I. Phần mở đầu :
ý do chọn sáng kiến kinh nghiệm :
Tính lịch sử của vấn đề nghiên cứu :
Trường Tiểu học là nơi đầu tiên trẻ em được học tập Tiếng Việt, chữ viết với
phương pháp nhà trường, phương pháp học tập tiếng mẹ đẻ một cách khoa học. Học
sinh tiểu học chỉ có thể học tập các môn khác khi có kiến thức Tiếng Việt. Bởi đối với
người Việt, tiếng Việt là phương tiện giao tiếp, là công cụ trao đổi thông tin và chiếm
lĩnh tri thức. Hơn nữa, con người muốn tư duy phải có ngôn ngữ. Cả những lúc chúng
ta nghĩ thầm trong bụng, chúng ta cũng “bụng bảo dạ” cũng nói thầm, tức là cũng sử
dụng ngôn ngữ, một hình thức ngôn ngữ mà các nhà chuyên môn gọi là ngôn ngữ bên
trong. Còn thông thường thì chúng ta thể hiện ra ngoài kết quả của hoạt động tư duy,
những ý nghĩ tư tuởng của chúng ta thành những lời nói, những thực thể ngôn ngữ
nhất định. Ngôn ngữ là công cụ, là hiện thực của tư duy. Bởi lẽ đó, tư duy và ngôn
ngữ có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Người có tư duy tốt sẽ
nói năng mạch lạc, trôi chảy và nếu trau dồi ngôn ngữ được tỉ mỉ, chu đáo thì sẽ tạo
điều kiện cho tư duy phát triển tốt. Môn Tiếng Việt trong trường tiểu học không thể là
bản sao từ chương trình khoa học Tiếng Việt vì trường có nhiệm vụ riêng của mình.
Nhưng với tư cách là một môn học độc lập, Tiếng Việt có nhiệm vụ cung cấp cho HS
những tri thức về hệ thống Tiếng Việt (hệ thống âm thanh, cấu tạo từ, cấu trúc ngữ
pháp, khả năng biểu cảm của ngôn ngữ, quy tắc hoạt động của ngôn ngữ). Đồng thời,
kiến thức môn Tiếng Việt hình thành cho HS kĩ năng giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết).
Ngoài ra, Tiếng Việt còn là công cụ giao tiếp và tư duy cho nên nó còn có chức năng
kép mà các môn học khác không có được, đó là: trang bị cho HS một số công cụ để
tiếp nhận và diễn đạt mọi kiến thức khoa học trong nhà trường, là công cụ để học các
môn học khác; kĩ năng nghe, nói, đọc, viết là phương tiện là điều kiện thiết yếu của
quá trình học tập. Bên cạnh chức năng giao tiếp, tư duy ngôn ngữ còn có chức năng
quan trọng nữa đó là thẩm mĩ, ngôn ngữ là phương tiện để tạo nên cái đẹp, hình tượng
nghệ thuật. Trong văn học, HS phải thấy được vẻ đẹp của ngôn ngữ. Vì thế ở trường
1
3. Thời gian và địa điểm :
Từ tháng 8/2013 đến tháng 3/2014.
Học sinh lớp 5 - Trường Tiểu học Quyết Thắng.
4. Đóng góp mới về mặt thực tiễn :
Trong các tiết học, giáo viên muốn phát huy được tính tích cực của học sinh,
cho các em phát hiện từ khó nhưng chưa cho học sinh hiểu nghĩa từ bằng cách diễn
đạt dễ hiểu, gây ấn tượng để các em nhớ lâu, Khi tìm hiểu nghĩa của từ có giá trị nghệ
thuật trong văn bản tập đọc không có định hướng rõ ràng, cụ thể học sinh lan man,
không có trọng tâm. Hoặc một số giáo viên khi dạy khái niệm các lớp từ có quan hệ
ngữ nghĩa giáo viên hướng dẫn học sinh phân biệt từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ
đồng âm chưa rõ ràng, cụ thể khiến nhiều em còn lúng túng khi được hỏi đến....Tất cả
những thực tế trên đều làm giảm hiệu quả của tiết dạy Tiếng việt ở lớp 5 hiện nay.
