TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT
NGUYỄN THỊ HUYỀN
LỰA CHỌN GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG
CAO HIỆU QUẢ GIỜ HỌC GIÁO DỤC
THỂ CHẤT CHO HỌC SINH TRƢỜNG
THPT SỐ 4 VĂN BÀN-LÀO CAI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: SƢ PHẠM GDTC
Hƣớng dẫn khoa học:
TS. HÀ MINH DỊU
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là: Nguyễn Thị Huyền
Sinh viên: Lớp K38A - khoa GDTC
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, những vấn đề được
đưa ra bàn luận, nghiên cứu trong đề tài chưa được công bố trong bất kì công
trình nào.
Tôi tự chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về công trình nghiên
cứu của mình.
Xin cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2016
Sinh viên
: Học sinh- Sinh viên
8. NXB
: Nhà xuất bản
9. STN
: Sau thực nghiệm
10. STT
: Số thứ tự
11. TDTT
: Thể dục thể thao
12. THPT
: Trung học phổ thông
13. TTN
: Trước thực nghiệm
14. XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
học sinh trường THPT Số 4 Văn Bàn - Lào Cai ............................................. 27
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 41
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Thực trạng đội ngũ giáo viên dạy môn thể dụctrường THPT Số
4 Văn Bàn - Lào Cai......................................... .................................... 21
Bảng 3.2. Thực trạng CSVC phục vụ công tác GDTC củatrường THPT Số
4 Văn Bàn - Lào Cai....................................................... ...................... 22
Bảng 3.3. Cấu trúc giờ học thể dụctrường THPT Số 4 Văn Bàn - Lào Cai ... 27
Bảng 3.4. Kết qủa học tập môn thể dụctrường THPT Số 4 Văn Bàn - Lào
Caiqua các năm học 20113-2014và năm học 2014-2015. .................... 27
Bảng 3.5. Kết quả quan sát học sinh trườngTHPT Số 4 Văn Bàn - Lào Cai
tham gia tập luyện thể thao ngoại khoá . .............................................. 28
Bảng 3.6. Kết quả phỏng vấn lựa chọn những giải pháp hiệu quả nhất
nâng cao chất lượng công tác GDTC cho học sinh trường THPT Số
4 Văn Bàn - Lào Cai(n = 45). ............................................................... 31
Bảng 3.7. Kết quả phỏng vấn về các tiêu chí đánh giá hiệu quả giờ học
GDTC của CB-GV trường THPT Số 4 Văn Bàn - Lào Cai ................. 35
Bảng 3.8. Kết quả kiểm tra môn TD trước khi thực nghiệm của hai nhóm
đối chứng và thực nghiệm (nA = nB = 60) .................................................. 36
Bảng 3.9. Kết quả kiểm tra các test thể lực trước thực nghiệm của Nam
hai nhóm đối chứng và thực nghiệm (n = 30) ....................................... 36
Bảng 3.10. Kết quả kiểm tra các test thể lựctrước thực nghiệm của Nữ
hai nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm (n = 30) ............................ 37
Bảng 3.11. Kết quả kiểm tra môn thể dục sau thực nghiệm của hai nhóm
đối chứng và nhóm thực nghiệm (n = 60) ........................................... .38
Bảng 3.12. Kết quả kiểm tra các test thể lực sau thực nghiệm của Nam hai
chơi, sân bãi dụng cụ tập luyện thiếu thốn, đội ngũ giáo viên còn hạn chế về
số lượng và chất lượng, trình bày bài giảng đơn điệu. Từ nhiều nguyên nhân
GDTC chưa đáp ứng được trong nhà trường cũng như của xã hội.
2
Do vậy, tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng công tác GDTC trong
trường học là vấn đề cấp thiết được đặt ra, đặc biệt là các tỉnh có điều kiện
khó khăn, đời sống thiếu thốn, địa hình phức tạp.
Khánh Hạ là một vùng quê thuộc huyện Văn Bàn - huyện vùng cao, đa
số dân sống bằng nông nghiệp, là một xã còn nhiều khó khăn cần giải quyết.
