ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------
HOÀNG THỊ GẤM
Tên đề tài:
NGHIÊN CƢ́U TÌNH HÌNH MẮC MỘT SỐ BỆNH SINH SẢN
TRÊN ĐÀ N LỢN NÁI NUÔI TẠI TRẠI TRẦN VĂN TUYÊN XÃ
ĐOÀ N KẾT – YÊN THỦ Y – HÒA BÌNH VÀ SƢ̉ DỤNG
MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRI ̣BỆNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:
Chuyên ngành:
Khoa:
Khoá học:
Chính quy
Thú y
Chăn nuôi Thú y
2011 – 2016
Thái Nguyên – 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------
trường ứng dụng vào thực tiễn sản xuất.
Sau gần 6 tháng thực tập tốt nghiệp, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp của mình. Để có được kết quả này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi
luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình cuả nhà trường, các cơ quan, thầy cô, gia
đình và bạn bè. Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Thầy giáo PGS. TS Nguyễn Duy Hoan đã tận tình giúp đỡ và trực tiếp
hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp.
Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm
khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi
Thú y – Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy dỗ và dìu dắt
tôi trong suốt thời gian học tập tại trường cũng như thời gian thực tập tốt
nghiệp.
Đồng thời cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ban lãnh đạo trại lợn
đã tiếp nhận và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực
tập tốt nghiệp.
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè luôn động viên, giúp đỡ, tạo mọi thuận lợi
để tôi hoàn thành tốt quá trình thực tập tốt nghiệp.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Sinh viên
Hoàng Thị Gấm
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm ................................................................... 30
Bảng 4.1. Lịch tiêm phòng của Trại lợn Trần Văn Tuyên .............................. 36
Bảng 4.2. Kết quả phục vụ sản xuất................................................................ 42
Bảng 4.3. Số lượng và cơ cấu đàn lợn nái của trại ......................................... 43
STT:
Số thứ tự
TT:
Thể trọng
TTHH :
Trách nhiệm hữu hạn
VTM:
Vitamin
iv
MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1. MỞ ĐẦU ..........................................................................................................1
1.1. Đặt vấn đề ..................................................................................................................1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài.................................................................................2
1.3. Ý nghĩa của đề tài .....................................................................................................2
1.3.1.
Ý nghĩa trong khoa học.........................................................................................2
1.3.2.
trại Trần Văn Tuyên .........................................................................................................43
4.2.3. Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị.........................................................49
4.2.3.3. Chi phí sử dụng thuốc trong điều trị ..................................................................52
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ........................................................................54
5.1. Kết luận .......................................................................................................................54
5.2. Đề nghi........................................................................................................................
55
̣
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................56
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước nông nghiệp, cuộc sống của người nông dân gắn
liền với trồng trọt và chăn nuôi. Trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân
thì chăn nuôi chiếm một vị trí quan trọng, đặc biệt là ngành chăn nuôi lợn.
Đây là ngành đã có truyền thống từ lâu đời, nhiều kinh nghiệm quý báu đã
được tích lũy, lưu truyền và luôn được khuyến khích phát triển ở nước ta.
Những năm gần đây, do áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thật ngành chăn
nuôi gia súc nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng ngày càng phát triển.
Đàn lợn nước ta đã và đang ngày càng tăng nhanh cả về số lượng lẫn chất
lượng, không những cung cấp một lượng lớn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng
cao cho tiêu dùng trong nước và ngoài nước, ngoài ra chăn nuôi lợn còn cung
cấp một lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt.
Bên cạnh những tiến bộ mới về cải tạo giống, nâng cao chất lượng thức
ăn, việc mở rộng quy mô sản xuất tập trung với cường độ ngày càng cao thì
đồng thời cũng làm tăng nguy cơ bệnh tật, ảnh hưởng đến tăng trọng và có thể
tăng tỷ lệ chết trong chăn nuôi lợn, gây thiệt hại lớn về kinh tế và ảnh hưởng
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Đại cương về cơ quan sinh sản và sinh lý sinh sản của lợn nái
* Đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn nái
Cơ qua sinh dục của lợn nái bao gồm:
- Buồng trứng
Buồng trứng nằm trong xoang chậu, gồm một cặp, thực hiện cả hai
chức năng: Ngoại tiết (bài noãn) và nội tiết (sản sinh ra hormon sinh dục
cái). Buồng trứng được hình thành trong giai đoạn phôi thai hoặc vào lúc
con vật mới sinh ra. Hình dáng và kích thước của buồng trứng biến đổi theo
giai đoạn của chu kỳ sinh dục và chịu ảnh hưởng của tuổi, đặc điểm cá thể,
chế độ dinh dưỡng…
Buồng trứng được bao bọc từ phía ngoài bởi một lớp màng liên kết sợi. Phía
trong buồng trứng được chia thành hai miền là miền vỏ và miền tuỷ. Miền vỏ
đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng.
