Một số câu hỏi và trả lời trong môn lý
luận hành chính nhà nước
Câu 1: CM quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt
Quản lý Nhà nước mang những đặc điểm chung của quản lý xã hội nhưng quản
lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt. Tính chất đặc biệt ấy thể hiện ở
sự khác biệt giữa quản lý Nhà nước với các hoạt động quản lý xã hội khác. So
với quản lý của các tổ chức khác, thì quản lý nhà nước có những điểm khác biệt
như sau:
Trước hết, chủ thể quản lý NN là các CBCC và các cơ quan trong bộ máy
Nhà nước, cơ quan NN: Lập pháp (Quốc hội và cơ cấu t/c của Quốc hội), Hành
pháp (Hệ thống các CQ.HCNN – HĐND các cấp), Tư pháp (TAND và cơ cấu
t/c của TAND, VKSND và cơ cấu tổ chức của VKS). Còn quản lý xã hội chủ
thể của nó là các thực thể có lý trí và có tổ chức đảng, đoàn thể, các tổ chức
khác v.v... Chủ thể của quản lý XH có nhiều chủ thể tham gia quản lý khác nhau
(giám đốc doanh nghiệp, tổ chức chính trị…).
Thứ hai, đối tượng quản lý của quản lý Nhà nước bao gồm toàn bộ nhân
dân, mọi cá nhân sống và làm việc trên lãnh thổ quốc gia và công dân làm việc
bên ngoài lãnh thổ quốc gia, phạm vi của nó mang tính toàn diện trên mọi lĩnh
vực. Còn đối tượng quản lý của quản lý xã hội nó bao gồm các cá nhân, các
nhóm trong phạm vi một tổ chức.
Thứ ba, quản lý Nhà nước mang tính quyền lực Nhà nước và sử dụng
pháp luật làm công cụ chủ yếu để duy trì trật tự xã hội và thúc đẩy xã hội phát
triển. Quản lý xã hội mang tính quyền lực xã hội sử dụng các quy phạm quy chế
nội bộ để điều chỉnh các quan hệ.
Thứ tư, QLNN là quản lý toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao;
Thứ năm, mục tiêu của quản lý NN là phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn
định và phát triển
của toàn XH.
Từ những đặc điểm trên, có thể hiểu quản lý nhà nước là một dạng quản
lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực NN và sử dụng pháp luật và chính sách
lớp trí thức do Đảng Cộng sản lãnh đạo. HCNN ở nước ta là yếu tố cấu thành hệ
thống chính trị trong đó Đảng cộng sản là hạt nhân lãnh đạo, các đoàn thể nhân
dân, các tổ chức chính trị xã hội có vai trò giám sát và tham gia hoạt động của
Nhà nước. Trong hoạt động thực thi quyền lực Nhà nước, HCNN là yếu tố quan
trọng quyết định hiệu quả hoạt động quản lý Nhà nước cả hệ thống chính trị.
Câu 3: Trong các đặc điểm của HCNN, đặc điểm nào phân biệt HCNN với
hoạt động quản lý nhà nước khác?
Hành chính nhà nước có các đặc điểm sau:
•
Tính lệ thuộc vào chính trị
•
Tính pháp quyền
•
Tính liên tục, ổn định tương đối, thích ứng
•
Tính chuyên nghiệp
•
Tính hệ thống thứ bậc chặt chẽ
•
Bài học kinh nghiệm cho cải cách HCNN Việt Nam
Cải cách phải đồng bộ, cải cách yếu tố này trong quan hệ với yếu tố kia. Ví dụ:
cải cách CBCC mà nếu như thể chế ( nghị định về cách tuyển dụng, đánh giá,
tiền lương …) không thay đổi thì không thể cải cách nhân sự HCNN được.
Không quá tập trung vào một yếu tố, còn các yếu tố còn lại thì mờ nhạt. Tuy
nhiên, căn cứ vào hoàn cảnh điều kiện cụ thể mà sẽ chọn đâu tư trọng điểm vào
một yếu tố
Cần nâng cao nhận thức, coi trọng công tác tuyên truyền, quán triệt sâu rộng các
chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và NN về cải cách HC. Bảo đảm sự
nhất quán, kiên trì, liên tục trong triển khai cải cách HC của Chính phủ, các Bộ,
Ngành TW và các địa phương.
