Xác định được các yếu tố liên quan đến năng lực cạnh tranh của Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam (Techcom Bank) - Pdf 40

PHẦN MỞ ĐẦU
1/Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: là bản chất của sự vật hay hiện tượng cần xem xét và làm rõ trong nhiệm vụ
nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Năng lực cạnh tranh của Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Việt
Nam (Techcom Bank)

2/ Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu được khảo sát trong trong phạm vi nhất định về mặt thời
gian, không gian và lãnh vực nghiên cứu.
Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2010-2015
Phạm vi không gian: Hệ thống Ngân Hàng Quốc Doanh và TMCP tại Việt Nam
Lãnh vực nghiên cứu: Ngân hàng

3/ Mục đích và mục tiêu nghiên cứu:
3.1/Mục đích nghiên cứu:
Mục đích: là hướng đến một điều gì hay một công việc nào đó trong nghiên cứu mà người nghiên
cứu mong muốn để hoàn thành, nhưng thường thì mục đích khó có thể đo lường hay định lượng.
Nói cách khác, mục đích là sự sắp đặt công việc hay điều gì đó được đưa ra trong nghiên cứu. Mục
đích trả lời câu hỏi "nhằm vào việc gì?", hoặc "để phục vụ cho điều gì?" và mang ý nghĩa thực tiển
của nghiên cứu, nhắm đến đối tượng phục vụ sản xuất, nghiên cứu.
Mục đích của đề tài: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam
(Techcom Bank)
3.2/ Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu: là thực hiện điều gì hoặc hoạt động nào đó cụ thể, rõ ràng mà người nghiên cứu sẽ hoàn
thành theo kế hoạch đã đặt ra trong nghiên cứu. Mục tiêu có thể đo lường hay định lượng được.
Nói cách khác, mục tiêu là nền tảng hoạt động của đề tài và làm cơ sở cho việc đánh giá kế hoạch
nghiên cứu đã đưa ra, và là điều mà kết quả phải đạt được. Mục tiêu trả lời câu hỏi “làm cái gì?”.
1



Nhìn lại năm 2015 một năm khó khăn với nền kinh tế toàn cầu. Tại Mỹ - nền kinh
tế hùng mạnh nhất thế giới lần đầu tiên bị hãng thẩm định tài chính quốc tế S&P hạ cấp tín
nhiệm tín dụng từ mức AAA xuống mức AA+. Vì không muốn rơi vào cảnh vỡ nợ, sau Hy
Lạp và Ailen, Bồ Đào Nha đã phải ngửa tay cầu viện, chấp nhận những điều kiện ngặt
nghèo bên cho vay đưa ra. Danh sách những nước rơi vào khủng hoảng nợ công châu Âu
còn có thể kéo dài với những cái tên nằm trong nhóm nguy cơ cao như Italia, Tây Ban
Nha.
Các nền kinh tế mới nổi, vốn được coi là động lực tăng trưởng toàn cầu, cũng “lao
đao” vì vấn đề tài chính của phương Tây. Nợ công của Châu Âu và chính sách siết chặt tài
chính ở Mỹ đang thu hẹp thị trường xuất khẩu của Trung Quốc, trong khi bản thân Bắc
Kinh cũng đang đối mặt với các vấn đề của chính mình như lạm phát cao, chi tiêu tiêu
dùng hạn hẹp, nợ xấu của các địa phương.
Trong khi đó tỉ lệ thất nghiệp ở các nước Châu Âu và Mỹ vẫn duy trì ở mức cao,
lạm phát tăng cao, đời sống khó khăn nên nhiều cuộc biểu tình của dân chúng đã nổ ra ở
nhiều nước. Và việc tiền tệ mất giá là một trong những vấn đề lớn. Các quốc gia không thể
đồng loạt giảm giá tiền tệ và cải thiện cán cân xuất khẩu. Bởi vậy, mỗi quyết định của một
quốc gia sẽ tác động đến nhiều đối tác thương mại toàn cầu và chắc chắn sẽ vấp phải
những phản đối không nhỏ.
Trong bối cảnh lạm phát, hầu hết các quốc gia lựa chọn chính sách thắt chặt tiền tệ
để kiềm chế tốc độ tăng phi mã của chỉ số này.Tuy nhiên, những chính sách tiền tệ (CSTT)
đang ngày càng trở nên ít hiệu quả hơn.Vấn đề này đã thực sự nghiêm trọng đối với những
nền kinh tế phát triển và cũng là vấn đề khó đối với các quốc gia còn lại.
Và nền kinh tế Việt Nam trong năm 2015 cũng đối mặt với một loạt khó khăn và
thách thức: lạm phát tăng trở lại; kinh tế vĩ mô còn nhiều bất ổn; lãi suất tăng cao; doanh
nghiệp gặp nhiều khó khăn trong sản xuất, kinh doanh do tín dụng thu hẹp; tỷ giá có những
thời điểm biến động phức tạp, đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài có chiều hướng
chững lại do các chính sách thắt chặt tiền tệ và đầu tư công…Bằng việc triển khai đồng bộ
các giải pháp tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội
theo Nghị quyết số 11/NQ - CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ; nhờ vậy, từ giữa năm
kinh tế vĩ mô đã có chuyển biến tích cực, lạm phát dần được kiểm soát, cán cân thanh toán