Miền vỏ bao gồm ba phần: Tế bào trứng nguyên thuỷ, thể vàng và tế
bào hình hạt. Tế bào trứng nguyên thuỷ hay còn gọi là trứng non
(fullicullooophoriprimari) nằm dưới lớp màng của buồng trứng. Khi noãn
nang chín, các tế bào nang bao quanh tế bào trứng phân chia thành nhiều tế
bào có hình hạt (strarum glannulosum). Noãn bao ngày càng phát triển thì các
tế bào nang tiêu tan tạo thành xoang chứa dịch. Các tầng tế bào còn lại phát
triển lồi lên trên tạo thành một lớp màng bao bọc, ở ngoài có chỗ dầy lên để
chứa trứng (ovum).
- Ống dẫn trứng
Ông dẫn trứng được treo bởi màng treo ống dẫn trứng, được chia thành
bốn đoạn: Tua diềm, phễu, phòng ống dẫn trứng và eo.
5
+ Âm vật (clitoris): Âm vật nằm ở phía dưới hai mép của âm môn,
giống như dương vật của con đực được thu nhỏ lại. Về cấu tạo, âm vật cũng
có các thể hổng như con đực.
+ Tiền đình (vestibulum): Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo.
Trong tiền đình có dấu vết màng trinh, phía trong là âm đạo, phía ngoài có lỗ
niệu đạo. Màng trinh có các sợi cơ đàn hồi và do hai lá niêm mạc gấp thành
một nếp. Tiền đình có một số tuyến xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật,
chúng có chức năng tiết dịch nhầy (Nguyễn Mạnh Hà và cs, 2003) [7]
* Sinh lý sinh sản của lợn
- Sinh lý sinh dục của lợn nái
Sinh lý sinh dục của lợn nái được biểu hiện ở các chỉ tiêu: Tuổi động
dục lần đầu, chu kỳ động dục, thời gian động dục, tuổi phối giống lần đầu,
tuổi đẻ lứa đầu, thời gian động dục trở lại…
+ Tuổi động dục lần đầu: Là tuổi khi lợn nái hậu bị lần đầu tiên động
dục. Các giống lợn khác nhau có tuổi động dục lần đầu khác nhau.
Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [5]: Tuổi động dục đầu tiên ở lợn
nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng, khi khối lượng đạt từ 20 - 25 kg; ở
lợn nái lai F1 lúc 6 tháng tuổi, đạt 50 - 55 kg. Lợn ngoại động dục muộn hơn
(6 - 7 tháng) khi đạt 65 - 80 kg.
Trần Văn Phùng và cs (2004) [20] cho biết: Tuỳ theo giống, điều
kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác
nhau. Lợn Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 158 ngày tuổi), các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) muộn hơn từ 7 8 tháng tuổi.
Theo Nguyễn Văn Trí (2008) [30]: Tuổi động dục đầu tiên ở lợn nái
ngoại Yorkshire, Landrace là 6 - 7 tháng tuổi tương ứng với trọng lượng 65 70kg và lợn nái lai F1 là 6 tháng tuổi tương ứng với trọng lượng 50 - 55 kg.
6
Trước chịu đực: Lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, không cho con
khác nhảy lên lưng. Sự rụng trứng xảy ra sau 35 - 40 giờ ở lợn ngoại và lợn
lai, 25 – 30 giờ ở lợn nội.
Chịu đực: Lợn kém ăn, mê ì, đứng yên khi ấn tay lên lưng mông, âm hộ
giảm sưng, nước nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên khi có đực đến gần và cho
đực nhảy. Giai đoạn này kéo dài 2 ngày ở lợn ngoại, 28 - 30 giờ ở lợn nội.
Nếu được phối giống lợn sẽ thụ thai.