Nâng cao vai trò của CQ chủ trì tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ trong công tác điều phối chung, tổng hợp, đôn đốc và theo dõi việc thực
hiện các nhiệm vụ cải cách HC.
Xác định các mục tiêu cải cách HC mang tính định lượng với mức độ phù hợp,
thiết thực để đảm bảo tính khả thi. Coi trong công tác thí điểm và kết quả của
một số mô hình trong triển khai cải cách HC.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá quá trình
triển khai thực hiện công tác cải cách HC. Tăng cường, phát huy vai trò giám
sát của MTTQ và các đoàn thể nhân dân đối với công tác cải cách HC. Nâng
cao năng lực đội ngũ công chức làm công tác cải cách HC, bố trí đủ nguồn lưc
tài chính cho cải cách HC.
Câu 5: Trong các yếu tố cấu thành nền HCNN, yều tố nào là quan trọng
nhất. Vì sao?
Nền HCNN bao gồm 4 yếu tố: bộ máy HCNN, nhân sự HCNN, thể chế HCNN
và nguồn lực vật chất.
Các yếu tố cấu thành nền hành chính nhà nước có mối quan hệ gắn bó hữu cơ,
không thể tách rời và có ảnh hưởng lẫn nhau.
thống chính trị, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, cải cách bộ máy nhà
nước nói chung.
+ Cải cách hành chính phải đáp ứng nhu cầu hoàn thiện nhanh và đồng bộ thể
chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu quả hội nhập
kinh tế quốc tế; phát huy dân chủ trong đời sống xã hội: huy động và sử dụng có
hiệu quả các nguồn lực và sự tham gia của người dân vào tiến trình phát triển
của đất nước.
+ Cải cách hành chính nói chung, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính phải
đảm bảo tạo thuận lợi nhất cho người dân bảo đảm tạo thuận lợi cho các cá
nhân, tổ chức và góp phần tích cực chống quan liêu, phòng và chống tham
nhũng.
+ Thông qua cải cách tiếp tục làm rõ và phù hợp chức năng, nhiệm vụ, trách
nhiệm của từng cơ quan hành chính, thực hiện phân công, phân cấp rõ và phù
hợp, phân định rõ trách nhiệm giữa các cấp chính quyền, giữa chính quyền đô
thị và chính quyền nông thôn, giữa tập thể và người đứng đầu cơ quan hành
chính.
+ Xây dựng 1 đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất và năng lực
đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.
+ Cải cách phải hướng tới xây dựng 1 nền hành chính hiện đại, ứng dụng có
hiệu quả thành tựu phát triển của khoa học- công nghệ, nhất là công nghệ thông
tin.
Câu 7: Phân tích các yếu tố trong nền hành chính ảnh hưởng đến thể chế
hành chính?
Các yếu tố cấu thành HCNN:
+ Hệ thống thể chế hành chính nhà nước bao gồm Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh
và các văn bản quy phạm về tổ chức, hoạt động của HCNN;
+ Hệ thống tổ chức hành chính nhà nước phải phù hợp với yêu cầu thực hiện
quyền Hành pháp;
+ Nhân sự trong bộ máy hành chính nhà nước được đảm bảo về số lượng và
chất lượng để thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của HCNN;
Đều sử dụng quyền lực nhà nước để thực hiện hoạt động quản lí.
-
Được thành lập theo Hiến Pháp.
•
Khác
Tiêu chí
Phạm vi
Thẩm quyền chung
Quản lí tất cả các mặt
đời sống- xã hội
Cơ sở thành lập
Được thành lập theo
Hiến pháp và luật
Thẩm quyền thành lập Các lãnh đạo chủ yếu
thành lập theo chế độ
bầu cử hoặc bầu cử +
bổ nhiệm
Phương thức lãnh đạo -Cơ chế tập thể
- Kí thay
Thẩm quyền riêng
quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.(khoản 2,
điều 4-Luật CBCC-2008)
Cán bộ xã, phường, thị trấn(sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Viêt Nam,
được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kì trong thường trực HĐND, UBND, bí
thư, phó bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị- xã hội; công chức
cấp xã là công dân VN được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn,
nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà
nước.
