BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM
KHOA CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
Đề Tài :
TÌM HIỂU PHƯƠNG PHÁP HÓA HỌC
ĐỂ HẠN CHẾ BIẾN ĐỔI
CỦA NGUYÊN LIỆU SAU THU HOẠCH
Nhóm : 4 thứ 2 tiết 5 – 6
GVHD: Ths. ĐỖ VĨNH LONG
LỚP: 03DHTP1
TPHCM. THÁNG 9/ 2014
Mục Lục
Trang
MÔN: CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH
NHÓM 4
CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH
I. Khái quát về các tổn thất sau thu hoạch:
1. Tình hình chung:
Trong thời kì đổi mới sản xuất lương thực nước ta đã đạt được những thành tựu nỗi
bật. Từ một nước thiếu lương thực, Việt Nam đã vươn lên trở thành một nước xuất khẩu
gạo lớn thứ 2 trên thế giới. Sản lượng thóc năm 2002 đạt 34,06 triệu tấn, ngô 2,31 triệu tấn,
3.6
5.0
5.0
3.5 : 5.2
3.2 : 3.7
Nguồn tài liệu
A.Tadnadan 1992
Ren Jong 1992
J.S.Davis 1994
J.S.Davis 1994
V.K.Balock 1994
Lê Doãn Diên 1994
Tỷ lệ thất thoát sản lượng hải sản lên đến 20-25%. Nguyên nhân là do tàu khai thác,
đánh bắt trên biển chủ yếu có công suất nhỏ, thiếu các thiết bị bảo quản sản phẩm.
GVHD: THS. ĐỖ VĨNH LONG
Page 3
MÔN: CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH
NHÓM 4
Những số liệu trên đã cho ta thấy khái quát về tình hình tổn thất sau thu hoạch ở
Việt Nam trong những năm qua, cần tìm hiểu nguyên nhân và biệt pháp khắc phục những
tổn thất này.
2. Các biện pháp khắc phục:
2.5. Cải tạo giống có khả năng phòng chống sâu bệnh tốt
2.6. Chế biến để bảo quản: đóng hộp, lên men, xông khói, sấy khô, lạnh đông,…
2.7. Một số biện pháp khác
- Tăng cường sự quan tâm của nhà nước
- Đào tạo chuyên môn về giai đoạn sau thu hoạch cho người sản xuất và người
quản lý.
- Có một số biện pháp kỹ thuật bảo quản rau quả tươi.
II. Các biến đổi sau thu hoạch:
1. Hô hấp:
Một số nông sản sau khi thu hoạch vẫn tiếp tục hô hấp, chúng làm hao hụt vật chất
khô của sản phẩm, thay đổi quá trình sinh hóa trong nông sản phẩm, làm tăng thủy phần
của khối hạt và độ ẩm tương đương của không khí xung quanh hạt, làm tăng nhiệt độ của
khối hạt và nông sản phẩm.
2. Sự phát triển của vi sinh vật:
Sau thu hoạch, các loại nông sản vẫn bị các vi sinh vật tấn công gây nhiều thiệt hại,
làm cho sản phẩm gặp các lỗi như: đổi hay mất màu, mất mùi thơm tự nhiên, thay đổi cấu
trúc, thành phần dinh dưỡng và trở thành môi trường nuôi dưỡng vi sinh vật gây hại.
3. Sự ô xi hóa trong tế bào
Khi có mặt oxy, sự oxy hoá làm biến màu gây hư hỏng màu sắc của thực phẩm. tạo
điều kiện mọc mầm, rễ…làm tổn thất chất khô của nguyên liệu, hoặc oxy hoá chất
béo gây
Mùi ôi, vị đắng cho thực phẩm, gây độc thực phẩm.
