So sánh truyện thơ dân tộc Thái và truyện thơ dân tộc H''Mông (Trên cứ liệu hai tác phẩm Tiễn dặn người yêu và Tiếng hát làm dâu) - Pdf 40

Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o
Tr-êng ®¹i häc s- ph¹m hµ néi 2

BÙI QUANG VINH

SO SÁNH TRUYỆN THƠ DÂN TỘC THÁI
VÀ TRUYỆN THƠ DÂN TỘC H’MÔNG
(TRÊN CỨ LIỆU HAI TÁC PHẨM TIỄN DẶN NGƯỜI YÊU
VÀ TIẾNG HÁT LÀM DÂU)
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN THANH TÚ

Hµ Néi, 2013


LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn ban Giám hiệu, phòng Sau đại học, ban chủ nhiệm
khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện cho tôi được học
tập, nghiên cứu và bảo vệ luận văn Thạc sỹ tại trường.
Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sỹ, giảng viên
viện Văn học, khoa Ngữ văn trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã nhiệt tình giảng
dạy và định hướng trong quá trình học tập cũng như nghiên cứu của tôi.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Thanh Tú và gia
đình đã tạo điều kiện và tận tình hướng dẫn để tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn ban Giám hiệu trường Trung cấp Văn hóa, Nghệ
thuật và Du lịch tỉnh Lào Cai; ban Giám đốc Trung tâm Thực nghiệm và Biểu diễn
đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và bảo

Hà Nội, tháng 7 năm 2013
Tác giả luận văn

Bùi Quang Vinh


MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................

1

1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................

1

2. Lịch sử vấn đề.............................................................................................

2

2.1. Về truyện thơ Thái ..................................................................................

2

2.2. Về truyện thơ H’Mông ............................................................................

5

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................


PHẦN NỘI DUNG.........................................................................................

10

Chương 1: Môi trường văn hóa ......................................................................

10

1.1. Dân tộc Thái ............................................................................................

10

1.1.1. Môi trường tự nhiên ......................................................................

10

1.1.2. Cơ sở xã hội ...................................................................................

10

1.1.3. Về văn nghệ dân gian ....................................................................

15

1.2. Dân tộc H’Mông ......................................................................................

18

1.2.1. Môi trường tự nhiên ......................................................................


33

2.2. Về nhân vật ..............................................................................................

37

2.2.1. Con người tình yêu ........................................................................

37

2.2.1.1. Con người tình yêu biểu hiện qua cốt truyện .......................

37

2.2.1.2. Con người tình yêu biểu hiện qua nhân vật chính ...............

39

2.2.2. Con người bi kịch ..........................................................................

40

2.2.2.1. Bi kịch về cuộc đời cô gái ...................................................

40

2.2.2.2. Bi kịch tình yêu tan vỡ .........................................................

43


63

2.4. Nguyên nhân của sự tương đồng .............................................................

66

2.4.1. Nguyên nhân về thể loại ................................................................

66

2.4.2. Nguyên nhân lịch sử văn hóa ........................................................

67

Chương 3: Những điểm khác biệt giữa Tiễn dặn người yêu và Tiếng hát
làm dâu ...........................................................................................................

69

3.1. Về nội dung .............................................................................................

69

3.1.1. Cốt truyện ......................................................................................

69

3.1.2. Mức độ trong đấu tranh để bảo vệ tình yêu ..................................

71

3.4. Nguyên nhân sự khác biệt .......................................................................

87

3.4.1. Nền tảng văn hóa, phong tục, tập quán, tín ngưỡng ......................

87

3.4.2. Nhóm ngôn ngữ khác nhau ...........................................................

87

PHẦN KẾT LUẬN ........................................................................................

93

Danh mục tài liệu tham khảo ..........................................................................