3
II. Phần nội dung :
1. Chương 1. Tổng quan.
1.1.
Cơ sở ly luận :
Ngôn ngữ văn học còn là biểu hiện bậc cao của nghệ thuật ngôn từ nên khi dạy
văn là cách bồi dưỡng năng lực ngôn ngữ tối ưu cho người học. Dạy Tiếng Việt là
đưa các em hoà nhập vào một môi trường sống của thời kì hội nhập. Còn hiểu sâu sắc
về Tiếng Việt là tác động đến kĩ năng cảm thụ thơ văn của HS. Kết hợp giữa dạy văn
và dạy tiếng sẽ tạo được hiệu quả cao giữa hai môn văn - Tiếng Việt để HS lớn lên trở
thành những con người hiện đại, được giáo dục toàn diện. Về bản chất giáo dục là sự
chuyển giao các giá trị văn hoá đông - tây, kim - cổ, một sự giao tiếp mà phương tiện
vấn đề nghĩa của từ, các lớp từ có quan hệ về ngữ nghĩa và việc dạy vấn đề này ở
trường tiểu học không gây nhiều tranh cãi như việc dạy nội dung cấu tạo từ nhưng đây
lại là công việc không mấy dễ dàng bởi vì nghĩa của từ là một vấn đề phức tạp, trừu
tượng, khó nắm bắt trong khi đó tư duy của học sinh tiểu học chủ yếu thiên về cụ thể
tư duy trừu tượng phát triển nhưng ở mức độ thấp. Các em thường lẫn lộn giữa từ
nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âm, giải nghĩa từ còn mang tính chung chung,
không chính xác. Hơn thế nữa, các em chưa ý thức được vai trò xã hội của ngôn ngữ,
chưa nắm được các phương tiện kết cấu và quy luật cũng như họat động chức năng
của nó. Mặt khác, HS cần hiểu rõ người ta nói và viết không chỉ cho riêng mình mà
cho người khác nên ngôn ngữ cần chính xác, dễ hiểu, tránh làm cho người khác hiểu
sai nội dung câu, từ, ý nghĩa diễn đạt. Chính vì vậy việc dạy nghĩa của từ và các lớp từ
có quan hệ về ngữ nghĩa có rất nhiều giáo viên trong trường quan tâm song chưa có ai
nghiên cứu nên tôi đã chọn vấn đề này giúp học sinh tháo gỡ những khó khăn, vướng
mắc khi học mảng kiến thức này của môn TV.
5
2. Chương 2 Nội dung vấn đề nghiên cứu :
Qua thực tế giảng dạy, dự giờ đồng nghiệp ở trường sở tại, trường bạn, tôi nhận
thấy việc dạy và học tốt về nghĩa của từ và các lớp từ có quan hệ về ngữ nghĩa cho
học sinh lớp 5 là một công việc rất cần thiết.
Để khắc phục được những vấn đề đã nêu ở trên, tôi tìm hiểu kĩ nội dung và
hiểu được nội dung các tiết học trong chương trình, nghiên cứu cách tổ chức các trò
chơi có thể áp dụng để hoàn thành bài học một cách nhẹ nhàng mà hiệu quả cao nhất;
giúp học sinh thư giãn, mạnh dạn nói lên suy nghĩ của mình, nêu vấn đề để cùng giải
quyết; gợi cho học sinh thấy được mối liên hệ giữa các bài học, phân môn trong Tiếng
Việt để vừa nắm chắc bài, vừa củng cố được kiến thức đã học; kiểm tra kết quả, liên
hệ thực tế… Làm tốt được điều đó, giáo viên dạy phải tâm huyết với nghề, với học
sinh, phải chuẩn bị kĩ cho mỗi bài dạy, mỗi tiết dạy và nhất là phải nghiên cứu để tìm
- Giáo viên quan tâm đến các đối tượng học sinh, nhiệt tình trong công tác
giảng dạy.
+ Về phía học sinh:
- Phần nhiều học sinh ngoan, tích cực trong học tập và rèn luyện.
