BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HUỲNH MỸ THƯ
TÁC ĐỘNG CỦA GIÀ HÓA DÂN SỐ ĐẾN TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ CÁC QUỐC GIA CHÂU Á
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng luận văn này “TÁC ĐỘNG CỦA GIÀ HÓA DÂN SỐ ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CÁC QUỐC GIA CHÂU Á” là bài nghiên cứu của chính
tôi.
Ngoài trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan
rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được
sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác.
Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này
mà không được trích dẫn theo đúng quy định.
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại
học hoặc cơ sở đào tạo khác.
Thành phố Hồ Chí Minh, 2015
HUỲNH MỸ THƯ
nghiên cứu này xây dựng nên mô hình nghiên cứu thực nghiệm nhằm xác định những biến
độc lập như tỉ lệ phụ thuộc tuổi già, tỉ lệ phụ thuộc trẻ em, tỉ lệ lao động trên dân số có ý
nghĩa hay không đến tăng trưởng kinh tế, từ đó xác định biến tỉ lệ phụ thuộc tuổi già có tác
động tích cực hay tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế các quốc gia Châu Á. Bằng việc sử dụng
số liệu thứ cấp của WB giai đoạn 1990-2014, thông qua thống kê mô tả và sử dụng mô
hình hồi quy dữ liệu bảng, kết quả nghiên cứu cho thấy già hóa dân số đã tác động tiêu cực
đến tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 1990 – 2014. Từ kết quả này và kinh nghiệm của
một số quốc gia trong việc ứng phó với già hóa dân số, tôi đưa ra một số gợi ý chính sách
đảm bảo an sinh xã hội, duy trì và củng cố chất lượng nguồn nhân lực tuổi già hướng tới
duy trì mức tăng trưởng, phát triển trong tương lai.
iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN................................................................................................................................. ii
TÓM TẮT ..................................................................................................................................... iii
DANH MỤC BẢNG ......................................................................................................................vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ....................................................................................................... vii
CHƯƠNG 1 ..................................................................................................................................... 1
GIỚI THIỆU .................................................................................................................................... 1
1.1.
Lí do chọn đề tài ............................................................................................................... 1
1.2.
Mục tiêu nghiên cứu ......................................................................................................... 2
CƠ SỞ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ........................................................................................... 5
2.1.
Tăng trưởng kinh tế........................................................................................................... 5
2.2.
Các chỉ tiêu đo lường tăng trưởng kinh tế ........................................................................ 5
2.2.1.
Tổng sản phẩm trong nước (Gross Domestic Product – GDP) ................................. 5
2.2.2.
Tổng sản phẩm quốc dân (Gross National Product – GNP) ...................................... 6
2.2.3.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế ........................................................................................ 6
2.3.
Các chỉ tiêu về dân số ....................................................................................................... 6
2.3.1.
Dân số trong độ tuổi lao động ................................................................................... 6
2.3.2.
2.6.1.
Mô hình Ricardo (1817) ..........................................................................................11
iv
2.6.2.
Mô Hình Lewis (1954) ............................................................................................11
2.6.3.
Mô hình Harrod – Domar ........................................................................................12
2.6.4.
Mô hình Solow (1956) – Mô hình tăng trưởng tân cổ điển .....................................12
2.7.
Tổng quan các nghiên cứu trước đây ..............................................................................13
2.7.1. Các nghiên cứu nước ngoài về biến đổi dân số và tác động của biến đổi dân số đến
tăng trưởng kinh tế.................................................................................................................13
2.7.2. Các nghiên cứu trong nước về biến đổi dân số và tác động của biến đổi dân số đến
tăng trưởng kinh tế.................................................................................................................16
2.7.3. Các nghiên cứu nước ngoài về già hóa dân số và tác động của già hóa dân số đến
tăng trưởng kinh tế.................................................................................................................18
2.7.4. Các nghiên cứu trong nước về già hóa dân số và tác động của già hóa đến tăng
Khuyến nghị ....................................................................................................................40
5.2.1.
Nâng cao nhận thức về già hóa dân số .......................................................................40
5.2.2.
Các chính sách về an sinh xã hội ................................................................................41
5.2.3.
Cải cách hệ thống hưu trí và trợ cấp ..........................................................................41
5.2.4.