4. Sự phá hoại của côn trùng:
Trong cả quá trình sống của côn trùng, chúng phá hoại nhiều nhất ở giai đoạn còn là
sâu và sau khi nở ra từ nhộng trở thành côn trùng trưởng thành. Chúng phá hoại làm cho
thực phẩm bị ảnh hưởng bởi một lượng thải bẩn của chúng gây nên như phân, xác chết và
làm vón, làm cho lương thực có vị lạ, thay đổi thành phần hóa học, đẫn đến làm giảm các
chất dinh dưỡng của lương thực; một số khác gây khó khăn trong quá trình chế biến, bảo
quản; gây bệnh cho con người.
tùy loai rau. Rau là nguồn cung cấp vitamin C, caroten, các chất khoáng kiềm: K, Ca, Mg,
và cũng là nguồn cung cấp sắt dễ hấp thu.
- Trái cây nhiều Glucid hơn rau, chủ yếu ở dạng đường đơn và đường kép như:
Fructose, Glucose và Saccarose. Nhiều vitamin C và ko chứa men Ascorbinaza phân giải,
không qua chế biến nên lượng vitamin C trong quả gần như được cung cấp nguyên vẹn.
Một số trái cây cũng có nhiều caroten như đu đủ, gấc, cam… Chứa nhiều chất khoáng
kiềm, chủ yếu là Kali, lượng Canxi và phospho ít nhưng tỷ lệ Ca/P tốt.
- Ăn nhiều rau quả còn giúp cơ thể tránh được:
+ Các bệnh về tim, đột quỵ, ổn định huyết áp.
GVHD: THS. ĐỖ VĨNH LONG
Page 6
MÔN: CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH
NHÓM 4
+ Ngăn ngừa một số bệnh ung thư (ung thư vòm họng, trực tràng, thanh quản, dạ
dày, phổi. buồng trứng. bàng quang và thận).
+ Bảo vệ mắt khỏi bị 2 loại bệnh thoái hóa rất phổ biến là đục nhân mắt và chấm
đen trong mắt.
=> Vì vậy rau quả là thành phần không thể thiếu trong dinh dưỡng của con người.
2.1.2. Các tổn thất thường gặp của nhóm rau quả:
Thông thường trong 24h, 1 tấn rau quả giảm 0,6 : 0,8 kg trọng lượng, trong đó 75 :
85% là do mất nước, còn 15 : 23% là tổn thất chất khô do quá trình hô hấp. Sự giảm khối
lượng do tổn thất chất khô hay bay hơi nước được gọi là sự giảm khối lượng tự nhiên.
Sự hô hấp của rau quả diễn ra khi có O (hô hấp hiếu khí) hay không có O (hô hấp
yếm khí hay lên me). Năng lượng tạo ra trong quá trình hô hấp hiếu khí (36ATP) gấp nhiều
2.1.3. Phương pháp hóa học hạn chế tổn thất sau thu hoạch rau quả:
Có thể nói, phương pháp sử dụng các chất hóa học để bảo quản rau, trái cây là
phương pháp đã được sử dụng phổ biến:
Chất bảo quản là các loại hóa chất để giữ cho thực phẩm khỏi bị hư hỏng, nhưng
chính nó lại gây hư hại sức khoẻ con người khi ăn vào.
Một số hóa chất bảo quản an toàn cho phép sử dụng ở một nồng độ quy định, nếu
tăng nồng độ thì cũng sẽ gây nguy hại.
Các chất bảo quản được phân ra làm 2 loại :
- Các chất diệt trùng (antimicrobien) : như propionate de calcium trong bánh mì,
nitrate, nitrite de sodium & de potassium trong các loại rau, trái cây, thịt nguội jambon,
saucisse …
- Các chất chống oxy hóa, thí dụ như chất BHA (hydroxyanisole butilé), BHT
(hydroxytoluène butilé) thường được thêm vào một số dầu thực vật để cho nó khỏi hôi
(rancid). Có tài liệu nói rằng 2 chất này có thể gây ung thư.
