TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI
GIẢI THƯỞNG “ TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
NĂM 2014
Tên công trình:
TÁC ĐỘNG CỦA GIÀ HÓA DÂN SỐ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở
VIỆT NAM
Thuộc nhóm ngành khoa học: KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ 3
HÀ NỘI, 2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI
GIẢI THƯỞNG “ TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
NĂM 2014
Tên công trình:
TÁC ĐỘNG CỦA GIÀ HÓA DÂN SỐ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở
VIỆT NAM
Thuộc nhóm ngành khoa học: KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ 3
Họ và tên sinh viên (nhóm sinh viên):
1. HOÀNG PHI HÙNG Nam
2. NGUYỄN CÔNG CẢNH Nam
3. NGUYỄN TIẾN DŨNG Nam
4. NGÔ VĂN HẢI Nam
5. NGUYỄN HỒNG SƠN Nam
Lớp, Khoa:KINH TẾ HỌC 53 Năm thứ: 3/4
Ngành học:KINH TẾ HỌC
Người hướng dẫn: PGS. TS. GIANG THANH LONG
HÀ NỘI, 2014
3
TÓM TẮT
Là một quốc gia có mức thu nhập trung bình, song Việt Nam đã bắt đầu
bước vào giai đoạn “già hóa dân số” từ năm 2011 với tỷ lệ người trên 65 tuổi là 7%
Bảng 2.2: Chỉ số già hóa và tỷ lệ hỗ trợ tiềm năng của ở Viêt Nam, 1979–2049….8
Bảng 4.1: Thông kê tóm tắt số liệu dung để hồi quy …………………….………17
Bảng 5.1: Kết quả kiểm định Engler – Granger……………………….………….19
Bảng 5.2: Kết quả hồi quy mô hình (4.1)………………………… ………… 20
6
DANH MỤC HÌNH
Biểu đồ 2.1: Dân số tăng so với năm 1979…………………………………………7
Hình 2.1: Thời gian để dân số quá độ từ “già hóa” sang “già” của một số nước… 9
Biểu đồ 5.1: Tốc độ tăng trưởng lao động bình quân đầu người của Việt Nam,
1990 – 2012 18
Biểu đồ 5.2: Log(GDP bình quân đầu người) của Việt Nam, 1990 – 2012………18
Biểu đồ 5.3: Tỷ lệ phụ thuộc người già Việt Nam, 1990 – 2012……………… 19
7
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
WB : World Bank
: Ngân hàng Thế giới
GSO : General Statistics Office
: Tổng cục Thống kê
VHLSS : Viet Nam Household Living Standerds Survey
: Điều tra mức sống hộ gia đình
DS – KHHGD: Dân số - kế hoạch hóa gia đình
I. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Sự biến động của dân số luôn có được sự quan tâm đặc biệt của các quốc gia
trong khu vực cũng như trên toàn thế giới. Trong thời gian gần đây, sự thay đổi của
dân số có thể thấy rõ nhất là hiện tượng dân số già hoá nhanh. Già hóa dân số là
một điều tất yếu sẽ xảy ra đối với mỗi quốc gia trên toàn thế giới nhưng nó đang
xảy ra với một số nước có thu nhập trung bình và các nước đang phát triển trong
đó có Việt Nam. Với một nền kinh tế đang phát triển với mức thu nhập trung bình,
già hóa dân số thách thức tới lực lượng lao động nói riêng và tăng trưởng kinh tế
nói chung. Một quốc gia có dân số trẻ sẽ năng suất hơn một quốc gia có dân số già
tăng trưởng kinh tế.Tiếp theo, chúng tôi sẽ sử dụng dự báo dân số của tổng cục
thống kê (GSO) để dự báo tác động của biến đổi dân số hay cụ thể là già hóa dân
số đến tăng trưởng kinh tế trong thời kì 2014 - 2059.
Nhìn chung, mục tiêu của nghiên cứu là xem xét tác động của già hóa dân số
đến lao động bình quân đầu người. Hiểu được mối quan hệ giữa già hóa dân số và
tăng trưởng kinh tế. Từ đó đề xuất các giải pháp, ý kiến góp phần cải tiến, điều
chỉnh và đưa ra các chính sách phù hợp cho sự phát triển trong tương lai. Để đạt
được mục tiêu này, bài nghiên cứu xem xét, tập trung trả lời những câu hỏi sau:
1. Già hóa dân số có ảnh hưởng như thế nào đên lao động bình quân đầu
người?
