BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
------------------O------------------
HOÀNG NGUYÊN KHAI
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI
THƯƠNG VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 62.34.02.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hà Quang Đào
TP. HỒ CHÍ MINH NĂM 2014
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HCM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hà Quang Đào
1. Chủ tịch:
PGS.,TS. Lý Hoàng Ánh
2. Phản biện 1:
PGS.,TS. Trần Huy Hoàng
1
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
Chủ đề năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam
đã, đang và tiếp tục là vấn đề thời sự, thu hút được sự quan tâm lớn cả từ gốc độ
nghiên cứu, xây dựng và điều hành chính sách, quản trị và điều hành kinh doanh
ngân hàng...
Kể từ khi triển khai thực hiện hai luật ngân hàng ban hành năm 2008, thực
hiện hai luật mới ban hành năm 2010 có hiệu lực từ năm 2011, cùng với mở cửa
thị trường dịch vụ tài chính gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, hoạt
động ngân hàng nước ta ngày càng sôi động trong môi trường cạnh tranh ngày
càng gay gắt của các tổ chức tín dụng (TCTD). Để tồn tại và phát triển được,
các tổ chức tín dụng luôn phải thực hiện liên tục và không ngừng nâng cao năng
lực cạnh tranh trong quá trình hoạt động, mở cửa thị trường dịch vụ tài chính,
hội nhập kinh tế quốc tế.
Vietcombank là một trong những NHTM đi tiên phong về mở cửa thị
trường và hội nhập quốc tế, quy mô tài sản không ngừng tăng lên, đa dạng về
sản phẩm dịch vụ, mạng lưới chi nhánh ngày càng tăng...Đứng trước những yêu
cầu đặt ra trong thực tiễn việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM
Việt Nam nói chung và Vietcombank nói riêng luôn đòi hỏi phải có các giải
pháp đồng bộ. Xuất phát từ thực tiễn của ngành ngân hàng Việt Nam nói chung,
Vietcombank nói riêng. Tác giả đã lựa chọn đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh
tranh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam trên thị
trường Việt Nam” để nghiên cứu nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách đang đặt ra
trong thực tiễn ở nước ta hiện nay.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
– Hệ thống hóa và góp phần làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận cơ bản về
– Phạm vi nội dung: Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của Vietcombank, luận án
tập trung vào năng lực cạnh tranh trên các gốc độ: Quy mô; Chất lượng dịch
vụ; Nỗ lực xúc tiến bán hàng; Công nghệ; Phí dịch vụ.
4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận:
Thứ nhất: Trên cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, tác
giả đưa ra quan điểm năng lực cạnh tranh của ngân hàng là: “Năng lực cạnh tranh
của NHTM là khả năng kiểm soát các điều kiện kinh doanh thuận lợi của ngân
hàng so với NHTM và tổ chức tài chính khác trong một môi trường nhất định
nhằm thu được lợi nhuận tối đa”
Thứ hai: Tác giả đưa ra các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM
3
cụ thể như: Năng lực tài chính; Năng lực về sản phẩm dịch vụ; Trình độ công
nghệ ngân hàng; Nguồn nhân lực và năng lực quản trị điều hành; Thị phần và tốc
độ tăng trưởng thị phần của ngân hàng thương mại.
Thứ ba: Luận án cũng tập trung làm rõ các nhân tố tác động đến năng lực
cạnh tranh của NHTM bao gồm: Chất lượng dịch vụ; Nỗ lực xúc tiến bán hàng;
Công nghệ; Giá bán (phí dịch vụ).
Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu, khảo sát của
luận án:
Thứ nhất: Dựa vào số liệu thứ cấp để phân tích thực trạng năng lực cạnh
tranh của Vietcombank cho thấy: Quy mô tổng tài sản của Vietcombank ngày
càng tăng trong giai đoạn 2009-2013 do đó, năng lực cạnh tranh của
Vietcombank về quy mô tài sản đứng thứ 4 trong toàn hệ thống NHTM Việt
Nam; Quy mô vốn chủ sở hữu của Vietcombank năm 2013 đứng vị trí thứ 3,
nhưng sang năm 2014 đứng vị trí thứ 4 trong hệ thống NHTM Việt Nam; Năng
1.1.1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài
Barbara Casu, Philip Molyneux (2000) đã tiến hành nghiên cứu so sánh kết
quả hoạt động của hệ thống ngân hàng Châu Âu. Các tác giả đã dùng phương pháp
phân tích phát triển dữ liệu phi tham số (Non-parametric Data Development
Analysis) kết hợp với cách tiếp cận hồi quy Tobit để phân tích tính cạnh tranh của
hệ thống ngân hàng Châu Âu trong bối cảnh thị trường Châu Âu thống nhất trong
giai đoạn 1993-1997.
