Xây dựng và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán ở Việt Nam - Pdf 40

1

Trần
văn
trí
luận
án
tiến sĩ
kinh
tế
hà nội
- 2015

NGN HANG NHA NC VIấT NAM

B GIO DC VA AO TO

HOC VIấN NGN HANG
**********

TRN VN TR

XY DNG VA QUN Lí DANH MC
U T CHNG KHON VIấT NAM

LUN N TIấN SI KINH Tấ

HA NI NM 2015

1


:62.34.02.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1. GS-TS.NGUYỄN KHẮC MINH
2. PGS-TS.TRƯƠNG QUỐC CƯỜNG

HÀ NỘI – NĂM 2015

2


3

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Tổng quan tình hình nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Những đóng góp dự kiến của luận án
Nội dung và kết cấu của luận án
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XÂY DỰNG
VÀ QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
Danh mục đầu tư chứng khoán

Đa dạng hóa danh mục đầu tư chứng khoán
Khái quát một số mô hình định giá chứng khoán
Chiến lược quản lý danh mục đầu tư chứng khoán
Quy trình xây dựng và quản lý danh mục đầu tư
Xác định mục tiêu đầu tư
Lựa chọn chứng khoán đầu tư

i
ii
Vi
Viii
1
1
3
14
14
15
16
16
17
17
17
17
21
24
26
30
30
30


.
1.5.
1.5.1
.
1.5.2
.

Xây dựng danh mục đầu tư chứng khoán
Xây dựng danh mục đầu tư hiệu quả của các chứng khoán rủi ro
Xây dựng danh mục đầu tư chứng khoán tối ưu
Xác định danh mục đầu tư chứng khoán tối ưu cho nhà đầu tư
Quản lý danh mục đầu tư
Đánh giá hiệu quả danh mục đầu tư
Điều chỉnh danh mục đầu tư
CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM XÂY DỰNG VÀ
QUẢN LÝ
DANH MỤC ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM
Tổng quan thị trường chứng khoán Việt Nam
Điều kiện áp dụng lý thuyết danh mục trong xây dựng và quản
lý danh mục đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Phương pháp xây dựng và quản lý danh mục đầu tư trên thị
trường chứng khoán Việt Nam
Lựa chọn cổ phiếu đầu tư
Vấn đề kinh tế lượng của mô hình định giá tài sản vốn

2.1.
2.2.1
2.1.2
.
2.2.


4

43
43
48
53
56
56
62
65
65
65
67
71
71
72
75
77
84
84
87
88
94
94
101


5


Nhóm các giải pháp tăng cung hàng hóa trên thị trường
chứng khoán
Tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

3.2.1
.
3.2.2
.
3.2.3
.
3.2.4
.
3.2.5
.
3.3.
3.3.1

Khuyến khích các công ty đại chúng thực hiện niêm yết cổ
phiếu trên các Sở giao dịch chứng khoán.
Phát triển quỹ đầu tư chứng khoán
Đẩy nhanh việc thực hiện đề án phát triển thị trường chứng
khoán phái sinh
Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp

3.3.2
.
3.4.
3.4.1
3.4.2
.

Điều chỉnh danh mục thị trường

143
143
144

Sử dụng lãi suất phi rủi ro phù hợp

146

Giảm hiệu ứng đầu tư theo tâm lý số đông

147

122


6

.
3.4.5
.

Giảm bớt sự can thiệp hành chính hướng tới xây dựng thị
trường tài chính đồng bộ
KẾT LUẬN

6

149

Bảng 3.4
Bảng 3.5
Bảng 3.6
Bảng 3.7
Bảng 3.8
Bảng 3.9

7

Ma trận hiệp phương sai của các chứng khoán
Cổ phiếu định giá thấp Sở Giao dịch Chứng khoán TP.
Hồ Chí Minh
Thông tin cổ phiếu được chọn từ Bảng 2.1a
Cổ phiếu định giá thấp Sở Giao dịch Chứng khoán TP.
Hà Nội
Thông tin các cổ phiếu được chọn từ bảng 2.2.a
Thống kê mô tả số liệu tỷ suất sinh lời.
Các danh mục đầu tư hiệu quả
Danh mục đầu tư hiệu quả C
Danh mục đầu tư tối ưu
Danh mục đầu tư D
Thước đo hiệu quả các danh mục đầu tư
Thước đo hiệu quả danh mục C
Thước đo hiệu quả danh mục D
Thước đo hiệu quả danh mục đầu tư tối ưu
Mức độ hiệu quả danh mục VNINDEX, HNXINDEX
Đánh giá lại mức độ hiệu quả danh mục đầu tư tối ưu
Thông tin cổ phiếu được chọn để điều chỉnh danh mục
Tập danh mục đầu tư hiệu quả sau điều chỉnh
Danh mục C sau khi điều chỉnh