Chăm sóc y tế tốt .........................................................................................................42
5.3.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo .........................................................................42
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................................43
PHỤ LỤC ......................................................................................................................................48
v
DANH MỤC BẢNG
BHYT
Bảo hiểm Y tế
FEM
Mô hình tác động cố định (Fixed effects model)
GDP
Tổng sản phẩm trong nước (Gross Domestic Product)
GNP
Tổng sản phẩm quốc dân (Gross National Product)
ILO
Tổ chức Lao động Quốc tế (International Labour Organization)
NDC
Hệ thống tài khoản cá nhân tượng trưng (Notional Defined
Contribution)
NTA
Tài khoản chuyển giao quốc dân (National Transfer Accounts)
OECD
1.1. Lí do chọn đề tài
Theo các chuyên gia dân số và kinh tế, già hóa dân số là một trong những xu hướng
quan trọng của thế kỷ 21, tác động đến toàn bộ các khía cạnh của đời sống xã hội của thế
giới và từng quốc gia. Theo thống kê, hiện nay trên thế giới có gần 7 tỷ người và 1/9 trong
số này là người từ 60 tuổi trở lên. Theo dự báo, đến năm 2050 dân số thế giới đạt 9,2 tỷ
người và tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên sẽ là 1/5, nghĩa là cứ 5 người thì có một người cao
tuổi (UNFPA and HelpAge International, 2012). Do vậy hiện tượng già hóa dân số không
thể không được quan tâm.
Già hóa dân số đang diễn ra trên tất cả các khu vực và các quốc gia với tốc độ khác
nhau. Già hóa dân số gia tăng nhanh nhất ở các nước đang phát triển, trong đó có các quốc
gia Châu Á. Châu Á là một khu vực phát triển mạnh với dân số nói chung và dân số cao
tuổi nói riêng cao nhất trên thế giới nên những biến động dân số theo độ tuổi này liên quan
mật thiết tới nền kinh tế và toàn bộ sự phát triển của mỗi quốc gia. Do tỷ suất sinh và tỷ suất
chết giảm cùng với tuổi thọ tăng, dân số cao tuổi các quốc gia Châu Á đang tăng lên nhanh
chóng cả về số lượng và tỷ lệ so với tổng dân số.
Theo dự báo dân số của Tổng cục Thống kê (2010) thì tỷ lệ người cao tuổi so với
tổng dân số ở Việt Nam sẽ đạt đến con số 10% vào năm 2017, hay dân số Việt Nam chính
thức bước vào giai đoạn “già hóa” từ năm 2017. Giống như việc gia tăng dân số, dân số
già hóa tạo nên cơ hội phát triển đội ngũ lao động giàu kinh nghiệm nhưng cũng gây ra
nhiều thách thức cho tăng trưởng kinh tế cũng như hạ tầng cơ sở và các dịch vụ an sinh xã
hội. Việc nghiên cứu về tác động của già hóa dân số các quốc gia Châu Á đến tăng trưởng
kinh tế trở nên hết sức quan trọng trong việc gợi ý xây dựng chính sách nhằm khai thác tiềm
năng nhóm dân số này cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
(khóa VII), tháng 1 năm 1993 đã thể hiện rõ ràng quan điểm của Đảng về quan hệ dân số phát triển nói chung và quan hệ dân số - kinh tế nói riêng. Quan điểm số 1 của Nghị quyết
chỉ rõ rằng: " Công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình là một bộ phận quan trọng trong
chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu ở nước
ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và
toàn xã hội".
1
1990 – 2014 diễn ra như thế nào?
-
Sự già hóa dân số có tác động đến tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia Châu Á giai
đoạn 1990 – 2014 hay không?
-
Từ việc nghiên cứu tác động của già hóa dân số đến tăng trưởng kinh tế các quốc
gia Châu Á, có những chính sách gì cần thực hiện cho Việt Nam?
1.4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tỉ lệ phụ thuộc tuổi già và tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia Châu Á, trong đó lựa
chọn 05 quốc gia Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapo. Việc nghiên cứu
chỉ lựa chọn 05 quốc gia trong khu vực do số liệu thứ cấp không đầy đủ, độ chính xác chưa
đảm bảo, các quốc gia này có tỉ lệ phụ thuộc tuổi già phù hợp với khái niệm về già hóa.