Khái niệm viên chức: là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc
làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc,
hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của
pháp luật( Điều 2- luật Viên chức 2010).
SO SÁNH CÁN BỘ VÀ CÔNG CHỨC
Giống:
-
Đều là công dân VN
Trong biên chế nhà nước
-
-
-
Hưởng lương từ ngân sách NN( riêng trường hợp công chức làm việc
trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì tiền
lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo
quy định của pháp luật.
Các tổ chức chính
trị- xã hội
Công chức
Khoàn 2, điều 4 luật
CBCC
Được tuyển dụng, bổ
nhiệm vào ngạch, chức vụ,
chức danh
Công việc thường xuyên
theo chuyên môn, nghiệp
vụ mang tính lâu dài
- ĐCS VN
- Cơ quan nhà nước
- Các tổ chức chính
trị- xã hội ỡ TW,
cấp Tỉnh, cấp
huyện.
- Trong bộ máy lãnh
đạo, quản lý của
đơn vị sự nghiệp
công lập
- Trong cơ quan, đơn
vị thuộc Quân đội
nhân dân mà không
phải là sĩ quan,
quân nhân chuyên
nghiệp, công nhân
quyền hạn được
thẩm quyền về việc
giao
thực hiện nhiệm vụ,
Thể hiện trách
quyền hạn được
nhiệm hành chính
giao
của công chức
Thể hiện trách
nhiệm chính trị của
Cán bộ
- Cán bộ phải đánh
- Đánh giá công chức
giá năng lực lãnh
gắn với nhiệm vụ
đạo
- Trình dộ chuyên
- Điều hành
môn, nghiệp vụ
- Tổ chức thực hiện
- Tiến độ và kết quả
nhiệm vụ
thực hiện nhiệm vụ
- Tinh thần trách
- Tinh thần và trách
nhiệm trong công
nhiệm trong việc
tác
thực hiện nhiệm vụ
làm và chỉ tiêu biên chế. Về điều kiện tham gia dự tuyển thì bắt buộc phải
từ đủ 18 tuổi trở lên.
- Viên chức: Việc tuyển dụng phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí
việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị
sự nghiệp công lập. Đối với viên chức thì đối với một số lĩnh vực hoạt
động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao tuổi dự tuyển có thể thấp hơn
theo quy định của pháp luật, đồng thời phải có sự đồng ý bằng văn bản
của người đại diện theo pháp luật.
3. Về cơ quan, đơn vị nơi công chức, viên chức làm việc
- Công chức: Làm việc trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong
cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; trong cơ quan, đơn vị thuộc
Công an nhân dân và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự
nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính
trị - xã hội.
- Viên chức: Làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập.
4. Nguồn chi trả lương cho công chức và viên chức
- Công chức: Hưởng lương từ ngân sách Nhà nước hoặc từ quỹ lương của
đơn vị sự nghiệp công lập (đối với những người trong bộ máy lãnh đạo,
quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập).
- Viên chức: Làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc và hưởng lương từ
quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập.
5. Các hình thức kỷ luật
- Công chức: Vi phạm kỷ luật, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải
chịu một trong những hình thức kỷ luật sau: Khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc
lương, giáng chức; cách chức và buộc thôi việc.
- Viên chức: Hình thức kỷ luật bao gồm: Khiển trách, cảnh cáo, cách
chức và buộc thôi việc (không có hình thức hạ bậc lương, giáng chức)
- Dịch vụ công có thể được thực hiện thông qua quan hệ hợp đồng dân sự (hợp
đồng dịch vụ) giữa người cung cấp và người sử dụng dịch vụ;
- Do mang tính chất dịch vụ nên trong một chừng mực nhất định hoạt động dịch
vụ công có thể hướng tới mục đích lợi nhuận;
- Đối tượng phục vụ có thể không bình đẳng hoàn toàn trong việc hưởng dịch
vụ công vì có thể trong một số trường hợp có người dân có nhu cầu sử dụng, có
người không có nhu cầu sử dụng, có người có điều kiện sử dụng và có người
không, do vậy, người sử dụng có thể phải trả tiền.