105
106
107
108
124
127
128
128
135
136
139
141
142


8

DANH MỤC HÌNH
Hình: 1.1
Hình 1.2
Hình 1.3
Hình 1.4
Hình 1.5
Hình 1.6
Hình 1.7
Hình 1.8
Hình 1.9
Hình 1.10
Hình 1.11
Hình 1.12

Đường bàng quang của nhà đầu tư
Danh mục đầu tư tối ưu của nhà đầu tư
Mức độ hiệu quả danh mục – Hệ số Sharpe
Mức độ hiệu quả danh mục – Hệ số Treynor
Thu nhập và rủi ro của danh mục đầu tư
So sánh R2 hiệu chỉnh giữa nguồn dữ liệu quan sát
5 năm và 2 năm (5 năm – 2 năm)
So sánhR2 hiệu chỉnh giữa nguồn dữ liệuquan sát theo
tuần và theo ngày (Tuần-Ngày) 5 năm
R bình phương hiệu chỉnh ước lượng theo nguồn dữ liệu
quan sát trong năm năm, tần suất quan sát theo tuần
Beta của các cổ phiếu
Đường biên hiệu quả
Đường biên hiệu quả, đường CAL, đường bàng quang A=2
Danh mục đầu tư tối ưu với lãi suất vay lớn hơn lãi suất
cho vay
Danh mục đầu tư tối ưu với lãi suất vay rb: 0.3846%>rf
Dữ liệu thị trường chứng khoán VNINDEX
Dữ liệu thị trường chứng khoán HNXINDEX
Đường biên hiệu quả và đường bàng quang với A=1)
CAL1, CAL2, đường biên hiệu quả có bán khống
chứng khoán
Đường thị trường chứng khoán với chi phí giao dịch
Danh mục C và danh mục D trên đường biên hiệu quả
Đường SML khác nhau dựa trên danh mục thị trường
Đường SML khác nhau dựa trên lãi suất phi rủi ro

24
29
32


9


10

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán Việt Nam từ sau thành lập và đi vào hoạt động
đến nay đã có những đóng góp tích cực trong việc thúc đẩy kinh tế tăng
trưởng, trở thành kênh huy động vốn quan trọng cho đầu tư đối với nền kinh
tế nước ta. Cho đến nay, dẫu còn nhiều vấn đề cần phải làm để thúc đẩy thị
trường chứng khoán phát triển và hoàn thiện, đáp ứng vai trò thu hút vốn để
phục vụ chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Song những kết
quả đạt được của thị trường trong thời gian qua khẳng định mục tiêu thiết lập
và đưa thị trường chứng khoán đi vào hoạt động từ thấp đến cao phù hợp với
thực tiễn nền kinh tế Việt Nam là hướng phát triển đúng đắn.
Định hướng phát triển thị trường chứng khoán trong những năm tới của
Đảng và Chính phủ là tiếp tục tạo điều kiện để thị trường chứng khoán phát
triển minh bạch, ổn định; hoàn thiện khung pháp lý, tăng số lượng và chất
lượng hàng hóa cho thị trường, mở rộng phạm vi thị trường, khuyến khích
phát triển các tổ chức tham gia thị trường.
Để thị trường chứng khoán nước ta có thể phát triển một cách ổn định
và bền vững, ngày càng tiến tới chuyên nghiệp thì bên cạnh những định
hướng trên, cần có những giải pháp mang tính kỹ thuật giúp các nhà đầu tư có
được cơ sở khoa học trong phân tích đầu tư chứng khoán, tránh đầu tư theo
cảm tính, phong trào. Trong đó, ứng dụng lý thuyết danh mục hiện đại để xây
dựng và quản lý danh mục đầu tư được xem là một giải pháp.
Lý thuyết danh mục đầu tư được khởi xướng từ những năm 1950 và
ứng dụng khá phổ biến ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển. Tác