Số lượng giáo viên còn trẻ và chất lượng dạy học chưa thật sự cao, địa hình
học tập và rèn luyện còn nhấp nhô, cơ sở vật chất còn thiếu thốn. Vì vậy,trong
những năm qua tình hình học tập và chất lượng giờ học GDTC chưa được
nâng cao và phát triển.Vào những năm trở lại đây được sự quan tâm của Đảng
và Nhà nước, Khánh Hạ đang từng bước tiến lên trong ngành Giáo dục của xã
đã phát triển vượt bậc, đặc biệt là trong lĩnh vực TDTT đã được chú trọng và
phát triển, đã gặt hái được nhiều thành công mới nhờ sự đổi mới và chú trọng
hơn đối với môn học này.
Qua quan sát thực tế các giờ học của học sinh trường THPT số 4 Văn
Bàn, tôi nhận thấy sự lãnh đạo của giáo viên trong giờ học chưa cao, học sinh
thờ ơ với môn học, cơ sở vật chất thiếu thốn, trình bày bài giảng còn đơn
điệu…Nguyên nhân là do sự lãnh đạo của nhà trường và giáo viên dạy môn
học chưa thật sự sát sao và chú trọng đến môn học, đẫn đến hiệu qua giờ học
không cao, ý trí học tập của các em bị giảm sút, đặc biệt là hạn chế nâng cao
được tố chất của học sinh.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên tôi mong muốn góp phần vào công
sức phát triển GDTC của địa phương nói chung và nâng cao hiệu quả GDTC
cho học sinh trường THPT số 4 Văn Bàn nói riêng nên tôi đi vào nghiên cứu
chất của con người có liên quan chặt chẽ đến các định hướng phát triển toàn
XH, đến thể chế chính trị, đến bước tiến của khoa học và kĩ thuật”[5].
Trong thời đại ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tri thức
có tác dụng sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội làm thay đổi tận gốc
lực lượng sản xuất hiện đại. Từ thực tế cuộc sống đòi hỏi con người phải có
sức khoẻ, khả năng lao động và các thao tác có tri thức. Con người là chủ thể
của mọi sự sáng tạo, chủ thể của mọi của cải vật chất và văn hoá để xây dựng
xã hội công bằng và văn minh. Do nhận thức được vai trò quan trọng trong xã
hội của con người, Đảng ta đã chủ trương phát triển con người hoàn diện, là
con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh
thần và trong sáng về đạo đức. Cơ sở bền vững để tồn tại lâu dài của mọi quốc
gia, mỗi dân tộc được bắt đầu từ việc chăm lo cho sự phát triển con người về
mọi mặt. Trong đó, việc đầu tư nhằm nâng cao thể lực, nâng cao sức khoẻ cho
học sinh là một vấn đề quan trọng trong việc phát triển nhân tố con người.
Khi phê phán tình trạng yếu kém về giáo dục thể chất trong các nhà
trường của nước ta thời kì Pháp thuộc, Phan Bội Châu - nhà yêu nước của
Việt Nam dầu tiên có tên tuổi đầu thế kỉ XX đã viết: “Các môn trong trường
tiểu học không có gì quan trọng hơn môn thể dục mà trường có môn đó, thể
dục tay không, thể dục với vũ khí, thể dục giải trí cho đến các thứ vận động
5
khác đều không được đưa vào chương trình giảng dạy. Lạ hơn nữa là các
trường tiểu học của trẻ em người Pháp thì có SVĐ mà các trường tiểu học
của con em Việt Nam thì ngược lại. Vì trẻ em Việt Nam mà khoẻ mạnh thì
người Pháp không ưa nên thể dục môn phải nghiêm cấm”. (Phan Bội Châu,
Thiên Hồ, Hồ Dế - Bản dịch của Chương Thân - NXB năm 1978)[3].
Cũng chính vì thực tế quan trọng như vậy và để muốn phát triển con
người toàn diện thì phải làm cách mạng về phát triển con người toàn diện, tạo
kiện thuận lợi cho sự phát triển TDTT nước nhà [4].
Chỉ thị 133 TTG ngày 07 tháng 03 năm 1995 của thủ tướng chính phủ
về phát triển nghành TDTT đã chỉ rõ “Bộ Giáo dục và Đào tạo cần đặc biệt
coi trọng việc giáo dục thể chất trong nhà trường. Cải tiến nội dung giảng
dạy TD, TT nội khóa, ngoại khóa, quy định tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho
học sinh ở các cấp học, quy chế bắt buộc ở các trường, nhất là các trường đại
học phải có sân bãi, phòng tập TDTT, có định biên hợp lý và có kế hoạch đào
tạo đội ngũ giáo viên TDTT đáp ứng nhu cầu ở tất cả cấp học” [2].
