luận văn: SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM HÓA SINH TRỨNG VÀ TRÌNH TỰ VÙNG ĐIỀU KHIỂN D-LOOP CỦA BA GIỐNG GÀ RI, GÀ MÔNG VÀ GÀ SAO NUÔI TẠI THÁI NGUYÊN potx - Pdf 12


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM


BÙI THỊ KIỀU VÂN
SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM HÓA SINH TRỨNG VÀ TRÌNH TỰ
VÙNG ĐIỀU KHIỂN D-LOOP CỦA BA GIỐNG GÀ RI,
GÀ MÔNG VÀ GÀ SAO NUÔI TẠI THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC THÁI NGUYÊN - 2008 LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới tới
PGS.TS. Nguyễn Trọng Lạng, giảng viên khoa sinh - KTNN trường Đại học
Sư phạm Thái Nguyên, PGS.TS. Nông Văn Hải, Phó Viện trưởng, Viện Công
nghệ Sinh học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, những người thầy đã
tận tình dìu dắt và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn.
Trong thời gian hoc tập và nghiên cứu vừa qua, tôi đón nhận được sự
giúp đỡ hết lòng, chỉ bảo tận tình và sâu sắc của CN. Địch Thị Kim Hương,
ThS.NCS. Nguyễn Đăng Tôn cùng tập thể các cô, chú, anh, chị cán bộ
nghiên cứu Phòng Công nghệ ADN ứng dụng, Viện Công nghệ sinh học, Viện
Khoa học và Công nghệ Việt Nam những người đã tạo nhiều điều kiện thuận
lợi và nhiệt tình hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu. Tôi rất cảm ơn sự
giúp đỡ quý báu đó.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa và các thầy, cô giáo, kỹ
thuật viên khoa Sinh - KTNN trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã ủng
hộ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Cho phép tôi được tỏ lòng biết ơn tới Ths. Ngôn Thị Hoán, giảng viên
chính khoa Chăn nuôi - Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo
điều kiện giúp đỡ tôi trong việc nghiên cứu thực hiện đề tài.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ tình cảm của mình bằng lời cảm ơn chân thành
đến gia đình, người thân và bạn bè, những người luôn dành cho tôi những
tình cảm nồng ấm, thân thương nhất trong suốt thời gian học tập và nghiên
cứu.

2.3.1.3. Định lượng lipid tổng số 19
2.3.1.4. Định lượng Protein. 20
2.3.1.5. Phương pháp xử lý số liệu 21
2.3.2. Các phƣơng pháp sinh học phân tử 22
2.3.2.1. Tách chiết và tinh sạch DNA tổng số từ máu động vật 22
2.3.2.2. Kĩ thuật điện di DNA trên gel agarose 23
2.3.2.3. Nhân vùng điều khiển D-loop bằng kỹ thuật PCR 24
2.3.2.4. Kĩ thuật tách dòng gen 26
2.3.2.5. Phương pháp xác định trình tự DNA 28
Chƣơng 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29
3.1. SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM HÓA SINH TRỨNG CỦA 3 GIỐNG GÀ 29
3.1.1. Tỷ lệ lòng trắng, lòng đỏ, vỏ tƣơi 29
3.1.2. Hàm lƣợng vật chất khô 30
3.1.3. Hàm lƣợng lipit tổng số 31
3.1.4. Hàm lƣợng protein tổng số 32
3.2 . ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG DI TRUYỀN CỦA BA MẪU GIỐNG GÀ 34
3.2.1. Tách chiết và tinh sạch DNA tổng số từ máu gà 34
3.2.2. Nhân đoạn trình tự của vùng D-loop của DNA ty thể 36
3.2.3. Tách dòng và xác định trình tự vùng D- loop của DNA ty thể 39
3.2.3.1. Tách dòng vùng D-loop 39
3.3.2.2. Xác định trình tự vùng D-loop của DNA ty thể 44
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 51
Kết luận. 51
Đề nghị 52
CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
PHỤ LỤC 57
BẢNG KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Amp
Ampicilline