Các phương pháp thường gặp:
- Bảo quản bằng cách dầm dấm: nhờ axit axetic mà bảo quản được lâu rau, quả,
nấm, cá
- Bảo quản bằng cách lên men chua: nhờ axit lactic mà rau muối chua để được lâu
- Bảo quản bằng cách lên men rượu: nhờ rượu etylic mà rượu quả, nước quả bền lâu
- Bảo quản bằng cách sunfit hóa quả và1số loại rau: dùng axit sunfurơ hay các muối
của nó để bảo quản rau quả.
- Các hợp chất hóa học để bảo quản rau quả được sử dụng ít hơn là axit benzoic và
các muối benzoat, axit boric và borat, axit xalixilic, axit focmic, axit flohidric, focmaldehit,
…Các cơ quan y tế không cho phép dùng các chất này vì nó độc đối với cơ thể con người.
2.1.3.1. Các chất diệt nấm mốc
Khi quả được bao gói để xuất khẩu, thuốc diệt nấm thường xuyên được sử dụng để
đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng quốc tế và giảm sự hư hỏng trong quá trình vận
chuyển.
2.1.3.1.1. Rữa sản phẩm trong nước có clo.
Rửa sản phẩm trong nuớc có Clo sẽ ngăn ngừa đuợc thối hỏng gây ra bởi vi khuẩn,
hơn.
Sunfit hóa là phương pháp bảo quản rau quả được sử dụng trong công nghiệp cách
đây hơn 80 năm, ngày nay ở Liên Xô hầu như còn dùng rộng rãi khắp nơi.
Khí SO2 là một loại chất sát trùng mạnh và có tác dụng diệt các vi sinh vật làm hư
hỏng rau quả khi nồng độ là 0.05 -0.20% tính theo khối lượng sản phẩm.
Có 2 phương pháp sunfit hóa: sunfit hóa ướt và sunfit hóa khô
* Phương pháp sunfit hóa ướt
Sử dụng dung dịch SO2 đã chuẩn bị sẵn trong nước lạnh với nồng độ 4.5-5.5% để
hoà lẫn vào sản phẩm lỏng hay quả nghiền với số lượng quy định trong quy trình công
nghệ để đảm bảo cho sản phẩm đủ nồng độ SO 2 có tác dụng sát trùng (ở nồng độ 0.120.2%)
* Phương pháp sunfit hóa khô (phương pháp xông khói)
Xử lý quả đựng trong thùng hay hòm khô chứa khí SO 2 và đặt trong các phòng kín
có cấu tạo đặc biệt. Khí SO2 được nạp trực tiếp từ bình thép hay điều chế tại chỗbằng cách
đốt lưu huỳnh ngay trong phòng. Khi xông khói, khí SO 2 sẽ chiếm đầy thể tích của phòng
và thấm qua bề mặt quả vào trong; do đó có tác dụng sát trùng cũng như dung dịch lỏng
axit sunfurơ.
GVHD: THS. ĐỖ VĨNH LONG
Page 9
MÔN: CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH
NHÓM 4
Cần chú ý rằng axit sunfurơ dễ dàng kết hợp với các sắc tố thực vật, nhất là các chất
màu antoxian của rau quả để tạo thành các phức chất mới không màu.
Vì vậy khi sunfit hóa các quả có màu đỏ, xanh và các màu khác, thường làm cho
quả mất màu. Phản ứng này xảy ra theo chiều thuận nghịch, và sau khi tách SO 2, màu của
NHÓM 4
2.1.3.2. Các chất diệt vi khuẩn.
2.1.3.2.1. Muối Bicacbonat
Sử dụng muối bicacbonat để phòng ngừa thối hỏng sau thu hoạch; đã được áp dụng
trên ớt tươi, dưa, cà chua, cà rốt và các quả có múi.