9
2. Già hóa dân số có ảnh hưởng như thế nào đến tăng trưởng kinh tế tại Việt
Nam?
3. Chúng ta cần phải có những chính sách, giải pháp phù hợp ngay hiện tại
và trong tương lai để ổn định tăng trưởng kinh tế trong trung và dài hạn?
Nội dung bài nghiên cứu của chúng tôi gồm 7 phần chính. Trong phần II tiếp
theo chúng tôi sẽ chỉ ra tính cấp thiết của đề tài chúng tôi nghiên cứu. Phần III sẽ
tóm tắt một số nghiên cứu trước đây có liên quan và đưa ra khung lý thuyết cho
toàn bộ nghiên cứu. Phần IVnhóm nghiên cứu sẽ sử dụng số liệu và mô hình để
ước lượng đưa ra kết quả. Trong phần V chúng tôi phân tích kết hồi quy và sử
dụng dự báo dân số để dự báo cho thời kì tiếp theo. Phần VI đề xuất một số chính
sách. Cuối cùng là phần VII đưa ra một số kết luận cho bàu nghiên cứu.
II. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Những người 60 tuổi trở lên được coi là người cao tuổi (Điều 2, Luật người
cao tuổi Việt Nam). Ở một số quốc gia thì người cao tuổi là người 65 tuổi trở lên.
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam người cao tuổi đang tăng nhanh cả về số lượng
và tỷ lệ. Quá trình tăng dần tỷ lệ người cao tuổi trong tổng dân số gọi là “già hóa
dân số”. Đây là môt đặc điểm lớn về dân số và xã hội của những năm gần đây,
được cộng đồng quốc tế rất quan tâm. “Già hóa dân số” đang là một trong những
thách thức chủ yếu của quá trình phát triển đặc biệt đối với các nước nghèo. Theo
1.6 lần, dân số trẻ em chỉ giảm chỉ bằng 0.92 lần, dân số trong độ tuổi lao động
2.08 lần, còn dân số cao tuổi tăng gấp 2.13 lần.
Dân số tỷ lệ hỗ trợ tiềm năng sẽ giảm mạnh, trong khi chỉ số già hóa tăng lên
(Bảng 2).
Bảng 2.2: Chỉ số già hóa và tỷ lệ hỗ trợ tiềm năng ở Việt Nam, 1979 -
2049
Năm
197
9
198
9
199
9
200
9
201
9
202
4
202
9
203
4
203
9
204
4
2049
Chỉ số già
hóa
là ngắn hơn nhiều nước (Hình 1): Pháp mất 115 năm, Mĩ mất 69 năm, Nhật Bản và
Trung Quốc mất 26 năm, trong khi Việt Nam chỉ mất có 20 năm.
Từ tất cả các yếu tố nêu trên, có thể thấy Việt Nam đang đối diện với “sự già
hóa” nhanh chóng. Với điều kiện phát triển kinh tế và xã hội như hiện nay thì đây
là một thách thức lớn cho Việt Nam trong việc thích ứng với dân số “già hóa”
nhanh. Việt Nam có thể sẽ trở thành một nước già trước khi giàu. Nhiều nước già
hóa dân số diễn ra từ lâu, đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm đối phó với thực
trạng này. Trong khi đó, ở Việt Nam thời gian qua chính sách dân số ở nước ta tập
trung vào vấn đề giảm sinh nên các công trình nghiên cứu cũng mới chỉ tập trung
vào mức sinh và kế hoạch hóa gia đình, còn rất ít các công trình nghiên cứu toàn
diện và sâu về người cao tuổi. Do vậy, ngay từ bây giờ cần đẩy mạnh nghiên cứu
quá trình già hóa dân số ở nước ta làm cơ sở cho việc xây dựng và thực thi chính
sách, chiến lược quốc gia nhằm đối phó với xu hướng già hóa dân số diễn ra ngày
càng nhanh, mạnh. Nhằm nâng cao chất lượng sống của người cao tuổi cũng như
ổn nền kinh tế trong trung và giài hạn.
III. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
Trong nhiều thập niên qua, các nhà kinh tế và các nhà học giả nghiên cứu xã
hội đã tranh luận về ảnh hưởng của biến động dân số đối với tăng trưởng kinh tế.