95


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, văn hoá Việt Nam cũng là nền văn
hoá đa dân tộc. Bởi vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng của đường lối chiến
lược văn hoá – văn nghệ hiện nay là: “Khai thác và phát triển mọi sắc thái và giá trị
văn hoá, nghệ thuật của các dân tộc trên đất nước ta, tạo ra sự thống nhất trong tính
đa dạng và phong phú của nền văn hoá Việt Nam” [5:111]. Báo cáo Chính trị của

được nhiều nhà nghiên cứu văn học sưu tầm, tìm hiểu. Chúng tôi xin điểm lại một
số công trình cơ bản sau đây:
2.1. Về truyện thơ Thái
Năm 1957, nhà nghiên cứu văn học Điêu Chính Ngâu – Dịch và giới thiệu
truyện thơ Tiễn dặn người yêu lần đầu tiên ra tiếng Việt từ nguyên bản chữ Thái.
Trong lời giới thiệu, Điêu Chính Ngâu đã nhận định sơ lược về giá trị phản ánh xã
hội của tác phẩm. Ông có đề cập tới giá trị nghệ thuật của tác phẩm nhưng không đi
sâu mà chủ yếu bàn về ảnh hưởng của ca dao dân ca Thái trong tác phẩm.
Năm 1958, Điêu Chính Ngâu, Hà Lem, Cầm Biêu - Dịch và giới thiệu truyện
thơ Tiễn dặn người yêu lần thứ 2.
Năm 1977, nhà nghiên cứu, nhà văn Mạc Phi đã chỉnh lí nội dung và dịch
một cách đầy đủ tác phẩm Tiễn dặn người yêu sang tiếng Việt. Trong lời giới thiệu,
Mạc Phi đã đề cập đến nội dung tác phẩm khá sâu sắc, thể hiện ở những mặt sau:
Tác phẩm ngợi ca mối tình đầu trong trắng thủy chung; Tác phẩm mang giá trị nhân
đạo sâu sắc và có ranh giới “…ta cũng phải thừa nhận rằng lòng yêu thương của họ
thực đã có ranh giới. Tuy không thể như tinh thần nhân đạo sáng suốt, trọn vẹn của
chúng ta ngày nay nhưng tinh thần nhân đạo trong Tiễn dặn người yêu cũng đã khác
lắm với cái “lòng nhân” mơ hồ, chung chung”. [31:30]; Tác phẩm là tiếng hát đấu
tranh. Về phương diện giá trị hình thức, nhà nghiên cứu nêu ra “vài đặc điểm về
nghệ thuật”: “Tiễn dặn người yêu là một truyện thơ nhưng đặc biệt chú ý đến sự
miêu tả nội tâm nhân vật, có trạng thái tâm hồn phức tạp, có khi mâu thuẫn”[31:39];
“Về miêu tả, “Tiễn dặn người yêu”sở trường trong việc miêu tả tính cách nhân vật
qua lời nói nhân vật”[31:39]; “Chúng ta gặp hầu hết các thể thơ thông dụng, từ thể
khắp bắc câu dài 11, 12 chữ đến thể khống khái câu ngắn 5, 6 chữ. Những thể thơ


3

này được xen kẽ nhau một cách điêu luyện tài tình”[31:40]; “Ngôn ngữ Tiễn dặn
người yêu là ngôn ngữ hằng ngày của nhân dân được nâng cao lên và chau chuốt


