng phong phú về
các lớp từ này, thuận tiện trong sử dụng hơn. Có thể chia các
bài tập thực hành về từ đồng nghĩa và trái nghĩa thành các dạng sau:
* Dạng 1
25