Người ta đưa ra 3 luận điểm về khả năng tác động: Dân số tăng làm hạn chế tăng
trưởng kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hoặc trung tính, không liên quan gì đến
tăng trưởng kinh tế. Có nhiều lập luận được đưa ra nhằm lý giải cho những luận
điểm này. Tuy nhiên, những lập luận đó đều dựa trên vấn đề quy mô và tăng trưởng
dân số. Trong những năm gần đây, cuộc tranh luận đã nêu và nhấn mạnh một số vấn
đề cốt yếu, cơ cấu tuổi của dân số (phân bố của các nhóm tuổi khác nhau của dân
số). Cơ cấu tuổi thay đổi đáng kể khi dân số tăng trưởng.
Theo Blooom, Canning và Sevilla (2011) thìhành vi kinh tế của con người
thay đổi theo từng giai đoạn khác nhau của cuộc đời, những thay đổi trong cơ
cấu tuổi của một quốc gia có thể gây ảnh hưởng lớn đến các hoạt động kinh tế
13
của quốc gia đó. Các quốc gia có tỷ lệ trẻ em cao sẽ phải dành nguồn lực nhiều
nhưng những người già ở Việt Nam dường như không hề gây nên những tác động
tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế.
Cũng trong một nghiên cứu gần đây, GS.TS. Nguyễn Đình Cử (2012) đã chỉ
ra rằng Những biến đổi dân số có tác động đến tăng trưởng kinh tế trong quá khứ
và tương lai:Từ 1989 đến 1999, tỷ lệ tăng dân số giảm, tỷ lệ dân số trong độ tuổi
lao động tăng đã đóng góp vào tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm là 0,83%.
Tương tự, giai đoạn 1999-2009 là 1,19% và giai đoạn 2009-2019 là 0,2%.
Cũng theo ThS. Bùi Thị Minh Tiệp (2011) Tăng trưởng kinh tế của
Việt Nam thời gian qua cũng đã có những cải thiện rõ rệt nhờ vào quá trình đổi
mới kinh tế và có sự đóng góp tích cực của lực lượng lao động ngày càng gia
tăng do quá trình biến đổi cơ cấu tuổi dân số mang lại. Dân số trong độ tuổi lao
động tăng là yếu tố tác động tích cực đến tốc độ tăng trưởng kinh tế. Khi tỷ lệ dân
số trong tuổi lao động (15-60 tuổi) tăng thêm 1% thì tăng trưởng kinh tế tăng thêm
2,78%. Hiện nay, lực lượng lao động trẻ và dồi dào là đặc trưng cơ bản và rõ rệt
nhất của cơ cấu dân số nước ta. Lực lượng lao động lớn và có kỹ năng sẽ giúp
Việt Nam thâm nhập nhanh hơn và sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu.
Cần phải quan tâm thích đáng tới vấn đề tạo việc làm và đào tạo lao động bằng các
chính sách cụ thể như: chính sách giáo dục đào tạo, chính sách lao động, việc
làm…. Dân số trong tuổi lao động tăng mạnh làm cho tiết kiệm tăng lên, từ đó
đóng góp cho đầu tư và tăng trưởng kinh tế. Khi dân số trong độ tuổi lao động tăng
làm gia tăng tiết kiệm và tái đầu tư trong xã hội, 1% gia tăng của vốn đầu tư sẽ làm
tăng 0.4% GDP. Lực lượng lao động dồi dào, có việc làm với thu nhập ngày càng
cao sẽ là nguồn đóng góp lớn cho quỹ an sinh xã hội, bên cạnh đó đóng góp tích
cực cho tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội, chuẩn bị sẵn sàng cho một tương lai
dân số già ở giai đoạn tiếp theo.
Trong bài nghiên cứu Impact of population aging on Asia’s future growth
của Donghyun Park and Kwanho Shin 2 tác giả đã ước tính được ảnh hưởng của tỷ
lệ người cao tuổi phụ thuộc và tỷ lệ thanh thiếu niên tới bốn nguồn tăng trưởng
15
trong 12 nền kinh tế: lực lượng tham gia lao động, TFP, vốn tỷ lệ lao động, và tỷ lệ
Với WA là số người trong độ tuổi lao động giả định WA=L với tỷ lệ tham gia lực
lượng lao động có tính liên tục
Với những giả định trong nghiên cứu
1)y=log ,z=log ,w=log
2)Có một mức độ trạng thái ổn định thu nhập cho người trong độ tuổi lao động
z
*
đặt z
*
=βx
3)Với x là vector bao gồm một tập hợp các biến để xác định thu nhập trạng thái
ổn định mỗi người trong độ tuổi lao động
mô hình cấu trúc cho các yếu tố ảnh hưởng đến cân bằng dài hạn như sau
x=α
1
x
_1
+ α
2
w +α
3
y w=y
1
x+ y
1
w
-1
+ y
3
y
IV. SỐ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Cơ sở lý thuyết
Để xem xét mối quan hệ giữa già hóa dân số với tăng trưởng kinh tế, trước
hết chúng tôi xem xét sự tăng trưởng và các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng.