nhau, lớn lên, yêu nhau; Bị cha mẹ Chị từ chối, Anh bỏ đi buôn để khi về có tiền sẽ
cưới Chị; Ở nhà, Chị bị ép gả, Chị cố trì hoãn nhưng đám cưới vẫn diễn ra; Anh trở
về đúng lễ cưới, Anh tiễn Chị cách để được đoàn tụ; Chị bị gả bán nhiều lần; Cuối
cùng họ được gặp lại nhau và sống hạnh phúc. Ở phần so sánh cốt truyện, tác giả
nhận định: “Tiễn dặn người yêu đã hút vào lòng mình cả dân ca Tản chụ xống
xương, cả dân ca Xắng chụ. Nhưng không sử dụng nguyên xi mà có cải tiến cho
phù hợp với chủ đề của cốt truyện mới”[29: 99]. Tiếp đó, tác giả so sánh cốt truyện
Tiễn dặn người yêu với cốt truyện và Tản chụ xống xương để thấy sự kế thừa và
phát triển của Tiễn dặn người yêu. Tác giả cũng tìm hiểu dấu vết của dân ca trong
Tiễn dặn người yêu ở các phương diện: nhân vật không có tên, sự vay mượn chi tiết
tiết từ dân ca. Về ngôn ngữ thơ, Lê Trường Phát đã chỉ ra sự sai lệch của việc dịch
thơ đồng thời chỉ ra sự thay đổi phong cách học giữa lời dịch thơ của Mạc Phi và
nguyên tác. Cũng về vấn đề ngôn ngữ truyện thơ, tác giả tìm hiểu cách mở đầu làm
cho người kể chuyện chính là một nhân vật của truyện. Về vấn đề truyện thơ và việc
sử dụng dân ca, tác giả tìm hiểu trước hết là vấn đề môi trường diễn xướng và chỉ
ra: Truyện thơ và dân ca có sự tương đồng trong cách tư duy nghệ thuật.
Công trình Nghiên cứu thi pháp truyện thơ Tiễn dặn người yêu – luận văn
thạc sỹ của tác giả Ngô Thanh Quý [35], luận văn gồm 5 chương:
Chương I: Truyện thơ Tiễn dặn người yêu trong hoàn cảnh môi trường địa lí
tự nhiên – lịch sử tộc người Tây Bắc.
Ở chương này, tác giả tập trung vào việc xem xét hoàn cảnh của môi trường
sống của người Thái và sơ lược về lịch sử tộc Thái.
Chương II: Thi pháp kết cấu cốt truyện.
Tác giả tập trung phân tích kết cấu trên các phương diện: Kết cấu của tác
phẩm; nhóm thể loại của tác phẩm; phương thức kết cấu của tác phẩm; ảnh hưởng
của ca dao, dân ca;
Chương III: Thi pháp nhân vật truyện thơ Tiễn dặn người yêu
Tác giả tập trung vào hai nội dung: nhân vật trữ tình trong tác phẩm và
phương thức xây dựng nhân vật.

giả Tô Hoài đã có bài “Tiếng hát làm dâu, tiếng hát đau thương, tiếng hát căm hờn
ngàn đời của người phụ nữ H’Mông” in trên tạp chí văn học số 2/1965. Ngoài việc


6

phân tích nội dung, tác giả lưu ý một số vấn đề về dịch thuật sao cho đúng với bản
chất của dân ca H’Mông đầu tiên và truyền thống văn hóa, tâm lý người H’Mông.
Năm 1974, Doãn Thanh tiếp tục cho ra đời cuốn Dân ca H’Mông Lào Cai.
Gồm 45 bài, in song ngữ Việt – H’Mông.
Năm 1984, các tác giả Doãn Thanh, Hoàng Thao tiến hành tuyển chọn, chỉnh
lý và bổ sung một số bài dân ca H’Mông đã công bố trên các sách báo, tạp chí và
cho ra mắt bạn đọc cuốn Dân ca H’Mông với lời giới thiệu của Chế Lan Viên do
nhà xuất bản văn học phát hành. Cuốn sách tuyển đủ năm loại hát của dân ca
H’Mông với lời dịch chau chuốt hơn. “Trong đó Tiếng hát làm dâu (Gầu ua nhéng)
chiếm một số lượng khá lớn. “Loại này gồm nhiều bài lẻ, nhưng có những bài “hát
kể chuyện” dài tới vài ba trăm câu – rất gần với truyện thơ vì đã thành truyện với
một vài nhân vật, mà nhân vật chính là người phụ nữ bị ép duyên, bị gia đình nhà
chồng đày đọa” [37: 10]. Đây chính là gợi ý thú vị để người viết thực hiện đề tài
nghiên cứu.
Mười năm sau, tác giả người dân tộc H’Mông Hùng Đình Quý cho ra đời
cuốn Dân ca H’Mông Hà Giang gồm hai tập, chủ yếu thuộc hai loại: Tiếng hát tình
yêu và Tiếng hát làm dâu do ông sưu tầm tại tình Hà Giang.
Ngoài ra, từ năm 1990 trở lại đây, ở một số tỉnh có người H’Mông cư trú như
Yên Bái, Lai Châu, Lào Cai… người ta tiến hành sưu tầm nghiên cứu dân ca H’Mông
in rải rác trên các báo trung ương và địa phương.
Năm 1995, tác giả Phạm Thu Yến cho in trên tạp chí Văn hóa nghệ thuật số
2/1995 bài “Đặc điểm kết cấu dân ca H’Mông”. Đây là bài đầu tiên đi sâu nghiên
cứu một phương diện nghệ thuật của dân ca H’Mông, bài viết đã chỉ ra đặc điểm và
giá trị cơ bản nhất của kết cấu dân ca H’Mông gắn với đặc trưng thể loại trên quan