ý nghĩa thống kê, độ tin cậy. Các đề tài hầu như chỉ sử dụng mô hình định giá
tài sản vốn để xác định rủi ro hệ thống (beta) làm cơ sở để đưa ra quyết định
đầu tư, không đề cập hoặc đề cập không sâu đến thu nhập vượt trội so với thu
nhập theo yêu cầu của mô hình…
11


12

Do vậy, việc tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng lý thuyết danh mục trong xây
dựng và quản lý danh mục đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam là hết
sức cần thiết. Chính vì những lý do trên mà nghiên cứu sinh đã chọn đề tài cho
luận án: "Xây dựng và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán ở Việt Nam ".
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại đã được nghiên cứu, phát triển và
ứng dụng khá phổ biến trên thế giới ở cả giác độ lý thuyết lẫn thực nghiệm.
Từ sau công trình lựa chọn danh mục đầu tư của Harry Markowitz năm 1952
[75], rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến đến lĩnh vực này
đã được thực hiện. Trong phần tổng quan nghiên cứu này, nghiên cứu sinh chỉ
tổng hợp những công trình nghiên cứu điển hình trên các lĩnh vực: lý thuyết
danh mục trung bình-phương sai; yếu tố đầu vào của mô hình trung bình
phương sai; đánh giá hiệu quả danh mục đầu tư. Đây là 3 vấn đề có liên quan
trực tiếp đến nội dung nghiên cứu trong luận án của nghiên cứu sinh.
2.1. Tình hình nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trên thế giới
2.1.1. Lý thuyết danh mục trung bình-phương sai
Harry Markowitz với hai công trình nghiên cứu nổi tiếng: Lựa chọn
danh mục đầu tư [76] và đa dạng hóa danh mục đầu tư [77] được xem là cha
đẻ của lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại. Trong các công trình của mình,
ông đã xây dựng công thức để tính toán và lựa chọn giá trị trung bình và
phương sai của danh mục đầu tư. Ông đã chứng minh thuyết căn bản cho lý

ra danh mục đầu tư tối ưu trong một thời kỳ nhất định (từng giai đoạn thời
gian đơn lẻ). Trên thực tế vấn đề đầu tư không dừng lại ở một giai đoạn vì vậy
lựa chọn danh mục đầu tư đa giai đoạn hoặc với khung thời gian liên tục được
đặt ra, nghĩa là cần có sự mở rộng công thức đối với lý thuyết danh mục
trung bình-phương sai từ dạng tĩnh sang dạng động với đa giai đoạn và khung
thời gian liên tục. Bài báo của Fama [60], Hakanssan [65], [66], Meton [79],
Mossin [81] đã phân tích vấn đề này dưới nhiều giả thuyết khác nhau. Các bài
báo này cho thấy, dưới một số giả định hợp lý, vấn đề đa giai đoạn có thể
13


14

được giải quyết là một chuỗi của vấn đề giai đoạn riêng lẻ. Meton đã nghiên
cứu vấn đề danh mục đầu tư với khung thời gian liên tục thông qua việc xây
dựng công thức giải quyết đồng thời vấn đề danh mục và đầu tư tiêu dùng.
Kết quả cho thấy, khung thời gian liên tục cũng chỉ được xác định dựa trên
kết quả của khung thời gian rời rạc.
Trên thực tế, việc tìm ra chiến lược đầu tư tối ưu trong các tình huống
động là không hề dễ dàng. Tuy nhiên, vấn đề này đã được giải quyết nhờ các
công trình Li và Ng [72], Zhou và Li [73]. Từ đó, nhiều học giả khác phát
triển sâu hơn lựa chọn danh mục trung bình-phương sai động. Li và các đồng
nghiệp khảo sát việc lựa chọn danh mục đầu tư trung bình-phương sai với thời
gian liên tục trong đó không được phép bán khống tài sản rủi ro (Nhưng được
phép bán khống tài sản phi rủi ro). Lim và Zhou [74] nghiên cứu sự lựa chọn
danh mục đầu tư trung bình-phương sai thời gian liên tục dưới giả định các
tham số thị trường là các biến ngẫu nhiên ngoại sinh. Bielecki và đồng nghiệp
[53]; Xia và Yan [90] đã khảo sát lựa chọn danh mục đầu tư trung bìnhphương sai thời gian liên tục với luật cấm phá sản trong thị trường hoàn hảo
và không hoàn hảo.
Một số công trình nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm liên quan đến lý