Luật giáo dục đã khẳng định: “Giáo dục là con đường chủ yếu và cơ bản
để chuẩn bị cho con người cho sự phát triển bền vững của đất nước trong điều
kiện kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là con người có sức
khỏe và được phát triển toàn diện, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát
triển kinh tế - xã hội, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc” [7].
Để đưa công tác GDTC trong nhà trường trở thành một khâu quan
trọng mà sự nghiệp giáo dục - đào tạo, cũng như xác định đúng về vị trí
GDTC trong nhà trường các cấp phải được triển khai thực hiện đồng bộ với
các mặt giáo dục tri thức và nhân cách từ tuổi thơ cho đến Đại học. Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có văn bản quyết định ban hành quy chế về công
tác GDTC trong nhà trường các cấp. Trong đó đã khẳng định: “Giáo dục thể
chất được thực hiện trong nhà trường từ mầm non đến đại học, góp phần đào
7
tạo những công dân phát triển toàn diện. GDTC là một bộ phận hữu cơ của
mục tiêu giáo dục và đào tạo, nhằm giúp con người phát triển cao về trí tuệ,
cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”.
1.2. Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung GDTC trong trƣờng THPT
Nâng cao năng lực thể lực và sức khỏe cho học sinh THPT, học sinh
Có thể thấy rằng, một trong những nhiệm vụ cơ bản quan trọng của
GDTC là không ngừng nâng cao sức khoẻ, nâng cao trình độ chuẩn bị thể lực
cho học sinh phổ thong một cách tối ưu nhất. Trích tài liệu tham khảo tác giả
Nôvicốp A. D; Mátvêép L.P (1993) khẳng định: “… thể lực là một trong
những nhân tố quan trọng nhất, quyết định hiệu quả hoạt động của con
người, trong đó những đặc điểm cơ bản, nổi bật của quá trình giáo dục thể
chất”[6].
Quán triệt sâu sắc nội dung các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Hiến
pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các văn bản pháp luật của Chính phủ
về công tác TDTT trong tình hình mới, cũng tiếp tục khẳng định, cần phải
khắc phục thực trạng giảm sút thể lực của HS- SV hiện nay.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành quy chế số 931/RLTC ngày
29/4/1993 về công tác GDTC trong nhà trường là: “Các trường từ Mầm
non đến Đại học phải đảm bảo thực hiện dạy môn thể dục theo quy định
cho học sinh, sinh viên”[4]. Chương trình thể dục và các hình thức GDTC
khác được sắp xếp phù hợp với trình độ sức khỏe, giới tính và lứa tuổi.
Nhà trường phải có kế hoạch hướng dẫn học sinh, sinh viên tập luyện
thường xuyên, tổ chức các ngày hội thể thao của trường và xây dựng
thành nề nếp truyền thống. “Kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo
lứa tuổi và chỉtiêu phát triển thể lực cho học sinh, sinh viên theo quy định
của chương trình GDTC”[5].
9
1.3. Đặc điểm tâm - sinh lý của lứa tuổi THPT
1.3.1. Đặc điểm tâm lí của lứa tuổi THPT
Lứa tuổi này học sinh muốn chứng tỏ mình là người lớn, muốn được
mọi người biết đến và tôn trọng mình. Các em đã có một trình độ nhất định có
khả năng phân tích tổng hợp hơn, muốn hiểu nhiều biết rộng, thích hoạt động
cần sử dụng bài tập thích hợp và thường xuyên quan sát phản ứng cơ thể
người tập để có biện pháp giải quyết kịp thời.
Hệ vận động
Hệ xương: Bắt đầu giảm chế độ phát triển. Mỗi năm nữ cao thêm 0,5 1cm; nam 1 - 3cm, cột sống đã ổn định hình dáng vì vậy có thể sử dụng một
cách rộng rãi các bài tập với khối lượng tăng dần để giúp cho vận động viên
thích nghi một cách từ từ.
Hệ cơ: Các tổ chức cơ phát triển muộn hơn xương nên cơ vẫn tương
đối yếu, các cơ lớn phát triển tương đối mạnh, cơ nhỏ phát triển chậm hơn, cơ
co phát triển nhanh hơn cơ duỗi.