PBS
Phosphate - buffer saline
PCR
Polymerase Chain Reaction
RNA
Ribonucleaxit
RNase
Ribonuclease
SDS
Sodium Dodecyl Sulphate
TAE
Tris-Acetate-EDTA
TE
Tris EDTA
Tm
Melting Temperature (nhiệt độ nóng chảy)
v/p
vòng/phút
Danh môc c¸c b¶ng
Bảng 1.1. Sự khác nhau giữa mã di truyền trong nhân và ngoài ty thể 11
Bảng 2.1. Các thiết bị sử dụng trong đề tài 18
Bảng 2.2. Thành phần phản ứng khuếch đại gen 25
Bảng 3.1. Tỷ lệ lòng đỏ, lòng trắng, vỏ tƣơi 29
Bảng 3.2. Hàm lƣợng vật chất khô trong trứng gà 30
Bảng 3.3. Hàm lƣợng lipid tổng số ở thịt gà thí nghiệm 31
Bảng 3.4. Hàm lƣợng protein thô trong trứng gà thí nghiệm 33
Bảng 3.5. Thống kê các điểm đa hình ở 2 mẫu nghiên cứu so với trình tự
tham khảo mã số AB268515 49
Bảng 3.6. So sánh tỷ lệ sai khác trình tự nucleotide của một số giống gà 50
Danh môc c¸c h×nh

kiện chăn nuôi của địa phương, chất lượng thịt, trứng tốt như gà Đông Tảo, gà
Ác, gà Tè, gà Ri, gà Mông, gà Mía, gà Tre, gà Hồ, gà Tàu vàng, gà Móng, gà
Chọi cũng đang được quan tâm. Gần đây việc nhập nội các giống gà có năng
suất cao, chất lượng thịt, trứng tốt, có khả năng thích ứng cao với điều kiện
chăn nuôi ở địa phương như gà Sao, gà Ai cập cũng đã và đang thu hút sự chú
ý của người nông dân.
Việc đánh giá chất lượng trứng, thịt cũng như tìm hiểu sự đa dạng di truyền
ở mức phân tử của các giống gà trên là cần thiết cho ngành chọn giống gia cầm.
Hiện nay đã có các công trình nghiên cứu về thành phần hóa sinh trứng gà
Ri, gà Ác, Lergho [5], [9], [10], [27], [32], [36].
Xác định sự đa dạng di truyền ở mức phân tử của các giống gà qua nghiên
cứu vùng điều khiển D-loop ty thể trên thế giới được chú ý từ những năm
1990 và đang phát triển rộng rãi. Ở Việt Nam các xác định đa dạng di truyền ở
mức phân tử ở gà qua các nghiên cứu liên quan đến vùng điều khiển D-loop

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
mới bắt đầu từ những năm 1999 trên đối tượng gà lôi [4]. Đến nay việc giải
trình tự nucleotide vùng D-loop để đánh giá mức đa dạng di truyền đang được
quan tâm. Hiện nay TS. Lê Thị Thúy - Viện Chăn Nuôi đang làm chủ nhiệm
đề tài cấp nhà nước "Nghiên cứu sự đa dạng di truyền các giống gà nội" trong
đó có giống gà Mông và gà Ri.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này chúng tôi lựa chọn đề tài: " So
sánh thành phần hóa sinh trứng và trình tự vùng điều khiển D-Loop của
ba giống gà Ri, gà Mông và gà Sao nuôi tại Thái Nguyên".
2. Mục tiêu của đề tài
- So sánh chất lượng trứng của ba giống gà.
- So sánh trình tự đoạn điều khiển trong DNA ty thể giữa các giống gà.
- Xác định mối quan hệ di truyền của một số giống gà.

động vật có xương sống (Chordata); Lớp chim (Aves); Bộ gà (Galliformes);
Họ Trĩ (Fasia nidea); Chủng Gallus; Loài Gallus gallus.
Gà được thuần hoá đầu tiên ở Ấn Độ cách đây 5000 năm, sau đó là Ba
Tư. Nhờ sự tiến bộ trong công tác chọn giống, từ các giống gà địa phương của
châu Á, sau khi nhập vào châu Âu thế kỷ XVIII và XIX, đầu tiên là ở nước
Anh, sau đó là nước Mỹ, các giống gà được lai tạo thành nhiều giống gà có
năng suất cao hơn. Ở nước ta, gà rừng được thuần hoá và nuôi sớm nhất ở
vùng Vĩnh Phú, Hà Bắc, Hà Tây… Từ giống gà nuôi ban đầu là tiền thân của
gà Ri hiện nay nhân dân ta đã tạo được nhiều giống gà: gà Mía, gà Ác, gà Ri,
gà Tre, gà Đông Tảo, gà Vàng….