Dữ liệu nghiên cứu không thể tổng hợp toàn bộ các quốc gia trong khu vực do hạn chế về
thời gian nghiên cứu.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
Tình trạng già hóa dân số các quốc gia Châu Á giai đoạn từ năm 1990-2014.
2
Ước lượng tác động của già hóa dân số đến tăng trưởng kinh tế các quốc gia Châu
Á.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê mô tả: Sử dụng phương pháp định lượng, trên cơ sở tổng hợp
và phân tích tình trạng già hóa dân số và tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia Châu Á.
hình, lựa chọn mô hình phù hợp thông qua kiểm định Hausman đưa ra kết quả để đánh giá
sự tác động của của các biến độc lập đến biến phụ thuộc. Từ phương trình này, tác giả tiến
hành kiểm định độ phù hợp, kiểm định mức độ giải thích của mô hình, ý nghĩa thống kê
của các hệ số, kiểm định phương sai phần dư thay đổi, kiểm định tự tượng quan và kiểm
định đa cộng tuyến nhằm xác định sự phù hợp, tương quan có ý nghĩa giữa các biến độc
lập và biến phụ thuộc; đồng thời cho biết tác động của già hóa dân số đến tăng trưởng kinh
tế.
- Chương 5: Kết luận và Kiến nghị. Chương này đánh giá chung kết quả nghiên
cứu của đề tài, qua đó đề xuất các chính sách nhằm tận dụng cơ hội, giảm thách thức của
vấn đề dân số già hóa.
4
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Tăng trưởng kinh tế
Pramit Chaudhuri cho rằng tăng trưởng kinh tế là “sự tăng lên của sản lượng hàng
hóa và dịch vụ mà sự tăng lên này được duy trì trong một thời gian dài.” (Chaudhuri ,
(1989))
Mặt khác, tăng trưởng kinh tế “không chỉ là quá trình làm ra cùng một thứ nhiều hơn,
mà còn là quá trình thay đổi cơ cầu sản xuất và tiêu dùng cả về số lượng lẫn chất lượng”.
Kết hợp với kiến thức về đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) trong kinh tế học, tăng
trưởng kinh tế có thể được hiểu là sự dịch chuyển của điểm sản xuất ra ngoài đường PPF
(Nguyễn Trọng Hoài, 2007).
Còn theo (Begg, 2009), tăng trưởng kinh tế là “phần trăm gia tăng hàng năm của
GNP thực tế hay GNP thực tế trên đầu người trong dài hạn”. Mức sản lượng tiềm năng cao
hơn có thể đạt được thông qua việc tăng các nguồn đầu vào như tư bản (vốn sản xuất), lao
động, vốn nhân lực, đất đai và nguyên liệu. Nghiên cứu sử dụng khái niệm này là chính
trong việc thiết kế mô hình nghiên cứu.
nhau.
GNP = GDP + Thu nhập tài sản ròng từ nước ngoài.
2.2.3. Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng sản lượng hàng năm và tốc độ tăng sản lượng bình quân đầu người là
các chỉ số đo lường tăng trưởng kinh tế.
Trong đó: g (GDPn): tốc độ tăng trưởng tính theo GDP của năm n so với năm n-1.
GDP được tính theo giá so sánh (GDP thực)
Để phản ánh sự gia tăng dân số ảnh hưởng đến tốc độ tăng của GDP, người ta sử
dụng chỉ tiêu tăng trưởng GDP bình quân đầu người (GDP thực tế chia cho dân số) (Begg,
2009). Dữ liệu tác giả thu thập từ WB đã lựa chọn chỉ tiêu GDP bình quân đầu người, PPP,
giá cố định 2011 để tiến hành nghiên cứu.