biến số kinh tế vĩ mô, chủ động dự báo các chỉ số sẽ thay đổi như thế nào
trong thời gian đến. Mô hình đa chỉ số được sử dụng để xây dựng lại công
thức cho lý thuyết danh mục trung bình-phương sai theo cách rõ nghĩa hơn
đối với các nhà quản lý danh mục: Ross [86], Ingersoll [67], là công cụ cơ sở
để đánh giá các nhà quản lý quỹ.
Mô hình định giá tài sản vốn là mô hình ước lượng các yếu tố đầu vào
để xây dựng danh mục đầu tư. Mô hình được phát triển vào đầu những năm
60 của thế kỷ trước bởi William Sharpe [87], John Lintner [69] và Jan Mossin
[81]. Mô hình định giá tài sản vốn là mô hình cơ bản và có ảnh hưởng mạnh
mẻ đối với tài chính hiện đại. Nó có quan hệ mật thiết với lý thuyết danh mục

15


16

đầu tư trên các phương diện quản lý rủi ro danh mục, đánh giá hiệu quả quỹ
đầu tư, đo lường giá trị của chứng khoán.
Mô hình định giá tài sản vốn là mô hình nhân tố đơn tuyến tính (đường thị
trường chứng khoán) liên quan đến thu nhập kỳ vọng của tài sản và danh mục
đầu tư. Hệ số góc đường thị trường chứng khoán được gọi là beta, đo lường rủi
ro hệ thống của tài sản. Mặc dù còn nhiều tranh luận trong nghiên cứu và thực
nghiệm về giá trị của mô hình định giá tài sản vốn, nhưng với sự đơn giản về
mặc toán học, mô hình này có thể lượng hóa nhanh mối quan hệ giữa thu nhập
và rủi ro của tài sản và vẫn là chuẩn mực chính trong định giá tài sản.
Ming-Hsiang Chen [80] áp dụng mô hình định giá tài sản vốn trên bảy
lĩnh vực thuộc thị trường tài chính Đài Loan. Kết quả cho thấy mức độ hiệu
quả về thực nghiệm đáng khích lệ. Mối quan hệ giữa thu nhập và rủi ro hệ
thống (beta) của chứng khoán có ý nghĩa thống kê, các hệ số xác định của
phép hồi quy khá cao.

beta để đo lường rủi ro. Trong khi Friend, Blume và Crockett đánh giá hiệu
quả của danh mục được quản lý dựa trên các danh mục không được quản lý
có cùng mức rủi ro một cách ngẫu nhiên thì các nhà nghiên cứu khác sử dụng
các mối liên kết giữa danh mục bấc kỳ với tài sản phi rủi ro nằm dọc đường
thẳng trong không gian thu nhập kỳ vọng và beta hoặc thu nhập kỳ vọng và
độ lệch chuẩn để đánh giá hiệu quả danh mục đầu tư.
Tóm lại, trên cả giác độ lý thuyết lẫn thực nghiệm, việc xây dựng và
quản lý danh mục đầu tư dựa vào lý thuyết danh mục hiện đại trên thế giới đã
có quá trình phát triển qua hàng thập kỷ. Các công trình nghiên cứu có thể
chia thành ba nhóm: Nhóm công trình liên quan đến định giá chứng khoán,
ước lượng, tính toán các yếu tố đầu vào cho việc xây dựng danh mục đầu tư;
nhóm công trình liên quan đến xây dựng danh mục đầu tư hiệu quả, tối ưu;
nhóm công trình liên quan đến đánh giá hiệu quả của danh mục đầu tư. Đây là
cơ sở rất tốt cho việc ứng dụng lý thuyết danh mục trong xây dựng và quản lý
danh mục đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam mà nghiên cứu sinh
17


18

đang thực hiện. Lý thuyết danh mục đầu tư Markowitz, mô hình định giá tài
sản vốn, hay các phương pháp đánh giá hiệu quả danh mục đầu tư: Sharpe,
Treynor, Jensen-những công cụ này đã khẳng định vai trò của nó đối với quá
trình định giá, lựa chọn cổ phiếu đầu tư, xây dựng và đánh giá danh mục đầu
tư trong thực nghiệm dù đã có nhiều công trình nghiên cứu bổ sung và thay
thế. Do vậy, nghiên cứu sinh sử dụng các lý thuyết và mô hình này cho việc
xây dựng và quản lý danh mục đầu tư của luận án.
2.2. Các công trình nghiên cứu và thực nghiệm trong nước
Việc nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đối với lý thuyết danh mục
đầu tư trong nước như vừa đề cập trên đây là chưa nhiều. Qua các báo, tạp