- Các em có đầy đủ đồ dùng học tập, sách giáo khoa, vở viết đúng quy định.
- Phụ huynh học sinh luôn quan tâm đến việc rèn luyện học tập HS, có sự kết
hợp giữa phụ huynh, giáo viên và các lực lượng giáo dục trong, ngoài Nhà trường.
* Khó khăn:
+ Về phía giáo viên:
- Đôi khi ở một số tiết giáo viên chuẩn bị đồ dùng dạy học còn sơ sài chưa kích
thích được sự hứng thú, tìm tòi, sáng tạo của học sinh.
- Một vài giáo viên chưa nhanh nhạy trong việc đổi mới phương pháp dạy học
theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, lấy học sinh làm trung tâm.
+ Về phía học sinh:
- Một số ít học sinh còn lười học, làm bài còn cẩu thả, làm các bài toán dưới hình
thức qua loa cho xong.
- Một số gia đình chưa thực sự quan tâm đến việc học của con mình, còn giao
phó việc rèn luyện và học tập của học sinh cho Nhà trường.
2.1.2 Khảo sát :
* Dự giờ :
Ngay từ những ngày đầu năm học, tôi dự giờ thăm lớp của giáo viên cùng khối.
7
Qua dự giờ, tôi thấy tiết dạy đạt được một số ưu nhược điểm chính sau:
Ưu điểm:
- GV giảng dạy kiến thức cơ bản chính xác, có hệ thống.
- Dạy đúng đặc trưng bộ môn, đúng loại bài.
- Lời giảng mạch lạc, truyền cảm, quan tâm đến các đối tượng học sinh trong lớp.
- Hoạt động giữa giáo viên và học sinh diễn ra nhẹ nhàng, tự nhiên.
Y
G
K
TB
8HS
2HS
18 HS
15 HS
2 HS
51,4%
42,9%
5,7%
28,6% 42,8% 22,9% 5,7%
Y
Qua kết quả khảo sát, tôi thấy chất lượng làm bài ở lớp 5A cao hơn lớp 5B một
chút. Do vậy, để dạy và học phần nghĩa của từ và các lớp từ có quan hệ về ngữ nghĩa
hợp với mục đích dạy học, phù hợp với đối tượng học sinh. Đối với học sinh lớp 5
việc giải nghĩa từ không thể giống với học sinh lớp 1-2. Mặt khác hoạt động giải
nghĩa từ nói chung cũng sẽ có điểm khác với việc giải nghĩa từ ngữ được dùng có tính
nghệ thuật. Theo định hướng vừa nêu, tôi cố gắng tìm ra các biện pháp giải nghĩa từ
9
thích hợp với lượng từ ngữ cần cung cấp cho học sinh lớp 5 và các biện pháp tìm hiể
u từ ngữ nghệ thuật trong các văn bản Tập đọc của khối lớp 5.
Biện pháp 1: Giải nghĩa từ cho học sinh lớp 5.
Qua 16 tiết MRVT và 69 văn bản tập đọc, tôi thống kê được hơn 200 từ học sinh
cần hiểu nghĩa. Đây là số lượng từ khá lớn so với khả năng giải nghĩa của học sinh độ
tuổi 11,12. Trong một số công trình nghiên cứu về PPDH TV và một số tài liệu hướng
dẫn giáo viên tiểu học dạy từ ngữ đã nêu một số cách giải nghĩa sau:
“Giải nghĩa bằng trực quan; giải nghĩa bằng cách đối chiếu so sánh với các từ
khác; giải nghĩa bằng các từ đồng nghĩa, trái nghĩa; giải nghĩa từ bằng cách phân
tích từ các thành tố và giải nghĩa từng thành tố này; giải nghĩa bằng định nghĩa....
Tôi đã chia các từ mà sách giáo khoa TV5 yêu cầu học sinh hiểu nghĩa thành
các nhóm và xác định biện pháp giải nghĩa từ tương ứng với mỗi nhóm.