2.3. Các chỉ tiêu về dân số
2.3.1. Dân số trong độ tuổi lao động
(Quốc hội , 2012) quy định trong điều 3 Luật Lao động Việt Nam, “Người lao động
là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động,
được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.”. Điều 187 cũng
quy định: “Người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy
định của pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ
55 tuổi”. Do đó, khi nghiên cứu cơ cấu dân số theo tuổi lao động, căn cứ vào quy định của
pháp luật, có thể tính tỷ lệ các nhóm 0-14 tuổi; 15- 64 tuổi và nhóm 65 tuổi trở lên. Tỷ lệ
(phần trăm) dân số từ 0-14 tuổi; 15- 64 tuổi và nhóm 65 tuổi trở lên được ký hiệu là f0-14 ,
f15-64 , f≥65 và được xác định, như sau:
f0−14 =
P0−14
x 100
P
6
đổi cơ cấu tuổi dân số là sự biến đổi về số lượng hay tỷ trọng của các nhóm tuổi dân số
trong tổng dân số qua các năm. (Bùi Thị Minh Tiệp, 2012)
Ở mỗi độ tuổi khác nhau con người có những hành vi kinh tế khác nhau nên biến đổi
cơ cấu tuổi dân số sẽ có tác động lớn đến quá trình phân bổ nguồn lực, mức độ tăng trưởng,
phát triển và sự ổn định về chính trị, xã hội của mỗi nước. Một trong những chỉ tiêu cơ
bản thể hiện cơ cấu tuổi dân số đó là tỷ số phụ thuộc dân số. Tỷ số phụ thuộc dân số được
tính bằng công thức như sau:
Bảng 2.1. Công thức tính tỉ lệ phụ thuộc chung theo cơ cấu tuổi
Công thức 1
Công thức 2
Công thức 3
𝑃0−14 + 𝑃60+
𝑥100
𝑃15−59
𝑃0−14 + 𝑃65+
𝑥100
𝑃15−64
𝑃0−19 + 𝑃65+
𝑥100
𝑃20−64
Nguồn: (Nguyễn Đình Cử, 2011); (UNFPA, 2010)
7
dân số từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 7% đến 9,9% tổng dân số thì dân số được coi là “già
hóa”. Tương tự, 10%-19,9% gọi là dân số “già”; 20%-29,9% gọi là dân số “rất già” và từ
30% trở lên gọi là dân số “siêu già”. Luận văn nghiên cứu thống nhất sử dụng cách phân
loại này.
8
2.5. Các đặc điểm già hóa dân số tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia Châu Á
Trong ba thập kỷ qua, dân số các quốc gia Châu Á đã có những biến động mạnh mẽ
về quy mô dân số và cơ cấu tuổi dân số. Tỷ lệ người cao tuổi ở các quốc gia Châu Á tăng
lên nhanh chóng trong giai đoạn này là do ba yếu tố quan trọng: tỷ suất sinh giảm, tỷ suất
tử vong giảm và tuổi thọ tăng lên. Tỷ lệ sinh trung bình giảm từ 2,96 giai đoạn 1990-1999
xuống 2,36 giai đoạn 2000-2009.
Bảng 2. 2. Tỉ lệ sinh trung bình trên tổng số ca sinh của mỗi phụ nữ
Quốc gia
1990-1999 2000-2009
Indonesia
2,762
2,482
Malaysia
3,311
2,331
Nữ
Nam
Indonesia
-4,14892
-4,46132
-3,23153
-3,57755
Malaysia
-2,76684
-2,32006
-1,73873
-1,50591
Philippines -1,96912
-0,52688
-1,88338
9
tăng lên; và tỷ lệ người cao tuổi (từ 65 trở lên) cũng tăng nhanh. Như vậy, dân số cao tuổi
tăng nhanh nhất so với tất cả các nhóm dân số khác trong giai đoạn này.
Bảng 2. 4. Cơ cấu tuổi dân số các quốc gia Châu Á
Quốc gia
Indonesia
Malaysia
Tỉ lệ dân số (%tổng dân số) 1990-1999 2000-2009 2010-2013
0-14 tuổi
33,85
30,13
29,40
15-64 tuổi
62,00
65,03
65,50
Trên 65 tuổi
0-14 tuổi
39,91
37,17
34,72
56,97
59,41
61,48
Trên 65 tuổi
3,12
3,42
3,80
0-14 tuổi
27,51
22,30
18,70
70,40
Trên 65 tuổi
5,94
6,53
6,55
Philippines 15-64 tuổi
Thailand
Việt Nam
Nguồn: Theo tính toán của tác giả dựa trên số liệu của WB (9/8/2015)
Theo Liên hợp quốc, già hóa dân số đang diễn ra ở tất cả các Châu lục và các quốc
gia trên toàn thế giới với tốc độ khác nhau. Già hóa dân số đang tăng nhanh ở các nước
đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Tỷ lệ người già trong tổng số dân của Thái Lan tăng
từ 14% lên 20% chỉ mất có 22 năm, ở Nhật Bản mất 26 năm, thì ở Thụy Điển mất 85 năm,
ở Hoa kỳ mất 69 năm… và Việt Nam là một trong những quốc gia có tỉ lệ già hóa dân số
nhanh nhất trên thế giới với chỉ 20 năm (2017-2037) (UNFPA, 2011).