cơ sở luôn coi khách hàng làm trọng tâm.
Tạo dựng cho cán bộ nhân viên một môi trường làm việc tốt nhất với nhiều cơ



hội để phát triển năng lực, đóng góp giá trị và tạo dựng sự nghiệp thành đạt.
Mang lại cho cổ đông những lợi ích hấp dẫn, lâu dài thông qua việc triển khai
một chiến lược phát triển kinh doanh nhanh mạnh song song với việc áp dụng các thông lệ
quản trị doanh nghiệp và quản lý rủi ro chặt chẽ theo tiêu chuẩn quốc tế.
GIÁ TRỊ CỐT LÕI:
Giá trị Techcombank cam kết mang lại cho khách hàng trong nhiều năm qua.
1. Khách hàng là trên hết có nghĩa là mỗi việc chúng ta làm chỉ có giá trị khi thực sự
mang lại lợi ích cho khách hàng, đồng nghiệp.
2. Liên tục cải tiến để luôn dẫn đầu.
3. Tinh thần phối hợp vì ở Techcombank, bạn sẽ không có kết quả tốt nếu không phối
hợp.
4. Phát triển nhân lực vì con người với năng lực cao sẽ tạo lợi thế cạnh tranh và thành
công vượt trội cho tổ chức.
5. Cam kết hành động để vượt qua khó khăn và đạt được thành công lớn.

Sau đây là một số cột mốc đáng chú ý của Techcombank :




1994 – 1995: Thành lập Chi nhánh Techcombank Hồ Chí Minh, khởi đầu cho quá
trình phát triển nhanh chóng của Techcombank tại các đô thị lớn.


xếp hạng tín nhiệm của Techcombank, ngân hàng TMCP đầu tiên tại Việt Nam
được xếp hạng bởi Moody’s.



Tháng 8/2006: Đại hội cổ đông thường niên thông qua kế hoạch 2006 – 2010; Liên
kết cung cấp các sản phẩm Bancassurance với Bảo Việt Nhân Thọ.



2007: HSBC tăng phần vốn góp lên 15% và trực tiếp hỗ trợ tích cực trong quá trình
hoạt động của Techcombank.



2008 Ra mắt Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản Techcombank AMC



Tháng 09/2008: Tăng tỷ lệ sở hữu của đối tác chiến lược HSBC từ 15% lên 20%



2009: Bắt đầu khởi động chiến lược chuyển đổi với sự hỗ trợ của nhà tư vấn hàng
đầu thế giới McKinsey.



2010: Triển khai các chương trình chuyển đổi chiến lược tổng thể, công bố tầm
nhìn sứ mệnh và các giá trị cốt lõi của Techcombank. Đồng thời thực hiện việc tái

1.2.3. Các nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu
Techcombank phấn đấu trở thành một NHTM đa năng hàng đầu Việt Nam, với tầm
nhìn trở thành “Ngân hàng tốt nhất và doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam” dựa trên nền tảng
công nghệ hiện đại với nguồn nhân lực chuyên nghiệp đầy tâm huyết, các kênh phân phối
đa dạng cùng các sản phẩm phong phú và năng động của một ngân hàng hiện đại.
Các sản phẩm dịch vụ chính của Techcombank gồm:
- Dịch vụ cho Khách hàng cá nhân: Nhóm sản phẩm tài khoản, Nhóm sản phẩm tiết

kiệm, Nhóm sản phẩm thẻ, Nhóm sản phẩm cho vay, Kênh giao dịch đa dạng.
- Dịch vụ cho Khách hàng doanh nghiệp:Tiền gửi, tín dụng, quản lý tiền tệ và thanh
khoản,tài trợ thương mại và bảo lãnh,thanh toán quốc tế, ngoại hối và phòng ngừa rủi ro.
- Sản phẩm - dịch vụ khác: Dịch vụ Ngân hàng điện tử và các dịch vụ khác.