Các muối này không đắt, an toàn khi sử dụng, sẵn có và đuợc công nhận là “chất
hữu cơ đảm bảo giá trị” và “không hóa chất”.
Các muối bicacbonat bao gồm: Natri hidrocacbonat hay còn gọi là bột Soda hay bột
nở (NaHCO3), Kali bicacbonat (KHCO3).
Vi khuẩn gây thối (Erwinia) ở bắp cải có thể được kiểm soát bằng cách sử
dụng vôi bột hoặc dung dịch phèn 15% (15g Nhôm alisulphat trong 100ml nuớc). Sau khi
xử lý lên gốc cuống của bắp cải, nên để khô khoảng 20 – 30 phút trước khi bao gói.
Phương pháp sử dụng (có hoặc không có Clo)
Phương pháp
Phun hoặc nhúng
Phun hoặc nhúng
Nồng độ
Dung dịch 2%
Dung dịch 3%
Bước tiếp sau
Rửa trong nước
2.1.3.2.2. Sử dụng axit benzoic và các benzoat
* Acid benzoic (C7H6O2)
- Acid benzoic tinh thể dạng hình kim hoặc tấm lá nhỏ, màu trắng lụa óng
ánh trắng.
* Natri benzoat (C6H5COONa)
dụng cho quy mô nhỏ, bao gồm sấy khô, lên men, đóng hộp, lạnh đông, nước ép. Tất cả
các loại rau, quả và hoa đều có thể được sấy khô và bảo quản để sử dụng hoặc để bán
trong thời gian tới. Rau quả có thể được đóng hộp hoặc lạnh đông, và quả thường
được chế biến thành sản phẩm quả nước đường hoặc nước quả.
2.1.3.4. Sử dụng hóa chất bảo quản các loại rau quả sấy khô
Sản phẩm chế biến phải được đóng gói và bảo quản thích hợp để đạt được thời gian
bảo quản đến 1 năm. Sản phẩm sấy khô phải được đóng gói trong những bao bì không
thấm khí (chai lọ thủy tinh hoặc nhựa, hoặc túi nilon). Sản phẩm đóng hộp và đóng chai
phải được thanh trùng ở chế độ thích hợp nên cần những bao bì chất luợng cao và độ kín
tốt.
Các loại quả như táo, lê, đào và mơ đôi khi được xử lý với luu huỳnh truớc khi sấy.
Xông lưu huỳnh hoặc sunfit hóa để giữ quả không bị sẫm mầu, kém hương và mất vitamin
C. Lưu huỳnh gây dị ứng với một số nguời, vì thế trên bao bì của những sản phẩm có lưu
huỳnh cần phải được lưu ý rõ ràng. Vitamin C có thể được sử dụng như một chất
chống nâu hóa trong suốt quá trình sấy khô.
Sử dụng 30mg bột acid ascorbic trong một lít nuớc ấm. Thái trực tiếp quả thành
những lát mỏng cho vào dung dịch, vớt ra, để ráo và vẩy khô.
Để đạt kết quả tốt nhất khi sấy khô rau quả tươi, quả nên được thái lát mỏng hoặc
cắt thành miếng đều nhau, và rau được cắt nhỏ hoặc thái hạt lựu.
2.1.3.5. Sử dụng hóa chất hút ẩm để bảo quản các loại rau quả sấy khô
Trong sản xuất và đặc biệt là khi bảo quản các loại rau quả sấy khô, việc giữ độ ẩm
ở mức xác định có một tầm quan trọng rất lớn.
Việc sử dụng các chất hút ẩm trong quá trình bảo quản các sản phẩm rau quả sấy
khô rất thuận lợi, vì các chất này sẽ hút ẩm của môi trường không khí trong bao bì làm cho
sản phẩm luôn được khô và còn làm khô thêm các sản phẩm rau quả sấy chưa đủ khô hoặc
sấy khô không đều.
