Trình bày một số yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. - Pdf 40

Đề 6: Trình bày một số yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề bình đẳng giới trong
các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Bài làm
I. Lời mở đầu
Bình đẳng giới và giải phóng phụ nữ là một trong những vấn đề được
đề cập đến trong thời gian gần đây. Và điều đó cũng đã được khẳng định
trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, trong Hiến pháp và đã được
thể chế hóa trong hầu hết các văn bản pháp luật, tạo cơ sở pháp lý, tạo điều
kiện và cơ hội trao quyền bình đẳng cho cả nam và nữ trong các lĩnh vực
chính trị, kinh tế,văn hóa, xã hội. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác
nhau, bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống vẫn còn những hạn chế.
Nguyên tắc bình đẳng giới chưa được cụ thể hóa toàn diện và triệt để trong
các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, một số quy định được ban hành
nhưng thiếu chế tài, biện pháp, nguồn lực và cơ chế đủ mạnh để thực hiện.
Chênh lệch về tỷ lệ nam nữ tham gia hoạt động kinh tế, thamgia quản lý,
lãnh đạo ở các cấp còn khá cao là do một số yếu tố ảnh hưởng lớn đến vấn
đề này.
II. Nội dung
1. Bình đẳng giới trong đời sống xã hội
Ngày 29/11/20006, Quốc hội đã thông qua Luật Bình đẳng giới
(BĐG), luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007. Luật BĐG đã quy
định bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội (chính trị, kinh tế,

1


lao động, y tế, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, văn hoá, thông tin,
thể dục, thể thao) và gia đình.
Theo đó: Nam, nữ bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu
ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tự ứng cử và được

bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ, chồng và quyết định
các nguồn lực trong gia đình; bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và
các quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình cũng như trong việc
bàn bạc, quyết định lựa chọn và sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình
phù hợp, sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo quy định của pháp
luật. Con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như
nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển.
Để thực hiện tốt BĐG, Luật BĐG còn quy định các hành vi vi phạm
pháp luật về BĐG trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bao gồm: cản trở
nam hoặc nữ thực hiện quyền tự ửng cử, được giới thiệu ứng cử...; không
thực hiện hoặc cản trở việc bổ nhiệm vì định kiến giới, đặt ra và thực hiện
quy định có sự phân biệt đối xử về giới...Áp dụng các điều kiện khác nhau
trong tuyển dụng lao động nam và lao động nữ đối với cùng một công việc
mà nam, nữ đều có trình độ và khả năng thực hiện như nhau...Từ chối tuyển
dụng hoặc tuyển dụng hạn chế lao động, sa thải hoặc cho thôi việc người lao
động vì lý do giới tính hoặc do việc mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ; phân
công công việc mang tínhphân biệt đối xử giữa nam và nữ dẫn đến chênh
lệch về thu nhập hoặc áp dụng mức trả lương khác nhau cho những người
lao động có cùng trình độ, năng lực vì lý do giới tính; không thực hiện các
quy định của pháp luật lao động quy định riêng đối với lao động nữ. Cản trở
nam hoặc nữ thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động kinh doanh vì
định kiến giới; tiến hành quảng cáo thương mại gây bất lợi cho các chủ
3


doanh nghiệp, thương nhân của một giới nhất định. Quy định tuổi đào tạo,
tuổi tuyển sinh khác nhau giữa nam và nữ; vận động hoặc ép buộc người
khác nghỉ học vì lý do giới tính; từ chối tuyển sinh những người có đủ điều
kiện vào các khóa đào tạo, bồi dưỡng vì lý do giới tính hoặc do việc mang
thai, sinh con, nuôi con nhỏ; giáo dục hướng nghiệp, biên soạn và phổ biến

hàng với tiểu nhân, là loại bị khinh miệt, không đáng đếm xỉa. Theo Khổng
Tử thì chỉ có đàn bà và tiểu nhân là hạng khó dạy. Khi ta gần thì họ nhờn, xa
thì họ oán (Phụ nhân nan hoá). Vì vậy để nói về xã hội nam quyền người ta
thường gọi là chế độ “Trọng nam, khinh nữ”.
Phụ nữ còn phải tuân theo các quy tắc của “Tam tòng, Tứ đức”. Tam
tòng : Tại gia tòng phụ; xuất giá tòng phu; phu tử tòng tử ( ở nhà theo cha,
lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con ) và Tứ đức:công, dung, ngôn,
hạnh ( Giỏi nữ công gia chánh nghĩa là Công; Giữ gìn dung nhan đẹp đẽ cho
chồng nghĩa là Dung; Ngôn từ dịu dàng, phụ thuộc vào chồng và gia đình
chồng, phải biết lựa lời mà nói, không nói lời xấu, phải biết khi nào được
nói, khi nào không, không được nói leo, không được ngồi lê mách lẻo như
thế gọi là Ngôn. Giữ gìn trinh tiết cho chồng cả lúc chồng sống lẫn sau khi
chồng chết, tuân thủ tam tòng, mắt nhìn thẳng, không được có thái độ “đầu
mày cuối mắt” với người ngoài gọi là Hạnh (Vũ Khiêu, 1997).
Đạo trị gia của Nho giáo rất coi trọng sự hoà thuận của quan hệ vợ
chồng nhưng phải nằm trong một tôn ti trật tự của chế độ gia trưởng “Phu
xướng, phụ tuỳ”, chồng nói gì thì vợ phải theo đó mà làm bất kể đúng sai.
Quan điểm này khi du nhập vào Việt Nam thì thành: “Chồng giận thì vợ bớt
lời. Cơm sôi nhỏ lửa không đời nào khê” (ca dao Việt Nam).