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
1.2. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA BA GIỐNG GÀ NGHIÊN CỨU
1.2.1. Gà Ri
Gà Ri là giống gà nội phổ biến nhất ở nước ta, chiếm 70% tổng số gà trong
cả nước, nguồn gốc từ nhóm gà rừng Gallus bankiva hay Gallus gallus. Ngoại
hình thon, nhỏ; mỏ nhỏ; mào cờ có răng cưa mào đỏ tươi rất phát triển ở con
trống; tích và dái tai có xen lẫn ánh bạc trắng; cổ thanh, dài vừa phải ngực lép
bụng thon, mềm; chân có hai hàng vải màu vàng, có khi xen lẫn màu đỏ tươi.
Bàn chân có bốn ngón, cựa phát triển sớm ở gà trống. Màu lông rất khác nhau
phổ biến ở con mái có màu vàng rơm, vàng đất, nâu nhạt và đốm. Con trống
màu lông đỏ sẫm, ở đầu lông cánh và lông đuôi có màu đen ánh xanh, lông
bụng đỏ nhạt hoặc vàng đất. Ngoài ra còn màu lông khác như trắng, hoa mơ,
đốm trắng [1]. Gà Ri mọc lông sớm, tốc độ mọc lông nhanh hơn gà Mía,
Đông Tảo nên có khả năng chịu đựng tốt hơn khi nuôi ở điều kiện thời tiết
lạnh, gà Ri đẻ trứng sớm, tuổi đẻ đầu lúc 123 ngày tuổi và đạt tỷ lệ đẻ 5% lúc
127 ngày tuổi. Sản lượng trứng 90 - 115 quả/năm, con trống nặng 1,5 đến
2kg, con mái nặng 1,1 đến 1,6 kg. Gà Ri ham ấp bóng đẻ được 10 - 15 quả lại

lông điểm nhiều những nốt chấm trắng tròn nhỏ. Thân hình thoi, lưng hơi gù,
đuôi cúp. Đầu không có mào mà thay vào đó là mấu song cao khoảng 1,5 - 2
cm. Mào tích của gà Sao màu trắng hồng và có 2 loại: một loại hình lá dẹt áp
sát vào cổ, còn một loại hình lá hoa đá rủ xuống. Da mặt và cổ của gà Sao
không có lông, lớp da trần này có màu xanh da trời, dưới cổ có yếm thịt
mỏng. Chân khô, đặc biệt con trống không có cựa.
Gà Sao thuộc loài nhút nhát, cảnh giác, bay giỏi như chim, rất ít mổ,
cắn nhau, thích mổ những vật lạ. Đặc biệt là có tập tính bày đàn cao; không
bộc lộ tập tính sinh dục rõ ràng, gà Sao mái đẻ trứng tập trung. Gà bắt đầu đẻ
vào tuần tuổi thứ 27 và đạt tỷ lệ đẻ 5% ở tuần tuổi thứ 30 khi cơ thể đạt khối
lượng khoảng 2,2-2,3 kg. Tuổi đẻ đạt đỉnh cao là 34-40 tuần tuổi. Năng suất
trứng/mái/23 tuần đẻ là 85-100 quả.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
1.3. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.3.1. Cơ sở của việc nghiên cứu các tính trạng ở trứng
Theo H. Brandsch và H. Bichel một số tính trạng thuộc về đặc điểm sinh
học như màu lông, màu sắc vỏ trứng, hình dáng cơ thể, thành phần các loại
protein, lipit trong trứng, thịt thuộc các tính trạng chất lượng.
Chất lượng lòng trắng
Tỷ lệ lòng trắng chiếm 55 - 60% khối lượng trứng nếu nhìn bằng mắt
thường những trứng tươi sẽ có lòng trắng màu hơi vàng, những trứng để lâu
màu lòng trắng sáng hơn.
Theo Rose [27]; Krax [34] và Pingel [35] cấu trúc lòng trắng được chia ra
làm 3 lớp đó là: Lớp lòng trắng loãng bên ngoài 23%, Lớp lòng trắng đặc ở
giữa 57%, Lớp lòng trắng loãng trong cùng 20%.
Độ quánh của lòng trắng đặc (chủ yếu là sợi mucin) giảm đi theo tuổi gia
cầm. Tỷ lệ lòng trắng đặc và lòng trắng loãng ở trứng gà tươi là 2:1, tỷ lệ này