GVHD: THS. ĐỖ VĨNH LONG
Page 12
tương đối
1%
5%
20%
30%
720
1-2
6
11
14
720
1500
1
1
32
4
16
32
6
64
32
Khi dùng có thể đạt độ ẩm đến 0%, nếu canxi oxyt chưa biến hoàn toàn thành
Hydroxyt canxi. Chất lượng của vôi chưa tôi dùng làm chất hút ẩm sẽ giảm đi, nếu trong
đó có mặt các hỗn hợp khác như Silicat, Cacbonat v.v..., cho nên vôi cần phải được kiểm
tra trước khi sử dụng.
Nước cam với độ ẩm 3% có thể mất nước hoàn toàn, nếu trong dụng cụ đựng (hộp,
thùng) có để CaO 10% trọng lượng sản phẩm (3kg vôi
hút 1kg nước).
Đối với các loại rau sấy khô, người ta dùng liều lượng CaO cho vào như sau (tính
theo % trọng lượng sản phẩm): cho khoai tây 21%, cho củ cải 14%, cho bắp cải, cà rốt và
hành 10%. Trong các loại rau khô, cà rốt là loại khó thoát ẩm hơn cả. Một điều đặc biệt khi
GVHD: THS. ĐỖ VĨNH LONG
Page 13
MÔN: CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH
NHÓM 4
sử dụng vôi làm chất hút ẩm là thể tích của nó tăng lên có thể đạt tới 60-170% khi hút
nước, điều này cần phải chú ý khi đóng gói và ghép kín sản phẩm.
2.2. Nhóm nguyên liệu thịt cá trứng sữa sau thu hoạch
2.2.1. Đặc điểm của nhóm
Các thức ăn thường ngày như thịt, cá, trứng, sữa là thực phẩm rất bổ dưỡng, chứa
nhiều protein tốt cho cơ thể, phát triển trí não. Thịt, cá, trứng, sữa với thành phần dinh
dưỡng chính là chất béo vào đạm.
Sữa là một loại thực phẩm rất có giá trị: một mặt đó là nguồn protein có giá trị sinh
học cao, mặt khác đó là nguồn canxi quí cùng với các vitamin A,D, B2. Lượng protein
trong sữa bò tươi là 3,9 g%, sữa dê tươi là 1,5 g%, sữa trâu 5,2 g%. Lượng lipid trong sữa
vi sinh vật tấn công tạo nên quá trình lên men chua, lên men thối… gây hư hỏng thực
phẩm. Một số hao hụt xảy ra trong quá trình vận chuyển, giết mổ, chế biến. Trong quá trình
bảo quản, dưới tác dụng của enzim và yếu tố môi trường, chất màu bị biến đổi sâu sắc. Tuỳ
thành phần có trong nguyên liệu mà màu sắc có nhiều hướng biến đổi gây hư hỏng với
nhiều dạng khác nhau. Thường bị mất màu hoặc biến sang màu khác: màu hồng của tôm,
màu xám đen của cá, thịt, màu vàng của sữa.
2.2.3. Các phương pháp hóa học giảm thiểu tổn thất sau thu hoạch trứng, cá, thịt, sữa.
2.2.3.1. Bảo quản cá:
2.2.3.1.1. Ướp muối:
- Muối cá là phương pháp truyền thống được sử dụng ở hầu hết các nước trên thế
giới. Phương pháp này thường kết hợp với sấy khô và hun khói. Một lượng muối vừa đủ
ngấm vào trong tế bào cá có thể ngăn ngừa hoặc giảm mạnh hoạt động của các vi khuẩn.
Vì khi cho cá vào dung dịch muối đậm đặc, đậm hơn dung dịch muối có trong tế bào cá,
nước sẽ chảy từ các tế bào sang dung dịch muối cho đến khi hai dung dịch có nồng độ như
nhau. Trong trường hợp này, muối sẽ ngấm vào các tế bào cá. Hiện tượng này gọi là sự
thẩm thấu.