A. Giải nghĩa bằng định nghĩa
Giải nghĩa bằng định nghĩa là biện pháp giải nghĩa bằng cách nêu nội dung
nghĩa, gồm tập hợp các nét nghĩa bằng một định nghĩa. Tập hợp nét nghĩa được liệt kê
theo sự sắp xếp nét nghĩa khái quát, cũng là nét nghĩa từ loại lên trước hết và các nét
nghĩa càng hẹp, càng riêng thì càng ở sau. Tôi đã hướng dẫn HS:
- Nhận dạng được ý nghĩa phạm trù của từ.
- Xác định tiểu loại của từ.
Tạm thời phân biệt cách giải nghĩa các nhóm từ như sau:
a. Nhóm các từ thuộc từ loại danh từ
* Danh từ trừu tượng
Khi giải nghĩa các danh từ trừu tượng, tôi hướng dẫn HS làm như sau:
+ (cái) Bay (TV5- T1- Tr 148): đồ vật (nét nghĩa phạm trù), dụng cụ của thợ nề,
gồm một miếng thép mỏng hình lá lắp vào cán (nét nghĩa hình dáng, kích thước, cấu
tạo) , dùng để xây, trát, láng ( nét nghĩa chức năng).
Khi giải nghĩa các từ bàn, ghế, sập, các em sẽ miêu tả cấu tạo các đồ vật này na
ná như nhau, nhưng nhất thiết các em phải nói được bàn dùng để kê viết hoặc đặt đồ
đạc, ghế dùng để ngồi, sập dùng để nằm. Các đồ vật này khác nhau về chức năng.
11
Thực tế ở tiểu học, rất nhiều trường hợp học sinh thậm chí cả giáo viên chỉ nêu được
nét nghĩa chức năng khi giải nghĩa danh từ chỉ đồ vật dụng cụ.
Ví dụ:
+ men:(TV 5 - T1 – Tr118) chất được dùng trong quá trình làm bia , rượu; chất
gây say.
- Cách giải nghĩa các từ chỉ động, thực vật.
Khi giải nghĩa các từ thuộc loại này, giáo viên có thể nêu đây là một loại động
vật, thực vật, thuộc họ.... Tuy nhiên để giảng nghĩa ngắn gọn, giáo viên nên nêu trực
tiếp nghĩa khái quát của từng loại, tiếp đến là các nét nghĩa hình dáng, kích thước, môi
trường sống hoặc tính năng của loài động vật, thực vật đó.
Ví dụ:
+ Con mang (con hoẵng) (TV5- T1- Tr 75): Loài thú rừng(nghĩa khái quát ),
cùng họ với hươu (thuộc họ), sừng bé có hai nhánh và lông vàng đỏ (hình dáng, kích
thước).
Danh từ có nhiều tiểu loại, với mỗi tiểu loại, cách giải nghĩa bằng định nghĩa
cũng tương tự nghĩa là đưa nét nghĩa chỉ loại lên trước hết, sau đó mới cụ thể hóa.
Ví dụ:
+ Thanh ray: (TV5 – T2 - Tr136) Thanh sắt hoặc thép (nét nghĩa chỉ loại )
ghép nối với nhau thành hai đường song song để tạo thành đường cho tàu hoả, tàu
điện hay xe goòng chạy (cụ thể hóa).
b. Nhóm các từ thuộc loại động từ
Tính từ thường được chia làm hai loại:
- Tính từ không mức độ: Để thể hiện được mức độ đặc điểm, tính chất mà
chúng biểu thị, những tính từ này có thể kết hợp với các từ: rất, quá, lắm...
Ví dụ: trắng, vàng, xanh, đỏ, tròn... .
- Tính từ có mức độ: các tính từ này đã hàm chứa ý nghĩa mức độ nên chúng
không kết hợp được với các từ rất, quá, lắm ... Vì vậy khi dạy các em giải nghĩa các
từ thuộc từ loại tính từ, nét nghĩa phạm trù cần nêu trước hết chính là nét nghĩa tính
chất, đặc điểm. Các nét nghĩa cần trình bày theo lối miêu tả.