Sau chịu đực: Lợn nái trở lại bình thường, âm hộ giảm sưng, đuôi cụp,
không cho con đực đến gần và nhảy lên lưng.
+ Thời điểm phối giống thích hợp: Đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai
cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động
dục. Đối với lợn nái nội, sớm hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày
thứ 3. Theo Nguyễn Hữu Ninh và cs (2002) [19], thời điểm phối giống ảnh
hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con. Phối sớm hoặc phối muộn đều cho kết
quả kém, nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu.
+ Mang thai: Thời gian mang thai của lợn trung bình là 114 ngày (113 115 ngày). Thời gian chửa của lợn nái được chia làm hai thời kỳ:
Chửa kỳ I: Là thời gian lợn có chửa 84 ngày đầu tiên.
Chửa kỳ II: Là thời gian lợn chửa từ ngày chửa thứ 85 đến khi đẻ.
- Năng suất sinh sản của lợn
Một lợn nái một năm trung bình có thể đẻ từ 1,8 - 2,2 lứa/năm. Tuy
nhiên, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý ảnh hưởng đến năng suất
sinh sản của lợn. Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái thông qua các chỉ
tiêu: Số con sơ sinh, số con cai sữa, khối lượng lợn con sơ sinh và cai sữa, tỷ
lệ nuôi sống, số lứa đẻ/năm…
2.1.2. Một số bệnh sinh sản thường gặp ở lợn
Theo Nguyễn Hữu Phước (1982) [21], bệnh sản khoa xuất hiện trên các
giống lợn nội, ngoại khác nhau. Tỷ lệ mắc còn phụ thuộc vào điều kiện vệ
8
9
Nguyễn Hữu Phước (1982) [21], cho biết lợn xảy ra trên cả đàn lợn nội
và ngoại. Tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào điều kiện vệ sinh môi trường, đặc
biệt là công tác vệ sinh thú y.
- Nguyên nhân gây bệnh:
Theo Nguyễn Xuân Bình (1996) [2], bệnh thường xảy ra vào thời gian
1-10 ngày sau khi đẻ.
Các nguyên nhân bao gồm: Dụng cụ truyền tinh gây xây xát âm đạo, tử
cung, tinh dịch bị nhiễm khuẩn, dụng cụ thụ tinh không được vô trùng hoặc
do lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2003) [11].
Đoàn Thị Kim Dung và cs (2002) [6] cho biết: Nguyên nhân gây ra
bệnh viêm tử cung chủ yếu do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus),
liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vuglgais,
Klebriella, dung huyết E.coli, còn có thể do trùng roi (Trichomonas fortus) và
do nấm Candda albicans.
Kết quả phân lập của Nguyễn Hữu Phước (1982) [21] cho thấy tỷ lệ
gây viêm tử cung ở lợn nái như sau:
E.coli chiếm: 26,7%
Streptococcus chiếm: 34,5%
Staphylococcus chiếm: 11,2%
Prosus vulgaris chiếm: 16%
Klebsielle chiếm: 10,2%
Các loại khác chiếm: 2-7%
Khi gia súc đẻ, nhất là trường hợp đẻ khó phải can thiệp, niêm mạc tử
cung bị xây xát và tạo các ổ viêm, mặt khác các bệnh truyền nhiễm như sảy
thai truyền nhiễm, phó thương hàn, lao… thường gây viêm tử cung, âm đạo.
Lợn nái luôn mang vi khuẩn trong âm đạo nhưng không gây bệnh. Chỉ
khi đẻ cổ tử cung mở, chất dịch tiết đọng lại, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm
nhập, phát triển và gây bệnh (Nguyễn Hữu Phước, 1982) [21].
11
- Hậu quả:
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái là một trong những tổn thương đường sinh
dục ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa. Lợn con không có
sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng, chậm phát triển. Lợn nái chậm động dục trở
lại, không thụ thai, có thể dẫn đến vô sinh, mất khả năng sinh sản
(http://www.pkh-vcn.org) [37].
Lê Thị Tài và cs (2006) [22] cho rằng: Đây là một bệnh khá phổ biến ở
gia súc cái. Nếu không được chữa trị kịp thời hì sẽ ảnh hưởng đến khả năng
thụ thai và sinh sản.
Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức
năng của cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở dạ con cản trở sự di chuyển
của tinh trùng tạo độc tố spermiolysin có hại cho tinh trùng. Các loại độc tố
của vi khuẩn, vi trùng và các dạng đại thực bào tích tụ gây bất lợi với tinh
trùng, nếu có thụ thai được thì phôi ở trong môi trường bất lợi cũng dễ bị chết
non (Lê Văn Năm và cs 1999) [17].
Quá trình viêm xảy ra trong giai đoạn có chửa là do biến đổi bệnh lý
trong cấu trúc của niêm mạc (teo niêm mạc, sẹo trên niêm mạc, thoái hóa
niêm mạc…) dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ giữa bào thai và dạ con nên qua
các chỗ tổn thương vi khuẩn cũng như các độc tố do chúng tiết ra làm cho bào
thai phát triển không bình thường.
-
Chẩn đoán:
Dựa vào các triệu chứng lâm sàng như: Lợn nái luôn ở tư thế như rặn
đái. Kiểm tra đường sinh duc lợn nái bằng mỏ vịt, thấy cổ tử cung mở, từ tử
cung, âm đạo chảy ra nhiều dịch nhầy lẫn mủ màu trắng đục, mùi hôi khắm…
Trong trường hợp lợn nái mắc bệnh ở thể ẩn khó phát hiện có thể chẩn
sau khi sử dụng.
Không sử dụng lợn đực bị bệnh ở đường sinh dục để thụ tinh trực tiếp
hoặc khai thác tinh nhân tạo.
13
Phòng các bệnh truyền nhiễm cho lợn nái thông qua công tác tiêm
phòng vaccine theo định kỳ và thực hiện tốt công tác vệ sinh thú y.
Trịnh Đình Thâu và cs (2010) [25] cho biết có thể phòng bệnh viêm tử
cung cho đàn lợn nái bằng quy trình phòng bệnh tổng hợp có bổ sung chế
phẩm Biomin-pHD vào thức ăn.
- Điều trị:
Việc điều trị bệnh cần đạt được hai mục đích: phục hồi nguyên vẹn
niêm mạc tử cung và phục hồi chức năng co bóp của tử cung.
Tử cung có liên quan mật thiết với các cơ quan khác, trong đó có hệ
thần kinh- thể dịch. Bởi vậy, điều trị bệnh viêm tử cung bao gồm điều trị cục
bộ và điều trị toàn thân (Lê Văn Năm và cs, 1999) [17].
Điều trị cục bộ: Thụt rửa tử cung bằng các loại dung dịch nước muối
0,9%, KMnO4 0,01% hoặc rivanol 0,1%, sau đó thụt 1 trong các loại kháng
sinh sau: penicillin, streptomycin, tetramycin…
Điều trị toàn thân: Có thể dùng một số loại kháng sinh tổng hợp như:
ampisep, genorfcoli, gentamycin, lincomycin, hanoxylin 10%, ampicillin…kết hợp
với thuốc trợ lực: vitamin C, B-complex.
Bệnh viêm vú
- Nguyên nhân:
Trần Minh Châu (1996) [3] cho biết: Khi lợn nái đẻ, nếu nuôi không
đúng cách, chuồng bẩn, thì các vi khuẩn, mycoplasma, các cầu khuẩn, vi
khuẩn đường ruột xâm nhập gây ra viêm vú.
Một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú ở lợn nái là
thức ăn không phù hợp, không giảm khẩu phần ăn trước khi đẻ một tuần làm
viêm vú thường xuất hiện ở một vài vú, nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các
vú. Vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng, ấn vào lợn bị đau.
15
Lợn giảm ăn, nếu bị nặng bỏ ăn, sốt cao 40,5-420C. Lượng sữa giảm,
lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú.
Lợn con thiếu sữa kêu la, chạy vòng quanh mẹ đòi bú, ỉa chảy, xù lông,
gầy nhanh, tỷ lệ chết cao từ 30 đến 100% (Lê Hồng Mận, 2004) [16 ]. Vắt sữa
ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có cặn hoặc cục sữa vón lại,
xuất hiện các cục casein màu vàng, xanh lợn cợn có mủ đôi khi có máu.
Theo Đỗ Quốc Tuấn (1999) [31], viêm vú được chia thành các thể sau:
+ Thể thanh dịch: Tuyến vú bị xung huyết, dịch tiết ra nhiều, nước
viêm thải ra thấm các nang sữa làm quá trình lưu thông mạch máu và lâm ba
bị trở ngại. Lá vú sưng to, có khi cả bầu vú. Lúc đầu sữa biến đổi không rõ
sau sữa loãng, chất lượng sữa giảm.