;
84µg vitaminB
2
;

30µg acid nicotinic; 58 µg vitaminB
6
; 580µg acid pantothenic;
10µg biotin; 4,5µg acid folic; 0,3µg vitamin B
12
; 150µg vitamin E; 25µg vitamin
K
1
.
* Thành phần hóa học của lòng trắng
Lòng trắng là nơi dự trữ khoảng 88% nước của trứng Rose [27]; Vogt [36]
phần còn lại là protein như globulin, ovomucin và albumin. Ovomucin chiếm
75% tổng protein trong lòng trắng. Globulin chiếm khoảng 20%. Thành phần
hóa học lòng trắng trứng ở tất cả các loại trứng gia cầm đều giống nhau. Lòng
trắng đặc có hàm lượng ovomucin gấp 4 lần lòng trắng loãng, đây chính là
nguyên nhân tạo nên cấu trúc keo của lòng trắng. Độ pH của lòng trắng trứng
gà tươi là 7,6; sau 14 ngày bảo quản chúng có thể tăng lên 9,2 Rose [27] Và
Hartfiel [33].
*Thành phần hóa học của lòng đỏ
Lòng đỏ trứng gà có chứa 49% nước, 16% protein và 33% mỡ. Hai phần ba
mỡ trong lòng đỏ là triglicerit; 30% phospholipit và 5% cholesteron. Hàm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8

9
mã gọi là vùng điều khiển (Displacement loop hay D-loop), trên đó có các
promotor của quá trình sao chép và phiên mã của mtDNA. Phân tử mtDNA
có các đặc điểm đáng chú ý sau:
- Tốc độ tiến hóa phân tử của mtDNA nhanh gấp 5-10 lần so với các gen
trong nhân.
- Phân tử mtDNA là đơn bội, không tái tổ hợp.
Các kiểu đơn bội (halotype) khác nhau của mtDNA có thể được sử dụng
làm các dấu hiệu chỉ thị trong việc phát hiện sự khác biệt di truyền theo dòng
mẹ của các quần thể nuôi nhốt và các quần thể hoang dại.
Vùng điều khiển là vùng tiến hóa nhanh nhất của mtDNA, nó tích lũy các
đột biến cùng với sự thêm đoạn, mất đoạn với tỷ lệ cao gấp 5-10 lần so với
các gen của ty thể. Vì thế, việc xác định trình tự nucleotide đoạn điều khiển
mtDNA là công cụ hữu hiệu để đánh giá tính đa dạng di truyền và sự phân
nhánh tiến hóa bên trong và giữa các quần thể trong cùng một loài.
1.3.2.2. Đặc điểm cấu tạo hệ gen ty thể gà
Toàn bộ 16.775 bp trong genome ty thể của gà Leghorn đã được xác định
trình tự, chúng mã hóa cho 13 protein, 2 rRNA và 22 tRNA. Một số gen mã
hoá protein hoặc tRNA là các gen nằm gối lên nhau (overlapping genes) [15].
Các protein tạo ra được sử dụng để vận chuyển điện tử và phosphoryl hoá
trong ty thể. Các gen mã hóa cho các protein này đều được dịch mã bởi cùng
một bộ mã di truyền. Genome ty thể gà có ba đặc điểm riêng, khác lớp thú và
lưỡng cư:
- Theo chiều 5‟- 3‟ của chuỗi nhẹ từ gen ND5 đến vùng D-loop là các
gen cytochrome b, tRNA(Thr), tRNA (Pro), ND6 và tRNA (Glu); trong khi ở
các động vật khác, gen cytochrome b lại nằm gần vùng điều khiển hơn. Trật
tự này được bảo toàn trong các loài thuộc bộ gà (Galliformes) [24].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