giữa thể loại truyện thơ của hai dân tộc mà tiêu biểu là hai tác phẩm Tiễn dặn người
yêu và Tiếng hát làm dâu. Tìm ra nguyên nhân và lý giải vì sao có sự tương đồng,
ảnh hưởng, đặc sắc riêng của truyện thơ dân tộc Thái và truyện thơ dân tộc H’Mông.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu đã nêu, luận văn cần thực hiện các nhiệm
vụ sau:
- Tìm hiểu môi trường tự nhiên và cơ sở xã hội của dân tộc Thái và dân tộc
H’Mông.


8

- So sánh để chỉ ra sự tương đồng của truyện thơ dân tộc Thái và dân tộc
H’Mông trên cứ liệu hai tác phẩm tiêu biểu Tiễn dặn người yêu và Tiếng hát làm
dâu. Lý giải nguyên nhân.
- So sánh để chỉ ra sự khác biệt của truyện thơ dân tộc Thái và dân tộc
H’Mông trên cứ liệu hai tác phẩm tiêu biểu Tiễn dặn người yêu và Tiếng hát làm
dâu. Lý giải nguyên nhân.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Truyện thơ dân tộc Thái và truyện thơ dân tộc H’Mông với hai tác phẩm tiêu
biểu Tiễn dặn người yêu và Tiếng hát làm dâu.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Kho tàng truyện thơ dân tộc Thái và dân tộc H’Mông còn đang trên con
đường khám phá, tìm hiểu, hiện nay việc sưu tầm và dịch thuật còn chưa khai thác
hết, mặt khác truyện thơ Tiễn dặn người yêu và truyện thơ Tiếng hát làm dâu là
những tác phẩm lớn và tiêu biểu cho truyện thơ hai dân tộc. Do trình độ và khả năng
bản thân có hạn, chúng tôi giới hạn khảo sát trên hai truyện thơ Tiễn dặn người yêu
và truyện thơ Tiếng hát làm dâu là chính. Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi có
so sánh với một số truyện thơ khác của hai dân tộc này hoặc dân tộc khác.