Allen N.Berger và Loretta J.Mester (2003), đã nghiên cứu về sự thay đổi hiệu
quả của hệ thống ngân hàng của Mỹ do sự thay đổi về các yếu tố kỹ thuật, cạnh
tranh và quy định của Nhà nước. Đề tài nghiên cứu đã cho thấy trong giai đoạn
1991-1997, hiệu quả về mặt chi phí giảm sút trong khi hiệu quả về mặt lợi nhuận
được cải thiện một cách đáng kể, đặc biệt là khi các ngân hàng tham gia vào quá
trình sát nhập. Nghiên cứu đã cho thấy có sự gia tăng lợi nhuận bằng cách gia
tăng các dịch vụ cao cấp.
1.1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước
- Các bài báo nghiên cứu và sách xuất bản trong khoảng 10 năm gần đây:
Nâng cao năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng Thương mại Việt nam trong
thời gian tới” của Đinh Duy Đông (2007); Bàn về nâng cao năng lực cạnh tranh
cho các NHTM Việt nam trên thị trường dịch vụ ngân hàng” của Phí Trọng Hiển
(2006);...
- Cuốn sách: “Năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng Thương mại trong xu thế
hội nhập” của tác giả Nguyễn Thị Quy xuất bản năm 2005;...
6
- Luận án tiến sỹ đã bảo vệ trong khoảng 10 năm gần đây: Giải pháp nâng
cao năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng Thương mại Việt nam trong điều
kiện hội nhập kinh tế quốc tế(2005);...
- Đề tài: Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Thương
hàng thương mại.
- Phân tích, thống kê, so sánh: số liệu thống kê mô tả, so sánh theo chuỗi và
so sánh chéo để tính toán một số chỉ tiêu phản ánh nâng cao năng lực cạnh tranh
của hệ thống NHTM. Phương pháp này được sử dụng nhằm phân tích, đánh giá,
làm rõ thực trạng năng lực cạnh tranh của Vietcombank trong thời gian qua.
- Phương pháp chuyên gia: phỏng vấn một số nhà hoạch định chính sách,
nhà khoa học và nhà quản lý về nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống
NHTM nhằm xây dựng khung nghiên cứu và bảng câu hỏi điều tra. Trước khi đi
vào nghiên cứu chính thức, tác giả cũng sử dụng phương pháp này nhằm điều
chỉnh bảng câu hỏi điều tra cho phù hợp với thực tế.
- Phương pháp định lượng: phương pháp này được thực hiện bằng kỹ thuật
thu thập thông tin bằng phiếu khảo sát từ các nhân viên và khách hàng của
Vietcombank trên thị trường Việt Nam. Và tiến hành các bước phân tích sau: (1)
làm sạch dữ liệu trước khi tiến hành các bước phân tích; (2) để kiểm tra sự chặt
chẽ và tương quan giữa các biến quan sát, đề tài tiến hành đánh giá độ tin cậy của
thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach Alpha; (3) phân tích nhân tố khám phá
EFA (Exploratory Factor Analysis) nhằm tìm ra các nhóm nhân tố tác động đến
đến năng lực cạnh tranh của Vietcombank, từ đó điều chỉnh mô hình nghiên cứu
phù hợp; (4) và cuối cùng là phân tích hồi quy tuyến tính bội để kiểm định sự tác
động của từng nhân tố đến đến năng lực cạnh tranh của Vietcombank. Tất cả các
bước phân tích trên đều được xử lý thông qua phần mềm thống kê SPSS.