Các sản phẩm, dịch vụ trên được phân loại thành các mảng hoạt động kinh doanh
chính sau: Hoạt động huy động vốn; Hoạt động tín dụng; Hoạt động cung ứng dịch vụ
ngân hàng; Hoạt động kinh doanh ngoại hối; Hoạt động kinh doanh và đầu tư chứng
khoán; Hoạt động khác.


CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM


Tại Việt Nam, hệ thống ngân hàng có nhiều bước tiến vượt bậc về quy mô, mạng
lưới hoạt động, công nghệ, vốn…hiệu quả và chất lượng hoạt động được cải thiện đáng
kể.Với chủ trương phát triển thị trường tài chính tiền tệ của Chính phủ, ngành ngân hàng
luôn được tạo điều kiện để tự thân phát triển và tiếp cận với trình độ hiện đại của thế giới.
Tình hình cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng ngày càng khắc nghiệt hơn.Tương
quan lợi thế giữa khối NHTM quốc doanh và ngoài quốc doanh dần được rút ngắn, thể
hiện qua sự vươn lên của một số ngân hàng cổ phần và sự có mặt ngày càng nhiều chi

Habubank

Nhóm 4

1

Vietcombank

DongAbank

TrustBank

2

BIDV

NamAbank

VietABank

3

Vietinbank

DaiAbank

GPBank

4



VPbank

KienLongbank

9

VIB

Lienvietpostbank

10

SeAbank

BaoVietbank

11

MaritimeBank

MDB

12

MHB

OceanBank

13

2.1.1 Vốn tự có
Vốn tự có là yếu tố tạo nên sức mạnh và khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị
trường, vì nó thể hiện năng lực tài chính vốn tự có của chính bản thân NHTM.Vốn tự có
không chỉ là cơ sở, là tiền đề để phát triển các nguồn vốn khác mà còn đóng vai trò quan
trọng trong việc bảo vệ ngân hàng trước những rủi ro, các chủ nợ (người gửi tiền).Chính vì
vậy, trong quá trình hoạt động của mình, các NHTM đều quan tâm đến việc tăng vốn tự có.
Do vốn điều lệ chiếm phần lớn trong vốn tự có của ngân hàng nên ở bài khóa luận
này tập trung phân tích đánh giá năng lực tài chính về vốn tự có của ngân hàng thông qua
việc phân tích, đánh giá vốn điều lệ.
Được thành lập ngày 27/09/1993 với số vốn ban đầu là 20 tỷ đồng, trải qua 18 năm
hoạt động, đến nay Techcombank đã trở thành một trong những ngân hàng thương mại cổ
phần hàng đầu Việt Nam, nguồn vốn điều lệ tăng mạnh một cách rõ rệt. Đến năm 2015,
Techcombank trở thành một trong mười ngân hàng TMCP có vốn điều lệ lớn nhất Việt
Nam với số vốn đều lệ gần gấp 3 lần so với con số 3000 tỷ đồng - mức vốn pháp định của
các NHTM cổ phần phải đạt được vào ngày 31 tháng 12 năm 2015 theo Nghị định số
10/2015/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 141/2006/NĐ-CP
về ban hành Danh mục mức vốn pháp định của các TCTD.
Biểu đồ 2.2: Quá trình tăng vốn điều lệ qua các năm của Techcombank
(ĐVT: Tỷ đồng)


(Nguồn: Báo cáo thường niên của Techcombank qua các năm)
Nguồn vốn điều lệ của Techcombank tăng mạnh qua các năm. Trải qua hơn 18 năm
hoạt động,vốn điểu lệ của Techcombank tăng lên 440 lần. Tính đến cuối năm 2009 vốn
điều lệ đã là 5.400 tỷ đồng. Sau đó tới cuối năm 2015 thì con số này đã lên tới 8.788 tỷ
đồng. Lý do tăng vốn là nhằm giải quyết bài toán nâng cao năng lực tài chính và chất
lượng dịch vụ để tiếp cận theo các tiêu chuẩn quốc tế, buộc phải bổ sung thêm vốn, nhằm
nâng cao tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo tiêu chuẩn Basel; đồng thời thu hẹp khoảng cách
về năng lực tài chính, công nghệ của các NHTM Việt Nam với NHTM trong khu vực; tăng
vốn là để có đủ chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng công nghệ phát triển mạng lưới tranh thủ