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA
1.1. Dân tộc Thái
1. 1.1. Môi trường tự nhiên
Người Thái ở Việt Nam là một dân tộc khá đông và sống chủ yếu tập trung ở
khu vực Tây Bắc – Bắc Bộ. Đây là địa bàn khá rộng khoảng 30.000 km2 và vô cùng
hiểm trở [45: 87]. Dưới chân những đỉnh núi cao, những dãy núi hùng vĩ là hàng
chục con sông lớn chia cắt địa bàn như sông Đà, sông Mã, sông Nậm Na… Trước
đây, cứ vào mùa mưa là Tây Bắc bị cắt vụn do nước ở những con khe, con suối
dâng rất cao. Vì vậy mà cuộc sống hầu như trở về chế độ tự cấp, tự túc. Núi rừng
hiểm trở là lí do chính tạo nên sự đi lại khó khăn nên việc giao lưu rất hạn chế, dẫn
tới nhu cầu giao lưu luôn luôn chất chứa trong mỗi con người.
Người Thái là dân tộc sớm sống theo nghề trồng lúa nước nên họ chọn các
thung lũng làm địa bàn cư trú. Nguồn lương thực chủ yếu là từ ruộng vì họ có làm
nương nhưng ít hơn các dân tộc khác, vì vậy họ rất ít phải lưu lại lâu ngày trên lán
nương. Chính điều này tạo ra đặc điểm nền văn hóa thung lũng. Đó là điểm đặc
trưng của nền văn hóa người Thái cổ. Một mặt do giao thông khó khăn, mặt khác do
điều kiện địa lý và đất đai phì nhiêu nên nguồn lương thực rất dồi dào, thực phẩm
thì tự chăn nuôi săn bắn mà có, vì thế họ rất ít rời khu vực sinh sống. Cuộc sống bó
hẹp trong thung lũng làm cho con người càng có khát vọng giao lưu hơn, vì thế
người Thái có rất nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian cộng đồng như ca –
múa, trò chơi dân gian,…
1.1.2. Cơ sở xã hội
Vấn đề lịch sử người Thái ở Việt Nam là một vấn đề quan trọng liên quan
mật thiết đến việc tìm hiểu sự hình thành văn hóa tộc người Thái ở việt Nam nói
chung và văn học dân gian Thái nói riêng. Tộc Thái cổ có mặt ở Việt Nam từ rất lâu
nhưng tổ tiên của họ không hình thành trên đất nước Việt Nam [46: 87]. Hiểu được



qua nhiều vùng đất, những cuộc hành trình ấy đã tạo cho người Thái ở Tây Bắc một


12

sự hỗn nhập văn hóa. Họ vừa để lại những nét văn hóa của họ trên đường đi, vừa
tiếp nhận những nét văn hóa khác. Do đó, nền văn hóa của người Thái cổ ở Tây Bắc
khá phong phú nhưng vẫn mang những nét thống nhất chung rất đặc trưng của dân
tộc Thái.
Tuy nhiên, những kiểu thiên di ấy vẫn chưa đủ để phủ kín dân cư trên khắp
một vùng lãnh thổ rộng lớn và vô cùng hiểm trở của vùng đất Tây Bắc, mà nó phụ
thuộc rất lớn vào tốc độ của kiểu thiên di thứ hai. Nếu coi những cuộc thiên di thứ
nhất là những cuộc di dân theo “chiều thẳng” thì hình thức di dân thứ hai phổ biến
nhất ở thời kì sau này là những cuộc di dân theo “tuyến sóng”[46: 87]: đầu tiên, một
bộ phận thế hệ thứ nhất của người Thái đến sinh sống ở thung lũng nào đó theo
phương thức di dân chiều thẳng. Một thời ông các thế hệ tiếp theo phát triển thành
nhiều bản mới bên cạnh bản cũ lập thành các mường. Nhưng một mặt, các thung
lũng có địa bàn không rộng nên nhanh chóng trở nên chật chội, mặt khác là do
truyền thống canh tác thô sơ nên đất đai không còn mầu mỡ nữa, một bộ phận các
gia đình tự giác di cư đến một thung lũng khác để canh tác và sinh sống, lập nên thế
hệ đầu tiên của mường mới. Họ sinh sống ở đó đến khi hội đủ các điều kiện thì con
cháu họ tiếp tục di cư đến các thung lũng lân cận. Cứ thế hết đời này sang đời khác,
người Thái mở rộng dần dần địa bàn sinh sống để gần như phủ kín địa bàn Tây Bắc.
Trong quá trình di dịch, người Thái đã có một quá trình tiếp nhận các nét văn
hóa khác, nhưng những sự tiếp nhận ấy không làm mất đi bản sắc dân tộc. “Khi đi
xa họ mang theo mình ngoài đồ dùng sinh hoạt là phong tục, tập quán. Họ cũng
không quên mang theo hai vật quý giá là “quyển sách và khẩu súng” [44: 288]”.
Điều này đã lý giải vì sao những tác phẩm văn học đồ sộ như Tản chụ xiết xương,
Tản chụ xống xương, Xống chụ xôn xao…có thể lưu truyền rộng rãi trên một địa bàn
rộng lớn và hiểm trở như khu vực Tây Bắc Việt Nam.