8
CHƯƠNG 2
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC
CẠNH TRANH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2.1. QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
nghiệp khác
- Cạnh tranh của NHTM chịu sự ảnh hưởng nhạy cảm của thị trường tài chính
quốc tế
- Cạnh tranh ngân hàng dựa rất lớn vào yếu tố tâm lý như sự tín nhiệm, kỳ vọng
của người gửi tiền
- Chủ thể cạnh tranh đa dạng
- Cạnh tranh trong điều kiện chịu sự chi phối mạnh mẽ của các chính sách tài
chính tiền tệ của Nhà nước
- Phụ thuộc nhiều vào đặc điểm của sản phẩm ngân hàng
2.1.2. Các phương thức cạnh tranh của ngân hàng thương mại
- Cạnh tranh bằng cách tạo ra tính đa dạng của danh mục dịch vụ
- Cạnh tranh bằng cách cải thiện quy trình cung cấp dịch vụ nhằm tăng tiện ích,
nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm thiểu thời gian cung ứng dịch vụ, đảm bảo
an toàn cho khách hàng.
- Cạnh tranh bằng giá cả, bao gồm chi phí, lãi suất, phí dịch vụ.
- Cạnh tranh bằng mở rộng mạng lưới phòng giao dịch.
- Cạnh tranh bằng hoạt động Marketing.
2.2. NỘI DUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
2.2.1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của NHTM
Về cơ bản, năng lực cạnh tranh của NHTM cũng được hiểu như năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp, có nghĩa “Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng
kiểm soát các điều kiện kinh doanh thuận lợi của ngân hàng so với NHTM và tổ
chức tài chính khác trong một môi trường nhất định nhằm thu được lợi nhuận tối
đa”. Tuy nhiên, do hoạt động của NHTM là loại hình kinh doanh tiền tệ và các
dịch vụ tài chính nên tiêu chí đo lường năng lực cạnh tranh của NHTM có sự
khác biệt.
2.2.2. Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM
Năng lực hoạt động; Năng lực quản trị Marketing; Cơ sở hạ tầng; Công tác
11
quản trị nguồn nhân lực; Công nghệ ngân hàng; Các NHTM khác; Các nhân tố
thuộc về kinh tế - chính trị; Chất lượng dịch vụ; Giá bán (phí dịch vụ).
2.3. KINH NGHIỆM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI VÀ BÀI HỌC RÚT RA CHO CÁC
NGÂN HÀNG VIỆT NAM
2.3.1. Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng nước ngoài
Ngân hàng thương mại Trung Quốc; Các ngân hàng Nhật Bản; Các ngân
hành Hàn Quốc;Ngân hàng Citibank
2.3.2. Bài học kinh nghiệm rút ra đối với ngân hàng Việt Nam
Thứ nhất: Tăng quy mô vốn điều lệ theo đúng lộ trình gắn liền với đảm bảo độ an
toàn tài chính một cách bền vững.
Thứ hai: Mạnh dạn đầu tư hiện đại hóa công nghệ ngân hàng ở trình độ tiên tiến
của thế giới.
Thứ ba: Kiên quyết đổi mới và nâng cao năng lực quản trị điều hành ngân hàng.
Thứ tư: Giữ vững thương hiệu và củng cố uy tín.
Thứ năm: Có chiến lược đúng đắn về mở rộng thị phần và phát triển mạng lưới.
Thứ sáu: Có kế hoạch cụ thể đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm dịch
vụ ngân hàng bán lẻ.
12
CHƯƠNG 3
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
- Tỷ lệ nợ xấu và hệ số an toàn vốn
Trong giai đoạn 2009 – 2013, hệ số an toàn vốn của Vietcombank vẫn luôn
đảm bảo, tỷ lệ nợ xấu chỉ dao động quanh mức 2%, ở khoảng cách xa so với tỷ lệ
là 5% theo thông lệ quốc tế.
- Hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu suất sinh lời của tổng tài sản bình quân ROAA (Return On Average
Assets - ROAA) và hiệu suất sinh lời của vốn chủ sở hữu bình quân ROAE
(Return On Average Equity - ROAE) liên tục giảm trong giai đoạn 2009 – 2013 là
khó khăn chung của hệ thống ngân hàng Việt Nam, nhất là khi mà lãi suất liên
tục giảm, nợ xấu lớn,…Năm 2013 Vietcombank đạt tỷ lệ tương ứng là 0,99% và
10,38%.