+ Thể cata: Trong nang sữa chứa nhiều dịch rỉ viêm, tế bào biểu bì
phình to ra, bị thoái hóa và bong ra. Vắt sữa có những cục nhỏ màu xanh hay
vàng nhạt, sờ bầu vú thấy nóng.
+ Thể Fibrin: Lúc đầu lá vú chứa nhiều nước vàng fibrinogen và tế bào
chết. Fibrinogen dưới tác dụng của men do tế bào bị tổn thương tiết ra sẽ biến
thành Fibrin. Khi vắt sữa có một ít dịch màu vàng chứa Fibrin và cục casein
bị đông vón. Nhiệt độ cơ thể lên tới 40-420C, vú viêm sưng, sờ thấy đau.
+ Thể cata có mủ: Trong nang sữa và ống dẫn có hồng cầu, mủ và tế
bào hoại tử. Sữa mất hẳn, thể tích vú tăng, màu đỏ. Con vật có triệu chứng
toàn thân: sốt cao, hô hấp và tuần hoàn tăng.
+ Thể áp xe: Trong tuyến vú xuất hiện một hay nhiều bọc áp xe to hay
nhỏ nằm sát dưới da hay ở sâu bên trong. Sau đó bọc mủ phát triển to nổi rõ ở
dưới da. Vật ngừng tiết sữa vắt ra có đầy mủ và máu, casein.
+ Thể plegemol: Là loại viêm tích mủ dưới da và tổ chức liên kết của lá
úp và cho con bú ít, lợn con bú ít kêu la, gầy yếu, ỉa chảy…
Kiểm tra qua kính hiển vi để tìm vi khuẩn: Nếu trong sữa có nhiều liên
cầu, tụ cầu trùng và các vi trùng khác có thể xác định là bệnh viêm vú cata có
17
mủ. Chuỗi vi trùng dài hay ngắn phụ thuộc vào thời kỳ bệnh: Bệnh cấp tính
thì chuỗi vi trùng ngắn, bệnh mãn tính chuỗi vi trùng dài (Nguyễn Hữu Ninh
và cs, 2002) [19].
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [20] thì công tác phòng bệnh cần
phải tiến hành: Vệ sinh chuồng nái đẻ sạch sẽ một tuần trước khi đẻ, rắc vôi
bột hoặc nước vôi 20% sau rửa sạch bằng nước thường. Tắm cho lợn nái
trước khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục và bầu vú.
Cho nái chửa ăn đúng khẩu phần, đủ dinh dưỡng và dễ tiêu hóa. Một
tuần trước khi đẻ phải giảm dần khối lượng thức ăn, để tránh hiện tượng sữa
quá nhiều, lợn con bú không hết dẫn đến chua tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm
nhập, phát triển và gây bệnh. Lợn nái ăn nhiều thức ăn còn làm cho thai to
chèn ép gây đẻ khó. Trước khi đẻ một ngày phải cho lợn nái nhịn ăn nhưng
cho uống nước đầy đủ.
Sau khi đẻ lợn con phải được bấm nanh để tránh gây xây sát bầu vú và
cho lợn con bú ngay, để giảm sức căng của bầu vú. Đồng thời cố định bầu vú
cho lợn con để tránh hiện tượng có bầu vú không được bú sẽ gây viêm vú.
- Điều trị:
+ Điều trị cục bộ: Phong bế giảm đau bầu vú bằng cách chườm nước đá
lạnh để giảm sưng, giảm đau hoặc phong bế bầu vú bằng novocain 0,25-0,5%,
mỗi ngày vắt cạn vú viêm 4-5 lần tránh lây sang vú khác.
+ Điều trị toàn thân: Sử dụng một số loại kháng sinh như penicillin,
ampicillin, lincomycin, tetramycin…đều đạt kết quả tốt.
Bệnh bại liệt sau đẻ
- Nguyên nhân:
Do điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc kém, lợn mẹ bị suy nhược, sức
khỏe yếu, nên lợn rặn đẻ yếu, thậm chí không rặn đẻ, cổ tử cung co bóp yếu
nên không đẩy được thai ra ngoài.