Về thế giới của Phi, người Thái cho rằng cao nhất và có quyền lực tối cao là
Phi Then (ma ở trên trời) tập trung ở Mường Then (mường của người trời) và đứng
đầu Then (ông trời). Dưới ông Trời là các Phi Then chịu trách nhiệm cai quản tất cả
mọi lĩnh vực khác trong xã hội, đời sống, và với mọi sự vật cỏ cây, sông, núi…
Điều này được phản ánh trong nhiều truyện thơ đặc biệt là Tiễn dặn người yêu với
sự xuất hiện của ông Trời, các biến thể của ông Trời và các quan niệm có liên quan
tới ông Trời như mệnh, số, bói…


14

Dưới lực lượng Phi Then là lực lượng phi nói chung. Theo quan niệm của
người Thái, có thể chia lực lượng này thành hai loại: một loại là khi người chết thì
linh hồn biến thành phi (ma) tiếp tục sống ở thế giới thứ hai, vì vậy người Thái cho
rằng chết là sự thay đổi thế giới cuộc sống mà thôi. Quan niệm này thể hiện khá rõ
trong một số tác phẩm văn học dân gian Thái như Hiền Hom – Cầm Đôi, Khun Lú –
Nàng Ủa... Loại thứ hai là các phi tự nhiên, đó là các phi do ông Trời sinh ra và
giao cho từng nhiệm vụ riêng. Mỗi sự vật, hiện tượng, thậm chí một bộ phận của sự
vật có một phi quản lí, nếu con người làm phật lòng các phi này thì phi sẽ nổi giận
và mang lại những điều không may. Từ quan niệm này mà người Thái có những tục
kiêng vì nếu không kiêng sẽ làm phật ý các phi. Quan điểm này được biểu hiện khá
rõ trong một số truyện thơ Thái. Trong Tiễn dặn người yêu là việc chàng trai lên
đường đi buôn xa phải chọn ngày vì không chọn ngày sẽ đi vào ngày phi không
đồng ý. Khi đun bếp phải lấy củi tốt, củi sạch còn nếu nhặt rác đun thì làm Phi Bếp
phật ý. Nếu đun bếp mà lấy chân đẩy củi thì cũng không được vì dùng chân là tỏ ý
coi thường phi…
Dưới lực lượng phi và gắn bó với con người và vạn vật là khuôn tức là hồn
vía. Quan niệm cho rằng mỗi sự việc nói chung đều có hồn vía nhưng riêng con
người có nhiều hơn, phức tạp hơn. Hồn vía vừa tạo ra yếu tố thể chất của con người
lại vừa tạo ra tình nết, tư thế, hành vi… Hồn vía có thể đi theo con người hoặc bỏ đi

mô tả những cuộc chiến tranh bảo vệ hoặc mở rộng địa bàn cư trú… Sự xuất hiện
truyện cổ tích đánh dấu bước phát triển khá lớn trong tiến trình văn học dân gian
Thái. Mảng thể loại này tập trung xây dựng loại hình nhân vật là biểu tượng của
nghèo khổ nhưng có những đức tính tốt, hoặc những câu chuyện mang tính xã hội
phổ quát.
Bước phát triển cao hơn là sự xuất hiện Thơ ca dân gian Thái. Tuy số lượng
tác phẩm không nhiều nhưng thể loại này rất phong phú. Họ có cả tục ngữ, ca dao,
dân ca, và đỉnh cao là truyện thơ dân gian. Nhìn chung, truyện thơ có nội dung
thiên về miêu tả những cuộc tình ngang trái do bị gia đình và xã hội can thiệp một
cách thô bạo (Xống chụ xon xao, Tản chụ xiết xương, Khôn Lúa – Nàng Ủa…) hoặc
những khúc hát yêu thương, lời dặn dò tình nghĩa, lời hứa hẹn sắt son (Tản chụ
xống xương, Tản chụ xiết xương…)