biến trong môi trường. Những biến dị ở genome ngoài nhân không giống
nhau giữa các ty thể trong cùng một tế bào và giữa các tế bào khác nhau. Đây
là một trong số các ví dụ cho thấy rằng có rất nhiều biến dị trong mã di
truyền của ty thể nhưng không có hại đối với cơ thể mang đột biến.
Trong hầu hết các trường hợp, mã di truyền là phổ biến. Tuy thế, vẫn
có một số ngoại lệ trong di truyền học ty thể. Dưới đây là một số trường hợp
mà người ta đã biết.
Bảng 1.1. Sự khác nhau giữa mã di truyền trong nhân và ngoài ty thể
Bộ ba
Mã của gen nhân
Mã của gen ty thể
AUA, AUU
Ile
Met
UGA
Stop
Trp
AGA, AGG
Arg
Stop
DNA ty thể và vai trò của vùng D-loop trong vấn đề định loại gà
Về mặt cấu trúc, vùng D-loop của gia cầm có thể được chia làm 3 đoạn
theo Baker và Marshall (1997), bao gồm các đoạn I, II và III. Trong đó đoạn
II là đoạn bảo thủ nhất, có chứa một số đơn vị cấu trúc mà trình tự sắp xếp
của chúng không thay đổi ngay cả ở bậc phân loại họ. Thông thường, vùng
biến đổi nhiều nhất trong D-loop là đoạn III [20]. Đoạn này bắt đầu với cụm
trình tự bảo thủ 1 (Conserved Sequence Block 1- CSB-1). Yếu tố phiên mã

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


13
Năm 1990, Desjadins và Morais đã công bố toàn bộ trình tự mtDNA của
gà nhà (Gallus gallus) với tổng chiều dài 16775bp. Với trình tự này, các nhà
khoa học đã có cơ sở để tiến hành nghiên cứu mối quan hệ chủng loại giữa
các đối tượng thuộc bộ gà [15].
Năm 1994 - 1995, Fuhimito và cộng sự [23] đã nghiên cứu mối quan hệ
chủng loại giữa các loài gà rừng, công, trĩ, chim cun cút dựa trên các phân
tích đoạn điều khiển ty thể. Kết quả phân tích tính đa hình chiều dài các đoạn
giới hạn (RFLP) trên vùng điều khiển mtDNA cho phép các tác giả này đưa ra
một sơ đồ phân loại giữa các loài trên. Đồng thời họ đã xác định được trình tự
của 400bp đầu tiên trên vùng điều khiển mtDNA. Kết quả nhận được đã chỉ ra
sự lặp lại của một đoạn khoảng 60bp trên vùng điều khiển mtDNA là điểm
đặc trưng của giống Gallus.
Randi và cộng sự [16]; Scott [20] phân tích trình tự của một phần đoạn
điều khiển ty thể (đoạn D-loop) của 2 loài gà Lôi đặc hữu ở Việt Nam đã chỉ
ra sự khác biệt rất ít ở mức độ phân tử giữa 2 giống gà này.
Năm 1999, Kimball và cộng sự [18] cũng dựa trên sự phân tích trình tự
đầy đủ của gen cytochrom b (1143bp) và đoạn siêu biến 1(350bp) của vùng
điều khiển mtDNA để xác định mối quan hệ chủng loại của một số loài trĩ và
gà gô. Hai cây phân loại được xây dựng từ hai hệ thống số liệu nhận được trên
hai đoạn gen cho thấy sự khác nhau là rất ít. Như vậy chỉ với việc phân tích
một đoạn trình tự ngắn trên mtDNA cũng cho kết quả khá phù hợp với kết
quả phân tích trên toàn bộ gen cytochromb, điều này cho thấy trình tự vùng
điều khiển có đủ cơ sở để phân tích quan hệ chủng loại.
- Zhang và đồng tác giả đã giải trình tự 539 nuleotide đầu tiên trong
vùng D-loop của 6 chủng gà nhà (Gallus gallus domesticus) Trung Quốc và
so sánh dữ liệu này với trình tự DNA của 4 loài khác: Gallus gallus, Gallus
sonneratii, Gallus varius, Gallus lafayettei đã được công bố trong Ngân hàng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
Nam Trung Quốc hoặc Đông Nam Á. Như vậy có thể thấy trình tự nucleotide
của vùng D-Loop là một công cụ rất hữu hiệu để đánh giá tính đa dạng di
truyền và sự phân hóa bên trong loài và giữa các quần thể địa lý.
1.3.2.5. Tình hình nghiên cứu DNA ty thể gà ở Việt Nam
Ở gà Ri và gà Mông đã có một số công trình nghiên cứu được công bố về
năng suất phẩm chất, thành phần hóa sinh trứng [5].
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về gà Sao mới chỉ tập vào các lĩnh
vực khả năng sinh trưởng, năng suất, phẩm chất thịt, thành phần hóa sinh thịt,
khả năng sinh sản, năng suất trứng Hiện nay, chưa có công bố nào nghiên
cứu về thành phần hóa sinh trứng gà Sao.
Cho đến nay ở Việt Nam việc sử dụng phương pháp phân loại phân tử
trên đối tượng gà mới chỉ bắt đầu. Năm 1999, Kim Thị Phương Oanh và cộng
sự [14] đã tiến hành phân tích vị trí nhận biết của một số enzyme giới hạn trên
vùng điều khiển D-loop của 3 loài gà lôi Việt Nam gồm: gà lôi lam đuôi trắng
(L. hatinhensis), trĩ bạc (L. nycthemera) và gà lôi hông tía (L. diardi). Từ đó
xác định bước đầu được sự khác biệt trên vùng điều khiển mtDNA của 3 loài
gà lôi. Tuy nhiên, để có những kết luận chính xác về vấn đề này cần phải xác
định trình tự vùng điều khiển của 3 dòng gà lôi nói trên.
Năm 2000 Nguyễn Hải Hà và cộng sự [2] đã tạo dòng phân tử đoạn gen
điều khiển DNA ty thể của 2 loài gà lôi đặc hữu Việt Nam trong vector
pBluescript KS (-) để chuẩn bị cho việc đọc và so sánh trình tự nucleotide
vùng D-Loop.
Năm 2006 Địch Thị Kim Hương và cộng sự [3] đã xác định được trình tự
vùng D-Loop gồm 1227 nucloetide của 2 mẫu giống gà Ác Tiềm, Lương
Phượng, đã phát hiện được 22 vị trí khác biệt về nucloetide giữa hai đại diện.
Năm 2007 Lê Đức Long và cộng sự [4] đã giải trình tự và so sánh trình tự
nucleotide vùng D-Loop của 3 đại diện gà Mông có nguồn gốc từ Điện Biên,