Tầm quan trọng của việc phân biệt trên đây còn là vấn đề xác định “xã hội hóa”
hay không “xã hội hóa” một hoạt động của nhà nước, tức là chỉ có thể thực hiện
“xã hội hóa” những hoạt động có tính chất của một dịch vụ công, đối với những
hoạt động công vụ - dịch vụ hành chính công Nhà nước không thể chuyển giao
cho cá nhân, tổ chức khác thực hiện. Đồng thời, sự phân biệt này cũng có ý
nghĩa làm cơ sở để tiếp tục thực hiện việc tách các hoạt động có tính chất sự
nghiệp ra khỏi các hoạt động có tính chất quản lý hành chính nhà nước thuần
túy. Cuối cùng, nó còn có một ý nghĩa là nếu là hành chính công thì một công
dân bất kỳ có quyền đòi hỏi được nhà nước thực hiện nếu anh ta đã có đủ các
điều kiện do pháp luật quy định, còn dịch vụ công thì không phải như vậy.
Câu 11: So sánh hoạt động quản lý nhà nước và hoạt động cung cấp dịch
vụ công?
Giống nhau
- Đối tượng: tác động lên cá nhân tổ chức
- Mục tiêu: ổn định và phát triển đất nước .
- Thực hiện bằng quyền lực nhà nước.
Khác nhau
Hoạt động cung cấp dịch công
-Phản ánh mối quan hệ giữa người cung
ứng (CQHCNN) và khách hàng (công
dân)
- Là giao dịch cụ thể giữa cơ quan hành
Chủ thể
có thẩm
quyền
Quyết định hành chính
Quyết định lập
pháp
Do nhiều chủ thể khác nhau -Chỉ có Quốc
trong cơ quan nhà nước có Hội mới có
thẩm quyền ban hành.
quyền ban hành
Quyết định tư pháp
Hội đồng thẩm phán
tòa án nhân dân tối
cáo, chánh án tòa án
ban hành Gồm :
+ Chính phủ ra quyết định
hành chính dưới hình thức
là những nghị quyết,
+ Nghị định thủ tướng
chính phủ,
+ Các bộ, UBND, các cơ
quan chuyên môn thộc ủy
ban nhân dân, sự phối hợp
giữa các cơ quan hành
chính với tổ chức xã hội
pháp, Luật,
pháp lệnh, nghị
quyết
Là thủ tục làm
hiến pháp và
làm luật do các
chủ thể sử dụng
quyền lập pháp
tiến hành.
Quyết định mở phiên
tòa, quyết định xét
xử sơ thẩm....
Xây dựng và ban
hành theo trình tự
thủ tục tố tụng, như
giải quyết các vụ án
có thể như hình sự,
dân sự, hành chính
dưới hình thức là các
bản ản quyết định
của tòa án quyết định
của viện kiểm sát là
chủ yếu.
Hiệu luật Những quyết định hành
Có giá trị hiệu
Có hiệu lực mang
pháp lý chính có thể sửa đổi, hủy bỏ lực pháp lý và tính giá trị pháp lý ổn
bởi bất kì cơ quan nào trong tính ổn định cao định. Nó chỉ có thể
Thể thức
Quyết định quản lý
hành chính
Là quyết định của các
chủ thể hành chính nhà
nước được ban hành trên
cơ sở pháp luật để giải
quyết một vấn đề đặt
nhằm thực hiện chức
năng nhiệm vụ của các
chủ thể hành chính nhà
nước
Các chủ thể hành chính
nhà nước: cơ quan hành
chính nhà nước, cán bộ,
công chức hành chính
nhà nước được trao thẩm
quyền
Lựa chọn cách thức tốt
nhất để giải quyểt vấn đề
đặc ra trong quá trình
thực hiện chức năng
nhiệm vụ hành chính nhà
nước
các hành vi và quá trình
xã hội, khi xuất hiện vấn
đề cần điều chỉnh….
Mang tính mệnh lệnh
Có thể điều chỉnh hoặc
hông điều chỉnh cá nhân
tập thể nào
Có thể cấm đoán hoặc
hông bắt buộc thực hiện
Còn văn bản hành thông
thường không có phần
ghi năm, ví dụ: Quyết
định số 01/QĐ-UBND
Tính chất
Trình tự ban hành
việc khẩn cấp, gấp rút;
Quyết định hành chính
thể hiện dưới dạng ký
hiệu, biển báo, tín hiệu.i
Mang tính quyền lực nhà
nước, tính đơn phương,
mang tính pháp lý và
tính dưới luật
Phải tuân thủ các quy
định của pháp luật về nội
dung và hình thức thủ
tục….