13
Ví dụ:
+ Lan man: nhiều ( nói, viết, suy nghĩ) hết cái này đến cái kia một cách mạch
lạc, không hệ thống.
Giải nghĩa bằng tập hợp các nét nghĩa là cách dạy đầy đủ nhất nhưng là một
yêu cầu khó đối với học sinh tiểu học, vì vậy các bài tập giải nghĩa trong môn LTVC
thường xây dựng dưới dạng cho sẵn từ và nghĩa của từ, các định nghĩa về từ yêu cầu
học sinh xác lập sự tương ứng.
Loại này có 2 tiểu dạng.
+ Dạng 1: Cho sẵn các từ yêu cầu học sinh tìm trong các nghĩa đã cho nghĩa
phù hợp với từ.
Ví dụ: * Bài tập 1(TV5- T1- Tr 47) Dòng nào dưới đây nêu đúng nghĩa của từ
hoà bình:
a, Trạng thái bình thản.
b, Trạng thái không có chiến tranh.
c, Trạng thái hiền hoà, yên ả.
+ Dạng 2: Cho từ và nghĩa của từ, yêu cầu học sinh xác lập sự tương ứng.
Ví dụ:
* Bài tập 1(TV5- T1- Tr116). Mỗi từ ở cột A dưới đây ứng với nghĩa nào ở cột
B?
miêu tả. Bên cạnh việc đưa ra các từ đồng nghĩa, gần nghĩa để đối chiếu, cần bổ sung
thêm những nét nghĩa riêng cho từng từ nên khi giải nghĩa chúng ta có thể chỉ cần làm
rõ nghĩa một từ nhưng việc xác định loạt đồng nghĩa sẽ giúp chúng ta hiểu rõ nghĩa
của từ cần giải nghĩa hơn.
Ví dụ:
Khi giải nghĩa từ lốc (cơn lốc), chúng ta đưa từ này về loạt đồng nghĩa: lốc, gió,
bão, giông, giông tố,..... Trong loạt từ trên, chúng ta chọn từ gió làm từ trung tâm rồi
giảng nghĩa từ thật kĩ, rồi bổ sung những nghĩa đặc thù cho các từ lốc, bão, giông...
+ gió: là hiện tượng không khí trong khí quyển chuyển động thành luồng từ
vùng có áp suất cao đến vùng có áp suất thấp.
+ lốc: gió xoáy mạnh trong phạm vi nhỏ.
+ giông: biến động mạnh của thời tiết, thường có gió to giật mạnh và có sấm
sét, mưa rào.
+ giông tố: cơn giông có gió rất to và mạnh (thường dùng để ví cảnh gian nan
đầy thử thách)
Đối với các từ ghép đồng nghĩa cần chú ý đến nghĩa của các hình vị. Chính ý
nghĩa của hình vị cấu tạo góp phần phân biệt nghĩa của từ này với từ kia.
Ví dụ:
Để giải nghĩa từ vàng xuộm, hoặc vàng xọng và vàng lịm. Trước hết chúng ta
quy chiếu chúng với từ vàng (chỉ màu sắc vàng), rồi đưa thêm các nghĩa riêng của
hình vị xuộm, xọng, lịm vào từng từ. Cụ thể:
15
+ vàng xuộm: màu vàng đậm trên diện rộng.
+ vàng xọng: màu vàng gợi cảm giác mọng nước.
+ vàng lịm: màu vàng gợi cảm giác rất ngọt.
Hoạt động giải nghĩa các từ ghép chính phụ cùng hình vị chính, khác nhau về
hình vị phân nghĩa sắc thái hóa, cũng thực hiện theo cách thức nêu trên.
Giải nghĩa từ bằng cách so sánh với từ trái nghĩa, giáo viên cần chú ý bản
hóa, hoặc từ ghép phân nghĩa sắc thái hóa, một mặt vừa phải kết hợp cách giảng theo
định nghĩa, mặt khác phải dùng lối miêu tả. Để miêu tả, chúng ta có thể lấy một sự
vật, hoạt động cụ thể làm chỗ dựa rồi miêu tả sự vật, hoạt động đó sao cho nổi bật lên
các nét nghĩa chứa đựng trong từ.