Hệ tuần hoàn
Hệ tuần hoàn đã phát triển và hoàn thiện, buồng tim phát triển tương
đối hoàn chỉnh, mạch đập của nữ là 70 - 80 lần/phút; nam 75 - 85 lần/phút,
phản ứng của hệ tuần hoàn trong vận động tương đối rõ rệt nhưng sau vận
động mạch, huyết áp hồi phục nhanh chóng. Vì vậy, ở lứa tuổi này có thể tập
luyện những bài tập có khối lượng và cường độ tương đối lớn nhưng vẫn phải
thận trọng và thường xuyên kiểm tra theo dõi trạng thái sức khỏe của các
VĐV.
Hệ hô hấp
Hệ hô hấp đã phát triển và tương đối hoàn thiện, vòng ngực trung bình
của nam 69 - 74cm; dung lượng phổi t`ăng lên nhanh chóng lúc 16 - 18 tuổi là
3 - 4 đơn vị, tần số hô hấp gần giống với người lớn, tuy nhiên các cơ hô hấp
vẫn còn yếu nên sức co dãn của lồng ngực ít. Vì vậy, trong tập luyện cần thở
11
sâu tập trung chú ý thở bằng ngực và các bài tập bơi, chạy cự li trung bình, có
tác dụng tốt đến phát triển hệ hô hấp.
* Trao đổi năng lượng
Đặc điểm chính là quá trình đồng hóa chiếm ưu thế so với quá trình dị
vẫn còn ngắn, tuy nhiên vận động viên thanh thiếu niên cần phải được khởi
động đầy đủ và kỹ để phòng chấn thương và đảm bảo phát huy hết chức năng
dự trữ.
Quá trình mệt mỏi của các VĐV thanh thiếu niên cũng phụ thuộc vào
đặc điểm lứa tuổi và được thể hiện ở hai mặt:
Thứ nhất: Trong giai đoạn mỏi mệt kĩ năng vận động nói chung cũng
như chỉ số riêng (tần số động tác, sức mạnh, sức nhanh) giảm rõ rệt.
Thứ hai: Mỏi mệt ở thanh thiếu niên xuất hiện ngay cả khi môi trường
trong của cơ thể mới chỉ có những biến đổi tương đối nhỏ.
Lứa tuổi còn ảnh hưởng đến cả tính chất của quá trình hồi phục sau vận
động. Sau các bài tập yếm khí (tốc độ) thời gian ngắn, sự phục hồi khả năng
vận động các chức năng sinh lý và dinh dưỡng xảy ra nhanh hơn. Sau các bài
tập kéo dài có tính chất phát triển sức bền, sự phục hồi diễn ra chậm hơn, điều
này thể hiện đặc biệt rõ sau các bài tập lặp lại tăng dần công suất hoặc rút
ngắn dần thời gian nghỉ giữa quãng.
1.4.Phƣơng hƣớng công tác GDTC trƣờng học trong thời kỳ đổi mới
Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác GDTC cho học sinh trong các
trường phổ thông luôn được Đảng và Nhà nước coi là một trong những mục
tiêu và nhiệm vụ hàng đầu. Do vậy, việcđịnh hướng đổi mới nâng cao chất
lượng đào tạo đội ngũ cán bộ TDTT theo hướng đáp ứng nhu cầu của xã hội;
đổi mới nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy môn GDTC trong các
trường phổ thông…đang là những vấn đề quan trọng đặt ra đối với các cơ
sởđào tạo cán bộ TDTT cũng như các trường phổ thông các cấp.
13
Hội thảo "Công tác giáo dục thể chất trường học trong giai đoạn đổi
mới" do Trường Đại học TDTT Bắc Ninh phối hợp với Vụ Công tác HSSV tổ
chức nhằm giới thiệu, trao đổi các thông tin khoa học tiêu biểu trong lĩnh vực
pháp để nâng cao chất lượng GDTC cho học sinh khối 11 nói riêng và cho
học sinh toàn trường nói chung.
15
Kết quả phỏng vấn sẽ là cơ sở để từ đó lựa chọn ra những biện pháp
phù hợp nhất nhằm nâng cao chất lượng công tác GDTC trong nhà trường.
2.2.3. Phƣơng pháp quan sát sƣ phạm
Để kết quả nghiên cứu được tốt hơn, chúng tôi sử dụng phương pháp
Quan sát sư phạm, quan sát thực tế 12 giờ học thể dục của học sinh khối 11,
Quá trình quan sát nhằm tiếp cận đối tượng nghiên cứu là nhóm thực nghiệm
và nhóm đối chứng, quan sát phương pháp giảng dạy của giáo viên, tình trạng
CSVC phục vụ công tác GDTC nhằm rút ra những thông tin thực tế, chính xác
và cần thiết trong việc đánh giá qua đólựa chọn một số giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng GDTC cho học sinh khối 11 trường THPT số 4 Văn Bàn.