chưa được vận dụng vào thực tiễn ở Việt Nam vì một số lý do. Trên cơ sở đó
tác giả đã đưa ra một số kiến nghị để mô hình có thể được ứng dụng có hiệu
quả trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tác giả Nguyễn Anh Phong kiểm
chứng sự phù hợp của mô hình định giá tài sản vốn tại thị trường chứng
khoán Việt Nam [38], tác giả dựa vào mô hình định giá tài sản vốn để tính hệ
số beta của chứng khoán, quyết định lựa chọn cổ phiếu đầu tư tùy thuộc vào
việc chấp nhận rủi ro của nhà đầu tư, trên cơ sở đó xây dựng một vài danh
mục đầu tư mô phỏng. Qua kết quả kiểm chứng tác giả kết luận: tỷ suất sinh
lợi và beta cổ phiếu có mối quan hệ tuyến tính, chỉ số beta có mối quan hệ
dương đến tỷ suất sinh lợi. Mô hình định giá tài sản vốn không ổn định do đó
khó có thế sử dụng nó để đánh giá rủi ro cũng như dự báo suất sinh lời của cổ
phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tác giả Võ Thị Thúy
Anh sử dụng mô hình định giá tài sản vốn để ước lượng hệ số beta như là thang
đo rủi ro hệ thống của cổ phiếu các công ty trong các ngành dịch vụ tiêu dùng,
dịch vụ công cộng, công nghiệp và nông lâm thủy sản [4]. Tác giả Triệu Kim
Lanh đã vận dụng các lý thuyết danh mục đầu tư trên thị trường chứng khoán
Việt Nam, trong đó có vận dụng mô hình định giá tài sản vốn để tính toán thu
nhập kỳ vọng và rủi ro của danh mục đầu tư [25]. Tác giả Ngô Đăng Hoàng
[21] đã ứng dụng mô hình định giá tài sản vốn để xây dựng danh mục đầu tư
trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tác giả Lê Thị Mỹ Dung [10] đã ứng
dụng mô hình định giá tài sản vốn, mô hình ba nhân tố Fama-French và mô hình
bốn nhân tố Carhart định giá chứng khoán. Tuy nhiên, nội dung liên quan đến
19


20

mô hình định giá tài sản vốn tác giả chỉ điểm qua mà chủ yếu tập trung vào việc
phân tích ứng dụng hai mô hình còn lại.
2.2.2. Lý thuyết danh mục đầu tư Harry Markowitz


nghiên cứu ứng dụng mô hình đa nhân tố quản lý danh mục đầu tư [37] đã có
nhận định: cần đưa bao nhiêu nhân tố và đưa những nhân tố nào vào mô hình
là vấn đề không dễ giải quyết. Đưa nhiều nhân tố vào mô hình không phải lúc
nào cũng phù hợp và mức độ nhạy cảm của thị trường đối với các sự kiện
kinh tế hay các chỉ số kinh tế vĩ mô thường mang tính tâm lý chủ quan của
nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Do vậy, mô hình tỷ suất
sinh lợi hiện nay khó có thể áp dụng ngay để dự báo các khoản đầu tư chứng
khoán trong thời gian tới. Tác giả Triệu Kim Lanh đã vận dụng các lý thuyết
danh mục đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam, trong đó tác giả sử
dụng mô hình chỉ số đơn để tính toán thu nhập kỳ vọng và rủi ro của danh
mục đầu tư [25]. Tác giả Ngô Đăng Hoàng [21] trong việc tìm giải pháp lựa
chọn danh mục đầu tư hiệu quả trên thị trường chứng khoán Việt Nam đã ứng
dụng lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá (APT) để xây dựng danh mục đầu
tư. Tác giả Võ Tấn Lực [28] nghiên cứu ứng dụng lý thuyết đầu tư tài chính
hiện đại trong quản lý danh mục đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt
Nam. Tác giả Lê Thị Mỹ Dung [10] đã ứng dụng mô hình ba nhân tố FamaFrench và mô hình bốn nhân tố Carhart trong định giá chứng khoán. Tác giả
Phạm Ngọc Hải ứng dụng lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại xây dựng danh
mục đầu tư tối ưu và quản trị danh mục đầu tư tối ưu [17]. Nguyễn Thị Như
Trang [49], vận dụng mô hình SIM để phân tích đầu tư chứng khoán.
Như vậy các nhà nghiên cứu và thực nghiệm trong nước đã tiếp cận lý
thuyết danh mục đầu tư hiện đại trong việc lựa chọn cổ phiếu đầu tư, xây dựng
danh mục đầu tư chứng khoán. Hầu hết các công trình tập trung vào việc ứng
dụng, trong đó chủ yếu sử dụng lý thuyết Markowitz, mô hình định giá tài sản
vốn để xây dựng danh mục đầu tư. Bên cạnh đó, một số tác giả cũng đã nghiên
cứu và thực nghiệm lựa chọn cổ phiếu đầu tư với một số mô hình định giá
chứng khoán: mô hinh chỉ số đơn, mô hình Fama-French, Carhart.
21