Ví dụ:
+ vật vờ: lay động nhẹ, yếu ớt, như không có sức mạnh chống đỡ từ bên trong,
mặc cho sức mạnh bên ngoài kéo đi, lôi lại như cây cỏ dài lay động trong làn nước
nhẹ.
Nếu như cách giải nghĩa theo định nghĩa bắt đầu từ các ý nghĩa biểu niệm thì
giảng nghĩa theo cách miêu tả về cơ bản là bắt đầu bằng một ý nghĩa biểu vật tiêu biểu
nhất để giúp học sinh lĩnh hội được nghĩa biểu vật. Điều này cho phép giáo viên chấp
nhận những lời giải nghĩa của học sinh như sau:
* Bài tập đọc: Quang cảnh làng mạc ngày mùa (TV5- T1- Tr10).
+ Vàng ối: là màu vàng của lá mít.
+ Vàng xuộm: là màu của cánh đồng lúa chín đều.
+ Vàng giòn: là màu vàng của rơm, rạ phơi rất khô.
D. Giải nghĩa theo cách phân tích từ ra từng tiếng và giải nghĩa từng tiếng
Cách giải nghĩa này có ưu thế đặc biệt khi giải nghĩa từ Hán việt. Việc giải nghĩa
từng tiếng rồi khái quát nêu ý nghĩa chung của cả từ sẽ giúp học sinh cơ sở nắm vững
nghĩa từ.
Ví dụ: + Nhân quyền: (TV5- T2- Tr 147) : nhân: người; những điều được
hưởng, được làm, được yêu cầu theo quy ước chung trong cộng đồng và theo quy ước
của pháp luật.
17
Nhân quyền: những điều mà con người được hưởng, được làm, được yêu cầu,
theo quy ước chung trong cộng đồng và theo quy ước của pháp luật.
Biện pháp 2. Các biện pháp tìm hiểu ý nghĩa của một số từ ngữ có giá trị
nghệ thuật trong văn bản Tập đọc
tác phẩm. Nghĩa là từ ngữ mà giáo viên và học sinh đang xem xét đã cùng với các từ
ngữ khác trong hệ thống bộc lộ ý chủ đạo của văn bản ra sao và giá trị riêng của từ
ngữ đó là gì. Với học sinh tiểu học chúng ta không nên hoặc hạn chế dùng khái niệm
hệ thống khi hướng dẫn học sinh phân tích từ ngữ mà chỉ lên dùng cách nói: tìm điểm
chung, điểm riêng giữa từ đang tìm hiểu với các từ khác.
Ví dụ 1: Có thể dùng từ nào thay thế cho từ đẫm trong câu:
Với đôi cánh đẫm nắng trời
Bầy ong bay đến trọn đời tìm hoa.
Đối với bài tập trên, hình thức giống bài tập thay thế, tích cực hóa vốn từ nhưng
thực chất là dạng bài tập gợi ý phân tích từ ngữ theo lối so sánh đồng nhất và đối lập.
Khi làm bài tập này chắc chắn học sinh phải tìm từ đồng nghĩa với từ đẫm như: sũng,
thấm đẫm, ngập,vv... và phân tích đối chiếu để khẳng định từ đẫm dùng trong ngữ
cảnh này là hợp lí nhất, có tác dụng gợi hình ảnh và biểu cảm rõ rệt.
Ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học thường có tính nhiều nghĩa. Các từ ngữ
được dùng độc đáo, sáng tạo thường hàm ý gợi sự liên tưởng phong phú. Làm thế nào
để học sinh tiểu học vốn quen với tư duy cụ thể có thể hiểu được các nghĩa khác nhau
trong từ nhiều nghĩa, từ nghĩa trực tiếp, cụ thể đến nghĩa gián tiếp, trừu tượng. Giáo
viên cần hiểu hiện tượng nhiều nghĩa trong ngôn ngữ nghệ thuật tuy khác nhưng vẫn
bị chi phối bởi những quy tắc chi phối hiện tượng nhiều nghĩa trong ngôn ngữ. Vì thế
biện pháp giải nghĩa các từ nhiều nghĩa được dùng có giá trị nghệ thuật cần phải bám
chắc vào các quan hệ ngữ nghĩa mà tìm ra những giá trị nội dung và nghệ thuật của từ
cần phân tích.