Rồi tìm hiểu biến đổi nhân khẩu học tác động thế nào tới các nhân tố đó thông qua
hàm sản xuất Cobb-Duglas.
Để nắm bắt được tác động của sự thay đổi nhân khẩu học, chúng tôi phân
biệt giữa dân số, P, và lực lượng lao động, L. GDP bình quân đầu người (Y/P) là
sản phẩm của lực lượng lao động bình quân đầu người – tỷ lệ người lao động trên
tổng dân số - và tỷ lệ sản lượng trên lực lượng lao động.
17
=
trong đó Y = tổng GDP, P = dân số, L = lực lượng lao động, A = năng suất
tổng yếu tố, K = tổng vốn hiện vật, h = nguồn nhân lực, và ∞ = phần vốn trong thu
nhập.
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người (=Y / P) bằng với tốc độ tăng
trưởng của lực lượng lao động bình quân đầu người cộng với tốc độ tăng trưởng
GDP bình quân lao động.
Có thể phân tách tốc độ tăng trưởng GDP bình quân lao động (=Y/L) tiếp
tục như sau:
Dẫn đến
Phương trình cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người được
tạo thành từ bốn thành phần: tốc độ tăng trưởng của bình quân lao động, TFP, vốn
hiện vật bình quân mỗi lao động, và vốn con người.
Tuy nhiên, trong phạm vi bài nghiên cứu này, chúng tôi chỉ xem xét tác
động của già hóa tới yếu tố tốc độ tăng trưởng của bình quân lao động. Trong đó,
việc sử dụng biến bình quân lao động chủ yếu xem xét tới sự thay đổi về mặt số
lượng lao động. Thay vì việc xem xét các yếu tố liên quan tới chất lượng của lao
động như giáo dục, y tế, kỉ luật lao động…, bài nghiên cứu sẽ tập trung vào sự thay
dổi về số lượng của lao động. Đây là một kênh quan trọng, mà qua đó ảnh hưởng
đưa biến đại diên cho sự thay đổi của nền kinh tế vì đây là một trong những yếu tố
này ảnh hưởng tới số lượng lao đông (Theo Chương Lao động – Việc Làm với
Phát triển kinh tế, Giáo trình kinh tế phát triển Đại học Kinh Tế Quốc Dân). Ở đây
19
sử dụng biến ln(yt) chỉ mang tính kĩ thuật nhằm mục địch làm “mượt” số liệu. Việc
này nhằm mục đich làm rõ hơn mối quan hệ của chúng với các chuỗi số liệu khác
trong mô hình (4.1).
Tiếp theo để trả lời cho câu hỏi:già hóa dấn số cóảnh hưởng như thế nào
đến tăng trưởng kinh tế? chúng tôi sử dụng phương trình (4.2)
Trong đó: Y=Tổng thu nhập quốc dân, P=Dân số, L=Lực lượng lao động,
K=Vốn hiện vật, A=Năng xuất tổng hợp các nhân tố (TFP), h=Nguồn nhân lực,
α=phần vốn trong thu nhập.
Từ phương trình (4.2), có thể thấy rằng tốc độ thay đổi của lao động bình
quân đầu người ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng kinh tế theo tỷ lệ 1:1. Điều này
chứng tỏ nếu ước lượng được tác động của già hóa dân số tới lao động bình quân
đầu người thì ta sẽ đánh giá được ảnh hưởng của nó đến tăng trưởng kinh tế.
Cần phải nói thêm rằng, việc sử dụng mô hình với các số liệu phổ biến như:
dân số, lao động và GDP bình quân đầu người trong điều kiện Việt Nam trở nên
phù hợp hơn các mô hình khác.
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng phương pháp hồi quy tính (Static
time series regression) để ước lương mô hình (4.1).
3. Số liệu
Số liệu mà chúng tôi sử dụng để phục vụ cho bài nghiên cứu là bộ số liệu
thứ cấp của Viêt Nam, được lấy từ cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Thế giới (WB).Cụ
thể các số liệu mà chúng tôi sử dùng để phục vụ cho bài nghiên cứu đó là: GDP
bình quân đầu người, dân số, cơ cấu dân số và lực lượng lao động, được tổng hợp
từ cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Thế giới (WB), truy cập ngày 30 tháng 3 năm
2014).