Trong 24 năm qua (1990-2014), tốc độ tăng trưởng GDP các quốc gia Châu Á duy
trì ở mức ổn định, bình quân hàng năm là 3,70%. Giai đoạn 1990-1999, bất chấp cuộc
khủng hoảng tài chính châu Á 1997-1998, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam đạt tốc độ tăng
trưởng cao hơn so với các giai đoạn 2000-2009, giai đoạn 2010-2013, riêng Philippin
quốc gia chịu ảnh hưởng năng nề nhất từ cuộc khủng hoảng này khiến cho tốc độ tăng
10
Philippines
0,42
2,49
4,51
1,96
Thailand
4,25
3,30
4,04
3,82
Vietnam
5,63
5,41
4,73
5,39
11
2.6.3. Mô hình Harrod – Domar
Kết quả nghiên cứu độc lập của nhà kinh tế học Harrod (1939) và Domar (1946)
về tăng trưởng dựa trên lượng vốn sản xuất (K) tăng thêm hay tiết kiệm (S) được sử
dụng rộng rãi tại các nước đang phát triển nhằm xác định mối quan hệ giữa tăng
trưởng và các yêu cầu vốn, qua đó mở rộng thu hút vốn đầu tư nước ngoài và ứng
dụng trong dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế, dự báo đầu tư và quy mô GDP. Tuy
nhiên, mô hình này có nhược điểm là giả định cứng nhắc về các tỷ số vốn trên lao
động, vốn trên sản lượng, lao động trên sản lượng là những tỷ số cố định, cho thấy
nền kinh tế có rất ít linh hoạt theo thời gian và không có vai trò của tiến bộ công nghệ
(Perkins, 2011).
2.6.4. Mô hình Solow (1956) – Mô hình tăng trưởng tân cổ điển
Vốn chỉ ảnh hưởng tới tăng trưởng trong ngắn hạn, công nghệ (T) mới là yếu
tổ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Mô hình Solow hay còn gọi là
mô hình tăng trưởng tân cổ điển đi đến bốn kết luận chính: i) tốc độ tích lũy vốn tác
động mức thu nhập dài hạn; ii) tốc độ tích lũy vốn không ảnh hưởng đến tốc độ tăng
trưởng; iii) tốc độ tăng trưởng được quyết định bởi tốc độ tăng trưởng lực lượng lao
động và thay đổi công nghệ, cả hai đều là ngoại sinh hay nằm ngoài mô hình; và iv)
với tỉ lệ tiết kiệm và thay đổi công nghệ như nhau, các nước có hệ số vốn trên sản
lượng thấp hơn (đang phát triển) sẽ tăng trưởng nhanh hơn các nước có hệ số vốn
trên sản lượng cao hơn (nước giàu); v) do đó phải có sự hội tụ mức thu nhập trên mỗi
lao động. (Đinh Phi Hổ, 2015)
Như vậy, các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế đã chỉ rõ các yếu tố của tăng
trưởng kinh tế. Động lực phát triển kinh tế được kết hợp từ bốn yếu tố của tăng trưởng
là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, vốn và công nghệ. Hiện nay, trong kinh tế học,
hàm Cobb-Douglas (1928) được áp dụng để xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng
và các yếu tố ảnh hưởng được khái quát như sau:
Y = f(K,L)
tác động tích cực đến kinh tế bởi quy mô dân số tăng lên kéo theo nhu cầu tiêu dùng tăng
lên, thị trường mở rộng thúc đẩy sản xuất phát triển mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Mặt
khác, tăng dân số tạo sức ép thúc đẩy khoa học, kỹ thuật phát triển. Nghĩa là sản lượng
tăng nhanh hơn dân số, chứ không phải chậm hơn theo mô hình Malthus. Với tác phẩm
Theory of Population and Economic Growth, ông sử dụng mô hình tăng trưởng kinh tế tân
cổ điển xem xét các tác động biến đổi dân số lâu dài đến kinh tế tăng trưởng ở các nước
phát triển như Mỹ hoặc Tây Đức. Với mức biến đổi hợp lý, các biến lao động, vốn, công