- Nồng độ muối từ 6 đến 10% trong tế bào cá sẽ ngăn ngừa hoạt động của các vi
khuẩn làm ươn cá. Hơn nữa, nước từ tế bào cá chảy ra sẽ góp phần làm giảm hoạt động của
các vi sinh vật làm cá bị ươn. Đối với cá được ướp muối trước khi sấy khô, cần ít nước
chảy ra hơn để bảo quản. Lượng nước còn lại trong cá khoảng 35 – 45% tuỳ thuộc vào
lượng muối trong tế bào cá sẽ ngăn ngừa hoặc giảm mạnh hoạt động làm ươn cá của hầu
hết vi khuẩn.
* Nguồn muối : có 3 loại muối, đó là: muối phơi nắng, muối nấu và muối mỏ.
+ Muối phơi nắng là muối làm từ nước biển hoặc hồ có muối bằng cách cho nước
bay hơi dưới tác dụng của mặt trời và gió. Muối nấu được lấy từ những mỏ muối ngầm
dưới mặt đất. Và muối mỏ là muối tự nhiên thường được xay trước khi sử dụng.
GVHD: THS. ĐỖ VĨNH LONG
Page 15
- Có 4 phương pháp cơ bản được sử dụng trong việc bảo quản cá:
+Muối bằng nước muối đặc: cá được ngâm vào dung dịch muối và nước.
+Muối khô: xát muối hạt vào cá.
GVHD: THS. ĐỖ VĨNH LONG
Page 16
MÔN: CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH
NHÓM 4
+Muối Kench: chà xát muối hạt vào bề mặt của cá đã được khía, cá được xếp thành
từng lớp, giữa hai lớp cá là một lớp muối, chất lỏng tạo thành để khô dần.
+Muối dầm: để cá ngập trong muối và đặt vào thùng kín nước từng lớp một cách
nhau bằng một lớp muối. Nước dầm tạo thành sẽ bao phủ cá, nếu cá không được ngập hoàn
toàn sau 3-4 giờ ta đổ nước muối bão hoà vào để ngập cá. Cần có vật nén lên trên để cá
không nổi trên bề mặt nước dầm.
- Ở phương pháp muối bằng nước muối đặc, người ta sử dụng dung dịch muối bão
hoà. Các tạp chất trong muối sẽ làm giảm nồng độ của clorua natri, vì vậy cần làm cho độ
đậm đặc tăng lên một chút, từ 80 đến 100%, tương đương từ 270 đến 360g muối trong một
lít nước. Khi cá được ngâm trong dung dịch muối bão hoà, nồng độ của dung dịch sẽ bắt
đầu giảm ngay khi muối thẩm thấu vào tế bào cá.
- Trong cách muối dầm, cá được bao quanh bởi muối hạt. Những hạt muối ban đầu
sẽ tan khi tiếp xúc với hơi ẩm trên bề mặt cá. Một lượng muối vừa đủ sẽ tan và giữ cho
nước dầm ở điểm bão hoà khi muối ngấm vào cá và nước chảy ra. Nước từ trong cơ thể cá
chứa máu và các hợp chất khác.
- Không nên áp dụng cách muối theo kiểu Kench và muối khô ở các nước nhiệt đới
vì cá sẽ dễ bị ươn và bị côn trùng làm hỏng, phơi ngoài không khí và sự có mặt của muối
sẽ làm mỡ bị ôxi hoá, cá sẽ mất màu và có mùi ôi. Nên bão hoà cá bằng nước muối đậm
+ Cá đã được chế biến sốt: trong trường hợp cụ thể này, cá được ngâm trong dung
dịch axit axêtic và muối nóng khoảng 850C. Ở nhiệt độ này, phần lớn các vi khuẩn bị chết
và các enzyme không hoạt động.