Bảng 4.1: Thông kê tóm tắt số liệu
Các biến Trung Bình Độ lệch chuẩn
90 92 94 96 98 00 02 04 06 08 10 12
DLNL
Biểu đồ 5.2: Log(GDP bình quân đầu người) của Việt Nam giai đoạn
1990 – 2012 (Nguồn: WB)
4.5
5.0
5.5
6.0
6.5
7.0
7.5
90 92 94 96 98 00 02 04 06 08 10 12
LYT
Biều đồ 5.3: Tỷ lệ phụ thuộc người già của Việt Nam giai đoạn 1990 –
2012 (Nguồn: WB)
22
9.2
9.4
9.6
9.8
10.0
10.2
10.4
90 92 94 96 98 00 02 04 06 08 10 12
OLD
Chúng tôi sử dụng phương pháp Engle – Granger để kiểm định mỗi quan hệ
đồng tích hợp giữa các chuối số.
Bảng 5.1: Kết quả kiểm định Engle – Granger (Nguồn: MacKinnon (2010)
1% 5% 10%
Biến kiểm định -3.90 -3.34 -3.04
một trong những kênh có ảnh hương trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế. Theo
phương trình (3.2), thì tỷ lệ phụ thuộc người già cũng ảnh hưởng đến tốc độ tăng
GDP bình quân đầu người cũng với hệ số .
2. Dự báo
Để dự báo tác động của già hóa dân số tới tăng trưởng kinh tế, chúng tôi sử
dụng phương trình sau:
= + (5.1)
Trong đó:
24
: Tốc độ tăng GDP bình quân đầu người
: Tốc độ tăng năng suât lao động
: Tốc độ tăng dân số trong độ tuổi lao động
: Tốc độ tăng dân số
Giả định rằng tốc độ tăng năng suất lao động trong thời kì tới là bằng nhau và
bằng tốc độ tăng năng suất lao động bình quân thời kì trước (giai đoạn 1990 –
2012), tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ bị ảnh hưởng chủ bởi tốc độ tăng lao động và
tốc độ tăng dân số. Dựa vào phương trình (5.1), chúng tôi sẽ tính được tác động cụ
thể sự thay đổi cơ cấu dân số tới kinh tế như thế nào.
Để thực hiện dự báo, chúng tôi sử dụng số liệu Dự báo dân số thời kì 2009-
2059 của Tổng cục thống kê (GSO).
Năm 2009 2014 2019 2024 2029 2034 2039 2044 2049 2054 2059
Dân số
85.8
5
90.8
2
95.4
7
99.4
2
16.48 19.87 23.14 26.03 29.60 33.58 37.99
Tỷ lệ
tăng dân
số
1.13 1.00 0.82 0.64 0.50 0.34 0.17 0.00 -0.16 -0.28
Tỷ lệ
tăng lao
động
1.48 0.94 0.63 0.52 0.30 0.00 -0.21 -0.49 -0.65 -0.83
Tỷ lệ
tăng năng
suất giả
0.13 0.13 0.13 0.13 0.13 0.13 0.13 0.13 0.13 0.13
25
định
Tác động 0.48 0.07 -0.06 0.01 -0.07 -0.21 -0.25 -0.36 -0.36 -0.42
Thay đổi
tỉ lệ phụ
thuộc
người già
-0.08 0.24 0.57 0.71 0.68 0.65 0.58 0.71 0.80 0.88
Từ bảng số liệu trên ta thấy, Trong giai đoạn 2009-2059, tác động của cơ cấu
dân số tới tăng trưởng kinh tế có xu hướng giảm dần. Tác động này là âm từ thời
kì 2019 – 2024 trở đi. Giá trị âm hàm ý rằng, trong điều kiện tốc độ tăng năng suất
lao động không đổi, sự thay đổi cơ cấu dân số ảnh hưởng tiêu cực tới tăng trưởng
kinh tế.
Giá trị của số liệu: “ Thay đổi tỉ lệ phụ thuộc người già” tăng dần qua các
năm cho thấy xu hướng biến đổi cơ cấu dân số theo hướng già đi, tỉ lệ người già
tăng nhanh hơn tỉ lệ tăng lao động.
Đóng góp của biến đổi dân số tới tăng trưởng kinh tế dương trong giai đoạn