chứng tỏ hiệu suất và hiệu quả sử dụng đồng vốn trong ngân hàng đó càng cao.
Mặc dù trong năm 2015 - một năm kinh tế gặp nhiều khó khăn, nhiều ngân hàng
vẫn công bố những con số lãi ngất ngưởng .Tuy nhiên, đó không phải toàn bộ bức tranh.
Thực tế là không ít ngân hàng đang chứng kiến lãi giảm, thậm chí giảm khá mạnh, đã có
nhiều ngân hàng không thể duy trì đà tăng trưởng như mong muốn.Tình trạng này xảy ra
không chỉ ở các ngân hàng nhỏ mà được ghi nhận tại cả những nhà băng thuộc nhóm G12
(gồm 12 NHTM lớn nhất). Theo báo cáo tài chính năm 2015 được kiểm toán bởi KPMG
thì lợi nhuận trước thuế của ngân hàng TMCP Quốc tế (VIB) chỉ đạt 848,9 tỷ đồng, giảm
gần 20% so với mức 1.051,23 tỷ đồng trong năm 2010 và chưa bằng một nửa mục tiêu
1.847 tỷ đồng được thông qua ĐHCĐ năm 2015. Và sự giảm mạnh này cũng thấy tại ngân
hàng Bảo Việt, năm 2015 lợi nhuận của ngân hàng này giảm tới 35,2%, chỉ đạt xấp xỉ
115,12 tỷ đồng, giảm 62,6 tỷ đồng so với mức 177,72 tỷ đồng của năm 2010. Dù vậy đây
vẫn chưa phải là ngân hàng gặp nhiều khó khăn nhất.Với mức giảm lợi nhuận hơn 50%,
ngân hàng Phương Nam mới đang là nhà băng có mức lợi nhuận sụt giảm mạnh nhất. Theo
báo cáo tài chính hợp nhất năm 2015, lợi nhuận trước thuế của ngân hàng này chỉ còn
248,4 tỷ đồng, trong khi đó cùng kỳ năm trước, con số này là 532,2 tỷ đồng.
Trong Quý 4/2010, Techcombank đạt 1010,4 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, tăng
98,4% so với mức 509,4 tỷ của Quý 4/2009. Lũy kế cả năm, LNST của Techcombank đạt
xấp xỉ 2.603 tỷ đồng, tăng 21,3% so với mức 1.700 tỷ đồng của năm 2009.Lợi nhuận sau
thuế năm 2015 của Techcombank cũng tăng trưởng khá mạnh với 51,5%, đạt mức 3.141 tỷ
đồng so với mức 2.073 tỷ đồng trong cùng kì năm 2010
Như vậy, sau năm 2010 khó khăn về lợi nhuận (không hoàn thành chỉ tiêu cả năm
dù đã có điều chỉnh), năm 2015 Techcombank đã có sự trở lại ấn tượng với vị thế là một
trong ba ngân hàng thương mại cổ phần dẫn đầu trong hệ thống (xét ở quy mô vốn, tổng tài
sản và lợi nhuận, không tính khối quốc doanh đã cổ phần), bên cạnh Ngân hàng Á châu
(ACB) và Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank).
Bảng 1.4: Các chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh doanh của Techcombank.
Chỉ tiêu

ĐVT

1.173.229

1.700.169

2.072.755

3.153.766

59.390.39
2
1,98%

92.581.50
4
1,84%

Tổng Tài sản

Triệu đồng

ROA

%

150.291.215 180.531.163
1,38%

1,75%



4% - 6%, trong khi ở Việt Nam là hơn 0,8%; còn chỉ số ROE của các ngân hàng khu vực
Đông Nam Á là từ 14% - 15% và thế giới thường ở mức 17%.
Biểu đồ 1.5: ROA và ROE của một số ngân hàng năm 2015
( Nguồn : Báo cáo thường niên năm 2015 của các ngân hàng)
1.3.1.3. Độ an toàn
Theo yêu cầu của Thông tư số 13/2010/TT-NHNN của NHNN, các TCTD cần duy
trì tỷ lệ an toàn tối thiểu ở mức 9%. Hiện tại, nhiều NHTM Việt Nam có tỷ lệ an toàn vốn
nói trên phổ biến từ 8% - 11%. Trong khi đó, nhìn ra quốc tế cho thấy nhiều nước đã cho
áp dụng Basel II theo mức an toàn vốn tối thiểu là 12%. Do vậy, để bảo đảm tỷ lệ an toàn
vốn theo quy định đòi hỏi các TCTD là phải tăng vốn.
Năm 2015, Techcombank đã tăng vốn điều lệ từ 6.932 tỷ đồng lên 8.788 tỷ đồng
nhằm đạt tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định. Hệ số CAR 2015 của Techcombank là
11,43%.
Biểu đồ 2.6: Tỷ lệ CAR của một số ngân hàng qua các năm


(Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2015 của các ngân hàng)
Một số ngân hàng có hệ số CAR cao như SHB (13,37%), STB (13,18%), EIB
(12,94%). Điều này thể hiện mức độ an toàn cao của các tài sản ngân hàng trước các rủi ro
tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh đặc biệt trong điều kiện kinh tế bất ổn như hiện nay.
Và những NHTM lớn như: Vietcombank, BIDV, Vietinbank, Sacombank, …đạt được
thành công trong việc nâng tỷ lệ CAR lên 9% vào năm 2015.Và Techcombank cũng đã
làm được điều đó. Ngay cả Agribank là ngân hàng có quy mô vốn chủ sở hữu rất lớn cũng
như một số ngân hàng nhỏ đều không đạt được tỷ lệ tối thiểu này. Nếu so sánh hệ số CAR
của các NHTM Việt Nam so với khu vực thì còn thấp, khu vực châu Á - Thái Bình Dương
thì CAR bình quân hiện nay là 13,1%, của khu vực Đông Á là 12,3% (CAR của Thái Lan
là 16%, CAR của Malaysia là 14,6%).
1.3.1.4. Chất lượng tài sản có
Nội dung hoạt động chủ yếu của một ngân hàng thể hiện ở phía tài sản Có thể hiện
trên bảng cân đối kế toán của nó. Quy mô, cơ cấu và chất lượng tài sản Có quyết định sự

1.3.2. Về năng lực hoạt động
1.3.2.1. Huy động vốn
Techcombank là Ngân hàng có sản phẩm đa dạng, phù hợp với nhu cầu của dân cư
và tổ chức tín dụng cả bằng ngoại tệ và nội tệ và tập trung huy động vốn từ hai thị trường.


Thị trường I: huy động vốn từ tổ chức kinh tế và dân cư và thị trường II: huy động vốn từ
tổ chức tín dụng và các định chế tài chính.
Biểu đồ 2.8: Tình hình huy động vốn của Techcombank từ 2009 – 2015
(ĐVT: Triệu đồng)

( Nguồn: Báo cáo tài chính qua các năm của Techcombank)
Tính đến cuối năm 2015 huy động vốn thị trường I, gồm cả phát hành trái phiếu đạt
88,648 tỷ đồng (huy động tổ chức kinh tế và phát hành trái phiếu huy động vốn đạt 31,012
tỷ đồng, huy động dân cư đạt 57,636 tỷ đồng), chiếm 55,5% trong tổng nguồn vốn huy
động, cơ cấu nguồn vốn ổn định hợp lý, đáp ứng đủ nhu cầu vốn phục vụ kế hoạch phát
triển tín dụng và luôn tạo chủ động cho Techcombank trong hoạt động kinh doanh. Đồng
thời, Techcombank đã đầu tư hệ thống công nghệ tin học và công nghệ ngân hàng tiên tiến,
đảm bảo hoạt động an toàn nghiệp vụ và đó cũng là cơ sở thu hút mạnh nguồn vốn nhàn rỗi
trong dân cư.
Tiền gửi và tiền vay các TCTD năm 2015 là 48,133 tỷ đồng tăng 73,25% so với
đầu năm. Nguồn vốn này được Techcombank sử dụng chủ yếu tái đầu tư tiền gửi liên ngân
hàng và đầu tư tài chính khác nhằm đem lại lợi nhuận, đóng góp vào kết quả hoạt động của
Techcombank.