Tính cưỡng chế thấp
hoặc hông mang tính
chung chung gây khó khăn cho việc thực hiện nhưng cũng có những quyết định
lại quy định quá chi tiết, không phù hợp với hoàn cảnh. Quyết định chưa có tính
tổng thể. Nội dung của quyết định thường chỉ bó hẹp trong một lĩnh vực, một
địa phương hay một hoàn cảnh cụ thể. Việc ban hành quyết định còn chưa gắn
mục tiêu trước mắt với mục tiêu lâu dài; chưa tính đến việc tác động của quyết
định đến các ngành, lĩnh vực khác.
Hiện nay nhiều cơ quan hành chính ban hành quyết định không thuộc phạm vi
thẩm quyền vẫn xảy ra khá phổ biến đặc biệt là trong lĩnh vực xử phạt vi phạm
hành chính.
Tình trạng quyết định của cấp dưới ban hành chưa đúng với quyết định của cấp
trên cả nội dung và hình thức vẫn còn.
Quyết định ban hành chưa phù hợp với lợi ích của nhà nước và của xã hội vẫn
tồn tại.
Việc ban hành quy trình ban hành quyết định hành chính chưa có tính hệ thống
trên toàn lĩnh vực. Đây cũng là nguyên nhân khiến cho pháp luật của nước ta
thiếu tính đồng bộ, tình trạng chồng chéo giữa các cấp, các ngành vẫn còn xảy
ra.
II. Nguyên nhân của những tồn tại trong việc ban hành, thực hiện quyết
định hành chính bất hợp pháp và bất hợp lý
Đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành các quyết định hành
chính:
Các quyết định chưa thật sự có chất lượng khiến cho công tác quản lý nhà nước
nói chung và công tác soạn thảo, ban hành và thực hiện quyết định hành chính
gặp không ít khó khăn. Hiện nay, một đội ngũ cán bộ công chức vẫn có trình độ
còn hạn chế, đặc biệt là trình độ hiểu biết pháp luật nên gặp nhiều khó khăn
trong việc ban hành, thực hiện quyết định.
Hệ thống pháp luật nói chung hiện nay vẫn thiếu đồng bộ, nhất là trong các lĩnh
vực như thu phí và lệ phí, đất đai, xử phạt vi phạm hành chính...
3. Đảm bảo tính hiệu lực và hiệu quả của quyết định hành chính
4. Tổ chức tập huấn, hội thảo cho các cán bộ công chức
5. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, quản lý Nhà nước về ban hành, thực
hiện quyết định hành chính
6. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật.
Câu 17 : Phân tích mối quan hệ giữa năng lực , hiệu lực , hiệu quả.
Năng lực của nền hành chính nhà nước : là khả năng thực hiện chức năng quản
lí nhà nước và phục vụ nhân dân
Hiệu lực của nền hành chính nhà nước : là sự thực hiện đúng , có kết quả chức
năng quản lí của bộ máy hành chính để đạt được mục tiêu đề ra
Hiệu quả của nền hành chính nhà nước : là kết quả quản lí đạt được của bộ máy
hành chính trong tương quan với mức độ chi phí các nguồn lực , trong mối quan
hệ giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội.
Mối quan hệ giữa năng lực , hiệu lực , hiệu quả:
Giữa năng lực , hiệu lực , hiệu quả hành chính nhà nước có mối quan hệ chặt
chẽ. Hoạt động quản lí nhà nước trước hết phải đề cao năng lực , phải đảm bảo
được hiệu lực. Mặt khác, một nền HC có năng lực hơn sẽ hoạt động có hiệu lực
và hiệu quả hơn. Như vậy, cả hiệu lực, hiệu quả quản lý đều được quyết định
bởi năng lực, chất lượng của nền HCNN.
Để năng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính phải tập trung xây dựng và
hoàn thiện các yếu tố cấu thành năng lực của HCNN. Ngược lại, để đánh giá sự
tiến bộ về năng lực của nền HC phải dựa trên những tiêu chí, thước đo cụ thể
phản ánh hiệu lực, hiệu quả quản lý HCNN.