C.. Phân tích mối quan hệ giữa nghĩa chính và nghĩa chuyển của từ nhiều
nghĩa.
19
Theo GS. Đỗ Hữu Châu: từ ngữ và các hình ảnh ngôn ngữ trong tác phẩm
thường nằm trong các trường hợp ngữ nghĩa sau:
thuyết, 3 tiết luyện tập) từ trái nghĩa 2 tiết (1 tiết lí thuyết, 1 tiết luyện tập), Từ nhiều
nghĩa 3 tiết (1 tiết lí thuyết, 2 tiết luyện tập) Cấu trúc nội dung bài học của mỗi dạng
bài được biên soạn theo cách khác nhau.
A. Cấu trúc nội dung bài học các lớp từ có quan hệ về ngữ nghĩa trong sách
giáo khoa.
A.1. Cấu trúc nội dung bài học lý thuyết.
Giống như cấu trúc nội dung bài học lí thuyết Luyện từ và câu nói chung, bài
học lí thuyết về từ đồng nghĩa, trái nghĩa, từ nhiều nghĩa ...được biên soạn theo cấu
trúc ba phần : Phần I. Nhận xét
Phần II. Ghi nhớ
Phần III. Luyện tập.
Nhiệm vụ của phần I và phần II là hình thành khái niệm, vì thế trong phần nhận
xét, SGK đưa ra các ngữ liệu và hệ thống bài tập để học sinh tìm ra được các dấu hiệu
của khái niệm. Kết quả của quá trình hình thành khái niệm được chốt ở mục II, phần
ghi nhớ.
Khi học khái niệm từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm, giáo viên cần
hướng dẫn học sinh phân biệt từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm:
*Từ đồng nghĩa:
a) Bản chất từ đồng nghĩa
Từ đồng nghĩa là những từ đồng nhất với nhau về nghĩa nhưng có một số từ có
sự khác biệt nhất định về sắc thái nghĩa. Khi phân tích từ đồng nghĩa có hai thao tác ,
đó là chỉ ra sự giống nhau và khác nhau nhưng quan trọng là phải chỉ ra được sự khác
nhau về sắc thái .
Ví dụ 1: Quả, trái
Giống nhau: Sản phẩm của cây trong một thời kì sinh trưởng nhất định (quả
mít/ trái mít)
Khác nhau: Quả gợi tính hình khối, tròn, treo lủng lẳng, trái toát ra sắc
21
Các từ lúc mới xuất hiện đều chỉ có một nghĩa, trải quan thời gian có thêm
22
nhiều nghĩa mới ( nghĩa phái sinh, nghĩa bóng) được tạo ra từ nghĩa cơ sớ (nghĩa gốc,
nghĩa đen) đó, trên cơ sở những biểu tượng nhất định.
Biểu tượng làm hình ảnh về hình dáng, kích thước, đặc điểm, tính chất của sự
vật được phản ánh trong ngôn ngữ trong nghĩa gốc của từ dưới dạng các nét nghĩa trở
thành cơ sở để tự phát triển thêm nghĩa mới.Nhờ vào quan hệ liên tưởng tương đồng
(ẩn dụ) và tương cận ( hoán dụ ) người ta liên tưởng từ sự vật này đến sự vật kia trên
những đặc điểm, hình dáng , tính chất giống nhau hay gần nhau giữa các sự vật ấy.Từ
chỗ gọi tên sự vật, tính chất, hành động này (nghĩa 1) chuyển sang gọi tên sự vật, tính
chất, hành động khác nghĩa ( nghĩa 2), quan hệ đa nghĩa của từ nảy sinh từ đó .