3.2.2. Năng lực về sản phẩm dịch vụ
- Huy động vốn: Đến hết năm 2013, huy động vốn của Vietcombank từ nền
kinh tế đạt 334.259 tỷ đồng, tăng 16,3% so với đầu năm, vượt mức kế hoạch 12%
đã đề ra từ đầu năm. Nếu tính nguồn vốn vay bảo hiểm xã hội, nguồn vốn huy
động từ nền kinh tế đạt 340.259 tỷ đồng, tăng 11,6% so với năm 2012.
- Hoạt động tín dụng: Đến hết năm 2013, Vietcombank đạt dư nợ cho vay nền
kinh tế (bao gồm cả đầu tư trái phiếu doanh nghiệp) là 287.357 tỷ đồng, tăng
14,8% so với năm 2012, cao hơn mức tăng trưởng tín dụng chung của toàn
ngành, cao hơn mức kế hoạch 9% đã đề ra từ đầu năm. Mức tăng tín dụng năm
2013 chủ yếu tập trung vào 6 tháng cuối năm (+13,9%).
- Hoạt động đầu tư: Tính đến thời điểm 31.12.2012, tổng vốn đầu tư, góp vốn
liên doanh, cổ phần của Vietcombank đạt 3.058 tỷ đồng, chiếm 15,3% Vốn điều
lệ và Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, tăng 266,8 tỷ đồng so với thời điểm
31.12.2011, đạt 84% so với kế hoạch được Hội đồng Quản trị (HĐQT) phê
duyệt.
- Hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu
14
15
hiệu quả; Nâng cao chất xử lí các vướng mắc của các chi nhánh; Xúc tiến triển
khai các dự án nâng cao năng lực hoạt động; Hoàn thiện các quy chế, quy trình
nội bộ phù hợp với hoạt động thực tiễn; Đổi mới, chuyển đổi tích cực công tác
xây dựng cơ bản hiện đại hoá các điểm giao dịch và quảng bá thương hiệu tới
khách hàng; Đổi mới toàn diện công tác thu hồi và xử lí nợ xấu
3.3. PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI
THƯƠNG VIỆT NAM
3.3.1. Mô hình nghiên cứu
Các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh như sau:
Quy mô; Chất lượng dịch vụ; Nỗ lực xúc tiến bán hàng; Công nghệ; Giá bán (phí
dịch vụ).
3.1.1. Kết quả nghiên cứu
- Phân tích mô tả: Các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng
có độ lệch chuẩn đều lớn hơn 0,5 và giao động từ 0,61586 đến 0,61728. Có mức
trung bình giao động từ 4,5123 đến 4,4733.
- Đánh giá độ tin cậy của thang đo: Cronbach's Alpha của các biến giao động từ
0,803 đến 0,836. Vì vậy tất cả các nhân tố con và các biến đều được chấp nhận
và thích hợp để tiến hành các bước phân tích tiếp theo.
- Phân tích nhân tố nhân tố khám phá EFA: KMO của biến độc lập đạt 0,857;
KMO của biến phụ thuộc là 0,820. Do đó các nhân tố có tương quan với nhau
trong tổng thể.
- Tương quan giữa các biến
Biến phụ thuộc (Nangluc) có mối tương quan mạnh với Quimo, Chatluong, và
Congnghe (0,60 < r < 0,79); biến phụ thuộc (Nangluc) có mối tương quan đáng
kể với Phidichvu và có mối tương quan yếu với Xuctien. Ngoài ra, xét về mối
quan hệ giữa các biến độc lập, Quimo có mối tương quan mạnh với Congnghe và
3.4.2. Những hạn chế
Thứ nhất: Do sự thận trọng trong hoạt động tín dụng khiến cho tổng doanh
số tăng trưởng tín dụng giảm kéo theo lượng vốn huy động cũng giảm theo (bởi
vì huy động vào mà không cho vay được) và làm cho tổng tài sản và kéo theo
17
quy mô hoạt động từ năm 2012 đến nay giảm đáng kể và tụt so với một số ngân
hàng khác.
Thứ hai: Mặc dù đầu tư công nghệ đã được chú trọng song do quy mô hoạt
động giảm làm cho dư địa cho phát triển công nghệ ngân hàng hỗ trợ cho việc ra
đời các sản phẩm mới ít đi và vấn phải tập trung vào một số các sản phẩm củ
mang tính truyền thống: tín dụng, bảo lãnh…tiềm ẩn rủi ro.