3
BO
3
4%, chỉ thị
Tasiro, H
2
O
2
30%, dung dịch H
2
SO
4
0,1N.
Dung dịch đệm phốt phat citrate, dung dịch đệm Tris tổng hợp (Tris
0,125M, SDS 2%, ß - rccapthanol) được pha theo tỷ lệ 3:1:1.
Dung dịch A Na
2
CO
3
2% trong NaOH, dung dịch B CuSO
4
0,5% trong
natricitrat 1%, dung dịch C hỗn hợp dung dịch A với B theo tỷ lệ 49:1 chỉ pha
trước khi dùng, thuốc thử folin, Ba(OH)
2
.
Proteinase K (20mg/ml); Phenol:Chloroform:Isoamyl alcohol (25:24:1);
Chlorofom: Isoamyl alcohol (24:1); Agarose 0,8%; RNase (10mg/ml); Tris-HCl
(0,1M; pH7,5); NaOH 1M; H
2

- Các dung dịch tách chiết DNA plasmid: Dung dịch I (Sol I); Dung dịch II
(Sol II); Dung dịch III (Sol III).
2.1.2. Thiết bị
Các thiết bị và hóa chất được sử dụng thuộc sở hữu của phòng thí nghiệm
hóa sinh - ĐHSP Thái Nguyên, Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ gen và
Phòng Công nghệ ADN Ứng dụng - Viện Công nghệ Sinh học.
Bảng 2.1 Các thiết bị sử dụng trong đề tài
Tên thiết bị
Hãng sản xuất
Tủ lạnh sâu - 20ºC, - 84ºC
Sanyo, Nhật Bản
Máy li tâm
Sorvall
Máy đo pH
Mettler, Anh
Lò vi sóng
Samsung, Hàn Quốc
Cân phân tích
Metter Toledo, Thụy Sỹ
Pipetman các loại
Gilson, Pháp
Máy điện di
PowerPac 300, Mỹ
Máy PCR - PTC100
MJ Research, Mỹ
Máy làm khô chân không
Speed Vac Sc 110A-Savan, Mỹ
Máy chụp ảnh
Bio-Rad, Mỹ
Máy khuấy trộn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status