Ví dụ: Khi tìm hiểu nghĩa của từ Chín, tôi hướng dẫn HS tìm được những nghĩa
sau:
(1) Chỉ quả đã qua một quá trình phát triển, đạt đến độ phát triển cao nhất, hoàn thiện
nhất, độ mềm nhất định, màu sắc đặc trưng.
(2)Chỉ quá trình vận động, quá trinh rèn luyện từ đó, khi đạt đến sự phát triển cao
nhất ( Suy nghĩ chín, tình thế cách mạng đã chín)
(3)Sự thay đổi màu sắc nước da ( ngượng chín cả mặt )
(4)Trải qua một quá trình đã đạt đến độ mềm (cam chín).
Như vậy muốn phân tích được nghĩa của từ đa nghĩa, trước hết phải miêu tả thật
đầy đủ các nét nghĩa của nghĩa gốc để làm cơ sở cho sự phân tích nghĩa.
Nghĩa của từ phát triển thường dựa trên hai cơ sở :
+ Theo cơ chế ẩn dụ nghĩa của từ thường có hai dạng sau :
-Dạng 1: Nghĩa của từ phát triển dựa vào sự giống nhau về hình thức giữa các
sự vật, hiện tượng hay là dựa vào kiểu tương quan về hình dáng.
Ví dụ : Mũi1 ( mũi người) và Mũi2( mũi thuyền) :Miệng1 ( miệng xinh) và
miệng2( miệng bát)
Dạng 2 : Nghĩa của từ phát triển trên cơ sở ẩn dụ về cách thức hay chức năng,
Việc đặt các từ trái nghĩa bên cạnh nhau có tác dụng làm nổi bật những sự vật,
sự việc, hoạt động, trạng thái... đối lập nhau.
Ví dụ : Cây cau thì cao còn cây lúa thì thấp.
24
A.2. Cấu trúc nội dung bài học luyện tập về các lớp từ.
Những bài Luyện từ và câu nói chung được cấu thành từ một tổ hợp bài tập
được gọi là bài luyện tập. Các bài tập trong bài học thực hành này không phải được
sắp đặt tùy ý mà phải theo một tổ chức, trật tự nhất định. Thường thì trong mỗi bài
học Luyện tập về các lớp từ, các bài tập được sắp xếp theo trình tự nhiệm vụ như sau:
a, Bài tập tự nhận diện.
b, Bài tập phân loại.
c, Bài tập đặt câu, viết đoạn, lựa chọn từ ngữ thích hợp để hoàn chỉnh đoạn
văn.
Như vậy hệ thống bài tập trong các bài luyện tập được biên soạn đúng theo cấu
trúc bài tập ở mục III luyện tập của bài lí thuyết. Tuy nhiên các dạng nhỏ trong mỗi
loại đa dạng hơn và yêu cầu được nâng cao hơn.
Mặc dù nội dung bài học được chia làm hai kiểu: lí thuyết và thực hành nhưng
hoạt động hướng dẫn học sinh học lí thuyết vẫn là hoạt động hướng dẫn học sinh thực
hành làm bài tập. Phát huy tiềm năng ngôn ngữ của người bản ngữ trong học sinh,
giáo viên hướng dẫn các em làm các bài tập để tìm ra dấu hiệu của khái niệm. Vì vậy,
đề tài của tôi tập trung vào nhiệm vụ xây dựng hệ thống bài tập nhận diện và bài tập
rèn kĩ năng sử dụng từ đồng nghĩa, trái nghĩa cho HS.
B Một số bài tập thực hành về từ đồng nghĩa, trái nghĩa, từ nhiều nghĩa
Như trong chương lí thuyết luận văn đã xác định rõ, đồng nghĩa có nhiều mức
độ vì thế có các loại từ đồng nghĩa khác nhau. Từ trái nghĩa cũng vậy, có trái nghĩa
đối nghịch phủ định, nhưng cũng có trái nghĩa không phủ định. Vì thế khi xây dựng
hệ thống bài tập, luận văn cố gắng bao quát được các dạng, loại để học sinh có cái
nhìn toàn diện về từ đồng nghĩa, trái nghĩa. Từ đó học sinh có vốn liếng phong phú về