23

Những khoảng trống trong các công trình nghiên cứu được nêu ra và
phân tích trên đây sẽ là nội dung được đưa vào nghiên cứu và xử lý trong luận
án của nghiên cứu sinh.
3. Mục đích nghiên cứu
Ứng dụng mô hình định giá tài sản vốn và lý thuyết danh mục đầu tư
Markowitz thực nghiệm xây dựng và quản lý danh mục đầu tư trên thị trường
chứng khoán Việt Nam. Cụ thể hướng vấn đề nghiên cứu vào các câu hỏi
nghiên cứu sau:
- Quy trình xây dựng và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán tối ưu?
- Trong điều kiện của thị trường chứng khoán của Việt Nam hiện nay
liệu rằng có thể:
+ Ứng dụng mô hình định giá tài sản vốn để lựa chọn cổ phiếu đầu tư?
+ Ứng dụng lý thuyết danh mục đầu tư Markowitz xây dựng và quản lý
danh mục chứng khoán hiệu quả, tối ưu?
- Dữ liệu giá chứng khoán, danh mục thị trường nên quan sát trong
khoản thời gian bao lâu và tần suất quan sát như thế nào là hợp lý với định
hướng nghiên cứu?
- Trong các giả thuyết thị trường vốn gắn với việc ứng dụng mô hình
định giá tài sản vốn, lý thuyết danh mục đầu tư Markowitz trên thị trường
chứng khoán Việt Nam, giả thuyết nào được thỏa mãn? giả thuyết nào chưa
thỏa mãn?
- Những yếu tố nào cần điều chỉnh và điều chỉnh ra sao để hoàn thiện
ứng dụng mô hình định giá tài sản vốn và lý thuyết danh mục đầu tư
Markowitz xây dựng và quản lý danh mục đầu tư trên thị trường chứng khoán
Việt Nam?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Áp dụng mô hình toán và công cụ Solve để xác định tỷ trọng đầu tư
của các chứng khoán, hình thành danh mục đầu tư.
- Sử dụng các phương pháp Sharpe, Treynor, Jensen thẩm định hiệu
quả danh mục đầu tư, quản lý danh mục đầu tư.
24


25

6. Những đóng góp dự kiến của luận án
- Hệ thống hóa và làm rõ lý thuyết danh mục đầu tư, mô hình định giá
tài sản vốn và một số phương pháp đánh giá hiệu quả danh mục đầu tư
Sharpe, Treynor, Jensen.
- Phân tích lợi ích của đầu tư theo danh mục.
- Nêu yếu tố quyết định làm tăng lợi ích đầu tư theo danh mục.
- Chỉ ra thời gian quan sát và tần suất quan dữ liệu để việc ứng dụng
mô hình định giá tài sản đạt hiệu quả cao nhất.
- Đưa ra giải pháp khắc phục nhằm nâng cao độ tin cậy trong các nhận
định về mức độ hiệu quả của các danh mục đầu tư khi ứng dụng các phương
pháp đánh giá hiệu quả danh mục đầu tư: Sharpe, Treynor, Jensen.
- Phân tích chỉ ra các yếu tố cần xây dựng, điều chỉnh để nâng cao khả
năng ứng dụng mô hình định giá tài sản vốn, lý thuyết danh mục Harry
Markowitz trong xây dựng danh mục, đầu tư theo danh mục trên thị trường
chứng khoán Việt Nam, giải pháp thực hiện.
7. Nội dung và kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận án bao gồm các chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về xây dựng và quản lý danh mục đầu tư
chứng khoán
Chương 2: Thực nghiệm xây dựng và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán
ở Việt Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status