nghệ, sản lượng, thu nhập và giáo dục được sử dụng trong mô hình chỉ ra rằng tăng trưởng
dân số nhanh hiện tại có giá trị cao hơn so với tăng dân số chậm (Simon, 1986). Một tác
phẩm nữa của ông tập hợp các bài viết, phân tích lý thuyết, thực nghiệm, và chính sách
được viết trên hai mươi năm qua Population and Development in Poor Countries: Selected
Essays cho thấy rằng trong vòng một thế kỷ, hoặc thậm chí một phần tư thế kỷ, tăng số
lượng người tiêu dùng gây nên tăng tổng thu nhập, tăng nhu cầu về nguyên liệu và thành
13
phẩm buộc tăng giá các nguồn tài nguyên thiên nhiên đã kích hoạt quá trình tìm kiếm các
nguồn tài nguyên thiên nhiên mới, những cách thức mới để đáp ứng nhu cầu, dẫn đến tài
nguyên thiên nhiên trở nên rẻ hơn, và nhân loại trở nên tốt hơn (Simon, 1992). Nghiên cứu
của (Bloom, et al., 2003) cũng chỉ ra rằng tăng dân số nhanh có thể có những tác động tích
cực đến phát triển kinh tế vì dân số tăng có thể tạo sức ép phải cải tiến công nghệ sản xuất
– một nhân tố quan trọng của tăng trưởng dài hạn. Khi phân tích mối quan hệ dài hạn giữa
tăng trưởng dân số và phát triển kinh tế ở một số quốc gia như Thái Lan, Furuoka phát hiện
sự tồn tại mối quan hệ nhân quả một chiều theo hướng tích cực, ủng hộ giả thuyết tăng
trưởng kinh tế theo định hướng dân số trong đó tăng trưởng dân số thúc đẩy phát triển kinh
tế. (Furuoka, 2009). Singapore cũng là một trường hợp nghiên cứu tăng trưởng dân số có
thể góp phần phát triển kinh tế. Tăng trưởng dân số của Singapore vừa góp phần phát triển
kinh tế của quốc gia, vừa kích thích tăng dân số trong nước. (Furuoka & Qaiser, 2011)
Nhà kinh tế (Bloom, et al., 2003), lại cho rằng cơ cấu tuổi dân số ảnh hưởng đến
phát triển kinh tế hơn là quy mô dân số, có thể tạo ra cơ hội cho tăng trưởng kinh tế nếu
mạnh rằng trong một nền kinh tế mở, lực lượng lao động linh hoạt và thể chế hiện đại sẽ
đảm bảo một đất nước thực sự có thể gặt hái những cổ tức nhân khẩu học. [trích dẫn lại
từ(Prskawetz & Fent, 2007)].
Do phát triển kinh tế không chỉ phụ thuộc riêng vào vốn nhân lực mà nó còn phù
thuộc vào các nguồn lực khác như tài nguyên thiên nhiên, vốn... Do đó, không thể lấy việc
tác động tích cực hay tiêu cực của dân số đến kinh tế để nói lên sự phát triển của kinh tế
trên thế giới, dẫn đến tồn tại quan điểm trung hoà về mối quan hệ này thể hiện trong một
số nghiên cứu. (Wong H. Tsen and Fumitaka F., 2005) cho thấy không có mối quan hệ
lâu dài giữa dân số và tăng trưởng kinh tế trong các nền kinh tế châu Á. Tuy nhiên, có quan
hệ hai chiều giữa dân số và tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản , Hàn Quốc và Thái Lan. Đối
với Trung Quốc, Singapore, và Philippines, dân số là nguyên nhân gây ra tăng trưởng kinh
tế nhưng không tác động ngược lại. Hồng Kông và Malaysia, tăng trưởng kinh tế lại là yếu
tố tác động đến dân số nhưng không tác động ngược lại. Đối với Đài Loan và Indonesia,
không có bằng chứng về quan hệ nhân quả giữa dân số và tăng trưởng kinh tế. Nhìn chung,
tăng dân số có thể có lợi hoặc bất lợi cho tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng kinh tế cũng
có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng dân số.