5


Nho giáo cho rằng phục vụ vô điều kiện cho nam giới là chức năng,
nhiệm vụ, thiên chức của phụ nữ. Những quan niệm và nguyên tắc này đã
cột chặt cuộc đời người phụ nữ vào cái xiềng của gia đình ngay cả sau khi
chồng của họ đã chết. Đó là quan điểm “Chồng chúa, vợ tôi” rất phổ biến
trong xã hội theo Nho giáo.
Trong gia đình thì chồng là “vua” còn vợ là “nội tướng”. Nho giáo
khuyên : chồng nhân nghĩa, vợ nhu thuận. Trình Hạo và Trình Di là hai danh

nhiệm của người phụ nữ trong thiên chức người vợ, người mẹ, người thầy
đầu tiên của con cái. Qũy thời gian của phụ nữ bị phân tán vào công việc nội
trợ gia đình, chăm sóc gia đình khiến nhiều chị em ít có điều kiện để tiếp cận
với những cơ hội để phát triển bản thân. Gánh nặng gia đình bao giờ cũng
dồn lên trách nhiệm của người phụ nữ, bởi vậy, nó tỷ lệ nghịch đối với sự
phát triển vươn lên vị trí lãnh đạo, quản lý của chị em. Đây là một thách thức
đặt ra đối với hầu hết chị em phụ nữ và tác động không nhỏ đến cơ hội thăng
tiến của chị em.
Dù pháp luật không có sự phân biệt nam nữ, nhưng thực tế các quy
định cho nam và nữ vẫn còn khoảng cách, bất lợi lớn vẫn nghiêng về phụ nữ.
Bất bình đẳng giới ở Việt Nam vẫn tồn tại trong nhiều lĩnh vực của đời sống
xã hội và là rào cản đối với sự phát triển của phụ nữ. Cụ thể, quy định
bình đẳng giới chưa rõ ràng, bất hợp lý trong sử dụng, chế độ ưu đãi và thu
nhập; giải quyết mối quan hệ giữa ưu tiên và bình đẳng cho phụ nữ thể hiện
chưa cụ thể.
Hiện nay, các địa phương luôn quan tâm và tạo điều kiện hoạt động
cho chị em phụ nữ, nhưng để giao quyền cho phụ nữ thì các lãnh đạo luôn
đắn đo và cân nhắc. Chính vì sự đắn đo, cân nhắc này nên ưu tiên trong lãnh
đạo và trong thực hiện bình đẳng giới có những điều chưa thực hiện đúng

7


như Luật định. ''Ở đâu mà cấp uỷ quan tâm, thì ở đó sẽ có những giải pháp
thích đáng để khuyến khích, tạo điều kiện cho phụ nữ tự khẳng định năng
lực, được đánh giá một cách đầy đủ và được đề bạt đúng với năng lực thực
sự hoàn toàn khách quan của phụ nữ, bởi những giải pháp đó là những giải
pháp có tính thuyết phục cao và người phụ nữ khẳng định được năng lực
sáng tạo, cống hiến và trưởng thành của họ. Ngược lại, nếu cấp ủy không
quan tâm, theo yêu cầu để thực hiện Nghị quyết của Đảng thì cơ cấu đưa nữ

quan, tổ chức, cá nhân hợp tác, giúp đỡ dưới mọi hìnhthức trong việc bảo
đảm và tăng cường bình đẳng giới.
III. Kết Luận
Để phụ nữ ngày càng khẳng định vị thế của mình trong gia đình và xã
hội cần nhìn nhận, đánh giá đúng vị trí và tài năng của phụ nữ cũng như sự
đóng góp của họ để đưa vị thế xã hội của người phụ nữ Việt Nam lên một
tầm cao mới. Như vậy, nâng cao vị thế của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị kinh tế có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao vị thế của phụ nữ
trong xã hội nói chung cũng như trong thực hiện Bình đẳng giới…

9


Bài làm
I. Lời mở đầu
Bình đẳng giới và giải phóng phụ nữ là một trong những vấn đề được
đề cập đến trong thời gian gần đây. Và điều đó cũng đã được khẳng định
trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, trong Hiến pháp và đã được
thể chế hóa trong hầu hết các văn bản pháp luật, tạo cơ sở pháp lý, tạo điều
kiện và cơ hội trao quyền bình đẳng cho cả nam và nữ trong các lĩnh vực
chính trị, kinh tế,văn hóa, xã hội. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác
nhau, bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống vẫn còn những hạn chế.
Nguyên tắc bình đẳng giới chưa được cụ thể hóa toàn diện và triệt để trong
các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, một số quy định được ban hành
nhưng thiếu chế tài, biện pháp, nguồn lực và cơ chế đủ mạnh để thực hiện.
Chênh lệch về tỷ lệ nam nữ tham gia hoạt động kinh tế, thamgia quản lý,
lãnh đạo ở các cấp còn khá cao là do một số yếu tố ảnh hưởng lớn đến vấn
đề này.

10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status