Thứ ba: Ngoài sản phẩm thẻ, hoạt động tài trợ thương mại và dịch vụ bước
đầu có tín hiệu tốt thì nhìn chung số lượng các sản phẩm dịch vụ phi tín dụng còn
thua kém các ngân hàng nước ngoài và nhiều NHTM khác của Việt Nam.
Thứ tư: Hệ thống các sản phẩm dịch vụ còn đơn điệu, nghèo nà chủng loại,
chiếm tỷ trọng lớn vẫn là các sản phẩm truyền thống như thanh toán, dịch vụ tín
dụng.
Thứ năm: Chất lượng dịch vụ chưa thực sự được khách hàng đánh giá cao,
một số dịch vụ ngân hàng hiện đại của ngân hàng nhưng khách hàng chưa hiểu
biết được hết các tính năng cũng như tiện ích của dịch vụ.
Thứ sáu: Những thay đổi của năng lực cạnh tranh chưa tương xứng với
lượng vốn đầu tư bỏ ra, không có những chuyển biến mạnh mang tính tích cực,
như sản phẩm chưa đa dạng, linh hoạt, năng lực công nghệ và năng lực quản trị
điều hành chưa đạt được hiệu quả tối ưu và thiếu kinh nghiệm khi vận hành trong
môi trường mang tính quốc tế…làm cho hiệu quả đầu tư thấp.
3.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế
Thứ nhất: Với hệ thống quản trị điều hành nói chung và năng lực quản lý
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT
NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM
4.1. NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CẠNH TRANH TRONG HOẠT
ĐỘNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM CŨNG NHƯ ĐỐI VỚI
VIETCOMBANK TRONG NHỮNG NĂM TỚI
Yêu cầu của hội nhập quốc tế đối với cạnh tranh ngân hàng
Những cơ hội và thách thức đối với ngân hàng Việt nam cũng như đối với
Vietcombank trong hội nhập quốc tế
Xu hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại trong
điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
4.2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM
4.2.1. Nâng cao năng lực cạnh tranh của Vietcombank thông qua việc tăng
quy mô của ngân hàng
Tiếp tục bán Cổ phần cho cổ đông nước ngoài ở tỷ lệ 10%, nâng tỷ lệ sở hữu
của nhà đầu tư nước ngoài tại Vietcombank. Phần bán 10% vốn nhà nước cho
phép Vietcombank tiếp tục để lại nhằm tăng vốn chủ sở hữu.
Cổ tức phần vốn Cổ phần của nhà nước tại Vietcombank được trả hàng năm
cho phép để lại 50% hoặc cao hơn 60% – 70% để tăng vốn chủ sở hữu hàng năm
cho Vietcombank.
4.2.2. Nâng cao chất lượng dịch vụ
– Đẩy mạnh công tác chăm sóc khách hàng
20
– Phát triển đội ngũ nhân sự
– Hoàn thiện môi trường pháp lý và cơ chế có liên quan trực tiếp đến tạo môi
trường cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động
21
– Ngân hàng nhà nước tăng cường vai trò quản lý nhà nước và điều hành chính
sách tiền tệ theo hướng tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh hơn cho các
ngân hàng thương mại Việt Nam
– Ngân hàng nhà nước chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thực hiện đề án tái cơ cấu lại
các Tổ chức tín dụng Việt nam
– Khẩn trương hoàn thiện chiến lược phát triển ngành ngân hàng nói chung và
chiến lược phát triển các ngân hàng thương mại Việt nam nói riêng.
22
KẾT LUẬN
Hầu hết các NHTM cổ phần nói chung và Vietcombank nói riêng theo đuổi
chiến lược tăng trưởng tín dụng nhanh trong khi năng lực quản trị rủi ro của
NHTM cổ phần nói chung và Vietcombank nói riêng còn nhiều hạn chế và chậm
được cải thiện. Một bộ phận không nhỏ vốn tín dụng và nhiều NHTM cổ phần
nói chung và Vietcombank nói riêng tập trung đầu tư vào các lĩnh vực tiềm ẩn
nhiều rủi ro, chẳng hạn như bất động sản.
Ngoài ra, công tác thanh tra, giám sát ngân hàng trong một thời gian dài
chưa phát huy hiệu quả cao trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các
vi phạm, rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của các NHTM cổ phần nói chung