- Thời hạn sử dụng : cá sốt không để lâu được vì quy trình chế biến không tiêu diệt
tất cả các vi khuẩn. Vì vậy cá sốt có thể bị hỏng do những nguyên nhân sau:
+ Hỏng do tác động vật lý: nếu làm lạnh hộp, thực phẩm trong hộp nở ra có thể làm
vỡ lọ thuỷ tinh hoặc hộp thiếc.
+ Hỏng do tác động hoá học: axit axetic sẽ ăn mòn lớp kim loại của hộp nếu hộp
được tráng thiếc hoặc sơn không tốt. Axit tác động với kim loại sẽ tạo ra hydro có thể làm
hộp bị phồng. Kim loại hòa tan vào axit có thể làm thay đổi hương vị của sản phẩm.
+ Hỏng do tác động sinh học: protein của cá tự nó có thể bị phân huỷ đến mức độ
tạo ra những mùi khó chịu. Điều này xảy ra do hoạt động của vi khuẩn hoặc của enzyme tự
tiêu. Nếu bất kỳ loại gia vị hoặc phụ gia nào khác có chứa đường thì quá trình lên men vi
khuẩn có thể cũng xuất hiện. Vì cá sốt không tiệt trùng nên suốt quá trình chế bi61n cần
được thực hiện trong điều kiện vệ sinh. Tất cả các thùng chứa, mặt bằng sản xuất, dụng cụ
và nguyên liệu phải sạch.
GVHD: THS. ĐỖ VĨNH LONG
Page 18
MÔN: CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH
NHÓM 4
2.2.3.2. Bảo quản thịt [chỉ tìm được ướp muối] thay đổi thành phần không khí bằng cách
bảo quản trong môi trường chân không, hút hết không khí ra khỏi bao chứa thực
phẩm leen men(nem chua sd axit lactic).
2.2.3.2.1. Ướp muối
-Ướp muối thịt để bảo quản là một phương pháp truyến thống được sử dụng rộng rãi
lượng muối và nước trong sản phẩm :
Mức độ Nhạt Trung bình Rất mặn -mặn
Nồng độ dung dịch muối (%) 1,2-1,3 1,4 > 1,5 cái này kiu con vi coi lại nguồn nó
lấy
Mức độ ngấm muối phụ thuộc vào tính chất thịt, nước muối, nhiệt độ và thời gian
ướp muối. Thịt nạt ngấm hơn thịt mỡ, thịt tơi ngấm nhanh hơn thịt kém tơi.
-Tác dụng của nitrat và nitrit (Na, K)
+Ổn định màu và tạo màu cho thịt ướp. Vì trong thịt có những hợp chất có màu như
miglobin, chất có chứa Fe2+ trong nhân Hem, nếu có tác nhân oxy hoá nào đó chuyển Fe 2+
thành Fe3+ thì màu thịt trở nên tối sẫm. Người ta dùng hỗn hợp muối nitrit và nitrat để
giữ màu cho sản phẩm. Nếu chỉ dùng muối nitrit thì tạo màu nhanh nhưng kém bền.
Ưu điểm của hỗn hợp muối này là : tạo màu nhanh sát trùng mạnh.
Nhược điểm :độc. Nếu nitrit dư
sẽ kết hợp với hemoglobin tạo thành
methemoglobin gây hiện tượng ngạt, nhức đầu buồn nôn. Bên cạnh đó nitrit dư sẽ kết
hợp với acid amin tạo thành nitrozamin gây độc lâu dài cho cơ thể (có thể gây ung thư
gan).
Tuy vậy trong công nghiệp thịt người ta vẫn sử dụng chất tạo màu vì sự nhiễm độc
khi sử dụng sản phẩm có dùng chất tạo màu không rõ ràng bằng việc thịt sẽ hư hỏng khi
không sử dụng nó.
Cường độ màu phụ thuộc vào ; hảm lượng các chất sắc tố có trong thịt, mức độ tự
phân của thịt trước khi ướp, nồng độ chất khử và pH của thịt, nhiệt độ và thời gian ướp.