Câu 18: Tại sao giám sát của quốc hội với hành chính nhà nước là cao
nhất? Chứng minh tính giám sát tối cao đó:
Giám sát của Quốc hội là giám sát tối cao vì:
Cần biết, trong bộ máy nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốc
hội được xác định là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, đồng thời là cơ
- Hoạt động giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương của đại biểu Quốc
hội ở các tỉnh và của đại biểu Quốc hội; tiếp xúc cử tri để lắng nghe nguyện
vọng của cử tri phản ánh lên Quốc hội và các cơ quan nhà nước khác; giám sát
việc giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo…
- Quyền giám sát của Quốc hội đối với quản lý hành chính Nhà nước có phạm
vi rất lớn, thể hiện qua quyền đình chỉ, hoặc bãi bỏ các quyết định của Chính
phủ và cả trong hoạt động cụ thể của bộ máy hành chính
Câu 19: Thực tiễn các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HCNN
1.
Nguyên tắc Đảng lãnh đạo HCNN
-
Cách thức: thông qua các nghị quyết, văn kiện của đảng
-
Kết quả:
+ Đảng duy trì được đường lối chính trị trong quá thực thi quyền hành pháp và
giám sát hoạt động của HCNN
+ Có những điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện các chủ trương, định hướng kịp thời
cho sự phát triển kinh tế xã hội trong mỗi thời kỳ.
-
Khó khăn và hạn chế:
+ Do những nguyên nhân khách quan và chủ quan nên còn nhiều hạn chế trong
quá trình giám sát, kiểm tra, thanh tra.
Nguyên tắc tập trung dân chủ
Cách thức thực hiện: thông qua các cuộc trao đổi, tọa đàm, đóng góp ý
kiến trong nội bộ cơ quan hay giữa cấp trên và cấp dưới
Thành tựu: các chính sách, chủ trương được thống nhất cao, tạo cho cấp
dưới có sự llinh hoạt sáng tạo trong quá trình giải quyết công việc, không bị gó
bó nhiều trong nhữn khuôn khổ cứng nhắc nên kết quả đạt công việc đạt được
cao.
Hạn chế: sự kết hợp bàn bạc ở nhiều đơn vị còn rất hình thức, chưa được
quan tâm thực hiện đúng mức, thực chất là đã vi phạm quy chế dân chủ cở sở, vi
phạm nguyên tắc tập trung dân chủ dẫn đến nguy cơ mất đoàn kết, lạm quyền và
tham nhũng.
4.
Nguyên tắc kết hợp quản lý ngành với quản lý lãnh thổ
-
Thành tựu:
+ Sự kết hợp được triển khai khá tốt, tại các địa phương đều có những cơ quan
chuyên môn thực hiện chức năng hành chính nhà nước.
+ Hạn chế được sự chồng chéo trong quá trình giải quyết vấn đề và nâng cao vai
trò của HCNN
+ Đã xây dựng và ban hành những quy định rất cụ thể đối với quản lý sngnhf
gắn với quản lý lãnh thổ đến các địa phương.
-
+ Có hiện tượng lũng đoạn thị trường kinh tế
+ Vẫn còn nhiều tiêu cực trong quá trình cạnh tranh.
6.
Nguyên tắc quản lý xã hội bằng hiến pháp , pháp luật
-
Thành tựu:
+ So với trước kia thì hệ thống pháp luật tương đối tốt, giải quyết được những
vấn đề trong xã hội.
+ Hiện nay đa số cơ quan HCNN đều thực hiện khá tốt Hiến pháp ,luật.
+ Cán bộ công chức đều gương mẫu chấp hành và tổ chức thực thi pháp luật tốt
-
Hạn chế:
+ Còn nhiều hạn chế trong công tác tuyển dụng, sử dụng cán bộ công chức: có
sự vi hiến, trái luật
+ Còn nhiều dự án luật treo, có sự chồng chéo về thẩm quyền cũng như cách
thức giải quyết vấn đề giữa các ngành luật liên quan
+ Vẫn còn nhiều quyết định bất hợp lý và bất hợp pháp được ban hành.
7.
Nguyên tắc công khai minh bạch
-