Biểu đồ 2.9: Cơ cấu huy động vốn của Techcombank

( Nguồn: BCTC hợp nhất qua các năm của Techcombank)
Cơ cấu huy động vốn của Techcombank có sự thay đổi lớn từ năm 2009 đến 2015


Biểu đồ 2.11: Tình hình tăng trưởng tín dụng của Techcombank từ năm 2009 -2015
(ĐVT: Triệu đồng)

(Nguồn: Báo cáo tài chính qua các năm của Techcombank)
Thay vì tập trung vào cho vay cá nhân như nhiều ngân hàng khác, Techcombank
dành toàn bộ sản phẩm phục vụ khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ.Techcombank đã
xây dựng đội ngũ Giám đốc Quan hệ Khách hàng chuyên nghiệp và giàu kinh nghiệm để
phục vụ nhu cầu của khách hàng. Bên cạnh đó, với quy trình phê duyệt vốn vay mới và
Trung tâm xử lý tín dụng tập trung, Techcombank cũng rút ngắn quy trình phê duyệt vốn
vay xuống nhanh nhất có thể. Kỹ thuật đánh giá tài sản bảo đảm được cải tiến nhằm giúp
khách hàng được định giá công bằng hơn và được vay vốn nhiều hơn. Trong năm 2015,
tăng trưởng tín dụng của Techcombank tăng 19,9% so với năm 2010 và cao hơn so với
tăng trưởng tín dụng của toàn ngành (12% - 13%).
Tổng dư nợ tín dụng của toàn ngành ngân hàng đến cuối năm 2015 khoảng 2.580
nghìn tỷ đồng và dựa vào số liệu dư nợ tín dụng đến 31/12/2015 của các ngân hàng được
công bố trên báo cáo tài chính, ta có thể tính được thị phần dư nợ tín dụng của các ngân
hàng nhóm 1 như sau:


Biểu đồ 2.12: Thị phần dư nợ tín dụng của các ngân hàng 2015.

(Nguồn: Báo cáo tài chính của các ngân hàng năm 2015)
Cũng giống như ở lĩnh vực huy động thì thị phần cho vay của khối NHTM Nhà
nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Theo đó, VietinBank (CTG) chiếm thị phần lớn nhất là
16,5% (đứng sau Agribank), BIDV chiếm 15,4%, VCB chiếm 11,7%...Như vậy, 4 ngân
hàng này đang thống lĩnh thị trường cho vay, khi mà tổng số ngân hàng của Việt Nam hiện
khoảng gần 40 ngân hàng và 50 chi nhánh ngân hàng nước ngoài (theo số liệu của NHNN).
So với các ngân hàng Nhóm 1 thì thị phần tín dụng của Techcombank vẫn còn chưa cao,
chỉ chiếm 3,6%.

với công nghệ tiên tiến (ngân hàng điện tử, thẻ, v.v.), hoạt động cung ứng dịch vụ ngân
hàng đã góp phần quan trọng vào kết quả kinh doanh chung của toàn hệ thống
Techcombank. Đây là hoạt động có quan hệ chặt chẽ, là công cụ hỗ trợ để tăng trưởng các
hoạt động khác như huy động vốn, tín dụng đồng thời đem lại cho ngân hàng nguồn thu an
toàn với chi phí thấp


Bảng 1.13: Doanh thu cung ứng dịch vụ ngân hàng của Techcombank năm 2015
( ĐVT: Triệu đồng )
Doanh thu dịch vụ

Năm 2009

Năm 2010

Năm 2015

461.488

690.557

835.419

Dịch vụ ủy thác và
đại lý

8.814

2.506


1.186.620

1.520.157

Tổng chi phí

99.368

256.820

369.803

Tổng lợi nhuận

641.059

929.800

1.150.354

Dịch vụ thanh toán và
tiền mặt

(Nguồn:Báo cáo tài chính qua các năm của Techcombank)
Từ năm 2009 đến năm 2015, cơ cấu chính tạo nên doanh thu dịch vụ cung ứng
ngân hàng là: dịch vụ thanh toán; dịch vụ từ nghiệp vụ bảo lãnh và dịch vụ khác. Trong đó,
năm 2015 doanh thu từ dịch vụ thanh toán chiếm 55 %, doanh thu dịch vụ bảo lãnh là 9,5
%, doanh thu dịch vụ tư vấn là 7 % và doanh thu từ dịch vụ khác chiếm 28,5 %. Hoạt động
thanh toán trong nước và quốc tế của Techcombank nhanh chóng và rất an toàn đáp ứng
đầy đủ nhu cầu thanh toán của khách hàng với thu phí từ dịch vụ thanh toán năm 2010 và

một loại giao dịch không thể thiếu trong cuộc sống. Từ đó, nâng cao nguồn thu và phát
triển cho hoạt động cung ứng dịch vụ ngân hàng.
1.3.3. Năng lực công nghệ




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status