GVHD: THS. ĐỖ VĨNH LONG
Page 20
hấp yếm khí của các cấu tử sống trong khối hạt. Biện pháp này thường được áp dụng, đơn
GVHD: THS. ĐỖ VĨNH LONG
Page 21
MÔN: CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH
NHÓM 4
giản, rẻ tiền. Tuy nhiên do cần nhiều thời gian nên các cấu tử ở giai đoạn đầu vẫn hô hấp
hiếu khí, làm giảm chất lượng hạt đáng kể.
- Nạp CO2 vào khối hạt để thay thế không khí trong khoảng trống của hạt bằng cách
cho CO2 dạng bang vào khối hạt, sau đó nó sẽ tự chuyển thành dạng khí, khi nạp nên cho
lớp trên nhiều hơn. Khi chuyển thành CO 2 dạng băng sẽ thu nhiệt sau đó nhiệt độ giảm
thuận lợi cho bảo quản.
- Ngoài CO2 ta có thể nạp vào khối hạt khí N 2 hoặc một loại hóa chất nào đó cũng
nhằm mục đích đẩy oxi ra khỏi khoảng trống của khối hạt. Yêu cầu sản phẩmđảm bảo khi
nhập kho hạt phải đảm bảo đúng tiêu chuẩn chất lượng, hạt phải có ẩm an toàn, tuyệt đối
không có sâu mọt.
Cho đến nay phương pháp này được cho là tốt nhất với giá thành rẽ, thường có thể
áp dụng cho các hạt có độ ẩm cao như ngô. Vì nếu bảo quản ngô thì không những khối
lượng chất khô giảm 10% mà chất lượng khối hạt cũng giảm. Thông thường sau khi thu
hoạch ngô cần tách ngay, lúc đó độ ẩm khoảng 25 – 40% muốn bảo quản khô cần sấy ngay
xuống 10 – 11% nếu bảo quản khô như vậy sẽ rất tốn kém. Phương pháp bảo quản kín có
thể cho phép bảo quản với độ ẩm cao hơn, tổn thất sau 4 tháng của loại ngô chín hoàn toàn
chỉ từ 2 -3%.
2.3.3.2. Bảo quản bằng khí quyển có điều chỉnh (MA, MC)
Nguyên lý : phương pháp này dự trên sự thay đổi thành phần không khí cho yêu cầu
Dùng để bảo quản hạt có độ ẩm cao. Trong môi trường ẩm natripirosunfit phân hủy
giải phóng SO2.
2.3.3.3.3. Picrinclorua
Ướp hạt bảo quản dài lâu trong xilo, với nồng độ thấp nó không ảnh hưởng đến chất
lượng của hạt, hạn chế vi sinh vật, trùng, bọ phát triển đồng thời nó tồn tại trong khối hạt
lâu.
Việc áp dụng phương phap này cần kho kín, tránh tổn thất hóa chất, nhưng trước khi
xuất hạt cần giải phóng hóa chất triệt để do đó kho phải có cơ cấu hợp lý.
Hóa chất phải tuyệt đối an toàn, độc với vi sinh vật và côn trùng, ít độc với người và
gia cầm, phân bố đều, dễ xâm nhập vào khối hạt, ít hoặc không bị hạt hấp thụ, không gây
hỏa hoạn, ít hoặc không gây ăn mòn thiết bị và vật liệu làm kho, ít ảnh hưởng đến tính chất
công nghệ của hạt, tiện sử dụng và hạ giá thành, đảm bảo hạt còn chất lượng, không hạn
chế sức sống và tỷ lệ nảy mầm, các loại hạt không giảm giá trị thương phẩm.
.
IV. KẾT LUẬN
Tài Liệu Tham Khảo
GVHD: THS. ĐỖ VĨNH LONG
Page 23