Các bằng chứng thực tế về mối tương quan giữa tỷ lệ tăng trưởng dân số và tăng
trưởng kinh tế chưa có kết luận thống nhất. Có thể ảnh hưởng của sự tăng trưởng dân số
đến phát triển kinh tế đã được phóng đại, hoặc là không có sự tương đồng ở các nước khác
nhau như trong tốc độ tăng trưởng, mật độ, cơ cấu và mức thu nhập cũng như tình trạng
phát triển hiện nay cho nên cần có sự nghiên cứu sâu hơn vào kinh nghiệm thực tế để có
sự nhìn nhận rõ nét cho từng quốc gia, khu vực.
15
2.7.2. Các nghiên cứu trong nước về biến đổi dân số và tác động của biến đổi dân số đến
tăng trưởng kinh tế
Hiện nay, mối quan hệ dân số - kinh tế ngày càng được quan tâm hơn, những nghiên
cứu và tranh luận của các nhà khoa học về mối quan hệ dân số - kinh tế cũng trở nên phong
64 (độ tuổi tích cực hoạt động kinh tế) đã tăng từ 52,28% lên 68,32% còn tỷ lệ trẻ em dưới
15 tuổi đã giảm từ 42,55% xuống 25%. Từ 1989 đến 1999, tỷ lệ tăng dân số giảm, tỷ lệ
dân số trong độ tuổi lao động tăng đã đóng góp vào tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm là
0,83%. Tương tự, giai đoạn 1999-2009 là 1,19% và giai đoạn 2009-2019 là 0,2%. Sau
2019, tác động này là âm, cụ thể là, do già hóa dân số, yếu tố dân số sẽ làm tăng trưởng
kinh tế giảm đi 0,2% vào giai đoạn 2019-2029 và giảm 0,12% giai đoạn 2029-2039,… Từ
đó cho thấy vai trò quyết định của lao động đối với tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.
(Nguyễn Đình Cử, 2012)
Cùng một số nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa biến động dân số và
tăng trưởng kinh tế ở một số tỉnh thành như Tp. HCM từ năm 1995 – 2005, đồng thời dự
báo giai đoạn 2006 -2020 (Lê Thị Thanh Loan và cộng sự , 2007), tỉnh Tiền Giang dựa
trên những đặc điểm về cơ cấu dân số, đánh giá khả năng tạo ra việc làm từ tăng trưởng
GDP nhằm đưa ra những giải pháp điều chỉnh nhằm khai thác triệt để lợi tức mà dân số
mang lại cho sự phát triển kinh tế - xã hội. (Huỳnh Phẩm Dũng Phát và Phạm Đỗ Văn
Trung, 2013)
Thay vì chỉ nghiên cứu về quy mô dân số như trước đây, một số nghiên cứu thực
nghiệm về biến đổi cơ cấu tuổi dân số đối với tăng trưởng kinh tế cho thấy có sự chú trọng
khi phân tích sự biến đổi của cơ cấu tuổi dân số và ảnh hưởng của nó tới tăng trưởng kinh
tế. Tác giả Nguyễn Thị Minh nghiên cứu thực nghiệm “Năng động dân số và tăng trưởng
kinh tế” đánh giá tác động của cơ cấu tuổi đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Thống kê
cho thấy, trong những năm gần đây, số người trong độ tuổi lao động của Việt Nam tăng
đáng kể, đi liền với sự suy giảm tỉ lệ phụ thuộc dân số tạo cơ hội thúc đẩy kinh tế phát
triển. Kết quả ước lượng trong mô hình hồi quy chỉ ra rằng sự thay đổi trong cơ cấu tuổi
đóng góp đến 15% tăng trưởng kinh tế trong 5 năm trở lại đây và nhóm người già ở Việt
Nam không gây tác động tiêu cực đến tăng trưởng (Nguyễn Thị Minh , 2009). Tác giả Bùi
Thị Minh Tiệp với đề tài “Tác động của biến đổi cơ cấu tuổi dân số đến tăng trưởng kinh
tế Việt Nam” nghiên cứu xây dựng mô hình ước lượng tác động của biến đổi cơ cấu tuổi
dân số đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam (Bùi Thị Minh Tiệp, 2011). Bài viết chỉ rõ cơ
cấu tuổi dân số (chứ không đơn thuần là quy mô dân số) mới là nhân tố quan trọng với