16

Kết cấu truyện thơ nói chung thường diễn ra theo ba bước: gặp gỡ, yêu
thương tha thiết – tình yêu tạm thời bị chia cắt hoặc tan vỡ - đôi bạn tình tìm cách
thoát khỏi trói buộc và để đoàn tụ. Tuy rằng ở mỗi truyện thơ có một cách đoàn tụ
khác nhau nhưng nhìn chung, truyện thơ thể hiện khát vọng dân chủ mãnh liệt của
nhân dân, thể hiện ở cuộc đấu tranh cho cuộc sống hạnh phúc, chống lại những tập
tục lề thói khắc nghiệt bóp nghẹt quyền tự do yêu đương.
Về vấn đề sinh hoạt văn nghệ dân gian, ở phần này, chúng tôi chủ trương nêu
khái quát những đặc sắc nhất trong truyền thống sinh hoạt văn hóa dân gian có liên
quan đến thể loại truyện thơ mà không đi sâu tìm hiểu những loại hình sinh hoạt đa
dạng của dân tộc Thái.
Người Thái sử dụng các loại thể văn học trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống,
trong lao động sản xuất thì họ có kho tàng tục ngữ trong sinh hoạt giao tiếp có ca
dao, dân ca, trong các nghi lễ trang trọng thì có mo (Bài hát cúng tế), trong các lễ
hội như xên bản, xên mường (hội bản, hội mường) thì kết hợp ca – múa – nhạc,

nhất. Nếu hết phần này mà bên nữ thua thì các chàng trai mới được phép lên sàn
chuyện trò tâm tình với các cô gái. Nếu các chàng trai thua thì giải tán đêm hát để tổ
chức vào đêm sau. Vì phải phấn đấu chinh phục đối phương cả bằng giọng ca, tiếng
hát và cả bằng ý tứ lời thơ, lời hát nên càng ngày lời hát hạn khuống càng chau
chuốt hơn, ngôn ngữ sinh động hơn, trữ tình hơn, trong sáng hơn. Lời hát có thể là
lời ca dao, dân ca hay tự phóng tác tại chỗ, cũng có thể dựa vào cốt truyện dân gian
mà sáng tạo lời kể bằng thơ để hát. Từ việc phân tích này, chúng tôi đặt vấn đề
truyện thơ Thái có thể ra đời từ phong tục hạn khuống(?). Nhưng dù sao cũng vẫn
có thể khẳng định truyện thơ dân tộc Thái có quan hệ mật thiết tới hình thức sinh
hoạt hạn khuống và hạn khuống là một trong những môi trường diễn xướng quan
trọng nhất của truyện thơ.
Tóm lại, dân tộc Thái là một dân tộc có cuộc sống và sinh hoạt trên một vị trí
đại lý khá rộng lớn ở khu vực Tây Bắc Việt Nam. Đó là cơ sở tự nhiên của sự ra đời
truyện thơ Thái mà tiêu biểu là Tiễn dặn người yêu. Do đặc điểm địa lí khá hiểm trở
mà dân tộc Thái có đặc điểm văn hóa khá độc đáo: nền văn hóa nông nghiệp –
thung lũng. Kết hợp miêu tả cuộc sống sinh hoạt của nhân dân với miêu tả thế giới
nội tâm của con người, tác giả dân gian đã xây dựng thành công truyện thơ Tiễn dặn
người yêu. Đó chính là cơ sở xã hội của sự xuất hiện thể loại truyện thơ Thái và tác


18

phẩm. Với quan niệm này, chúng tôi xem xét thể loại truyện thơ và Tiễn dặn người
yêu trong mối quan hệ với hoàn cảnh xã hội – văn hóa đã sản sinh ra nó, mặt khác là
cơ sở để đối chiếu với hoàn cảnh ra đời của truyện thơ dân tộc H’Mông.
1.2. Dân tộc H’Mông
1.2.1. Môi trường tự nhiên
Dân tộc H’Mông ở Việt nam có khoảng trên sáu vạn người, sống rải rác
trong các tỉnh dọc biên giới Việt - Trung, Việt - Lào (Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà
Giang, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu, Nghệ An ...). Người H’Mông sinh sống ở núi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status