2.2.4. Phƣơng pháp kiểm tra sƣ phạm
Phương pháp này nhằm đánh giá một cách chính xác chất lượng GDTC
và các biện pháp mà chúng tôi đưa ra nhằm nâng cao chất lượng GDTC cho
học sinh khối 11 trường THPT số 4 Văn Bàn thông qua các Test đã được lựa
chọn.
Quá trình kiểm tra sư phạm được ứng dụng trên cả hai nhóm thực
nghiệm và nhóm đối chứng. Kết quả kiểm tra sẽ là số liệu nhằm đánh giá hiệu
quả các biện pháp mà đề tài đã đề xuất.
2.2.5. Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm
Phương pháp thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá hiệu quả các giải
pháp đã đưa ra nhằm nâng cao chất lượng GDTC cho học sinh khối 11 trương
THPT Số 4 Văn Bàn - Lào Cai.
Thực nghiệm được tiến hành trong thời gian 2 tháng từ tháng 10/ 2014
đến tháng 12/ 2015 tại trường THPT Số 4 Văn Bàn - Lào Cai.
2
X
X A X B X B
2
A
2
nA nB 2
n 30
Công thức so sánh hai số trung bì nh: (n > 30)
t
XA XB
A2
nA
B 2 (n>30)
nB
Trong đó:
18
CHƢƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đánh giá thực trạng chất lƣợng GDTC trƣờng THPT số 4 Văn Bàn
Lào Cai
Trường THPT số 4 Văn Bàn - tỉnh Lào Cai là một trong những trường
được công nhận đạt chuẩn quốc gia ở nước ta hiện nay. Tuy là một trường
mới thành lập nên còn nhiều khó khăn về CSVC, đội ngũ cán bộ giáo viên.
Nhưng được quan tâm của các cấp lãnh đạo tỉnh, sự nỗ lực của cán bộ nhà
trường nên trường THPT Số 4 Văn Bàn đã có sự phát triển đáng kể, số lượng
và chất lượng công tác giáo dục đào tạo được tăng lên. Mặc dù chất lượng
giáo dục của nhà trường đã được tăng lên song chất lượng GDTC của nhà
trường lại là vấn đề cần phải được quan tâm nhiều hơn về môn học giáo dục
thể chất cho học sinh toàn trường. Chủ yếu ở đây là điều kiện CSVC, trang
thiết bị dụng cụ chưa đáp ứng đủ, trình độ của giáo viên thể dục của trường
còn nhiều hạn chế, học sinh chưa coi trọng và có ý thức học môn GDTC,
chính những điều nàyhưởng không nhỏ tới chất lượng công tác GDTC của
nhà trường.
Để đánh giá thực trạng công tác GDTC của trường THPT Số 4 Văn
Bàn - Lào Cai trước hết phải xác định các yếu tố chính chi phối hiệu quả công
tác GDTC và đánh giá thực trạng các yếu tố tồn tại từ đó có cơ sở nghiên cứu
và ứng dụng những biện pháp mới vào nhằm nâng cao chất lượng công tác
GDTC cho học sinh trường THPT số 4 Văn Bàn - Lào Cai.
Qua phân tích tổng hợp tư liệu lý luận và phương pháp GDTC cùng các
tài liệu khác và đánh giá thực trạng công tác GDTC của trường THPT Số 4
Văn Bàn - Lào Cai đề tài đã xác định được một số yếu tố cơ bản chi phối tới
công tác GDTC của học sinh trường THPT Số 4 Văn Bàn:
20
3.1.2. Thực trạng CSVC phục vụ cho công tác GDTC ở trƣờng THPT Số
4 Văn Bàn - Lào Cai
CSVC phục vụ tập luyện giữ một vai trò rất quan trọng, nó không thể
thiếu được trong việc nâng cao chất lượng công tác GDTC, là điều kiện trực
tiếp phục vụ cho công tác giảng dạy, tập luyện của giáo viên và học sinh.
CSVC đầy đủ thì công tác GDTC mới đảm bảo chất lượng, cụ thể sân bãi
dụng cụ tập luyện có chất lượng sẽ gây hứng thú cao cho học sinh tập luyện
và giáo viên giảng dạy. Quá trình đánh giá thực trạng CSVC phục vụ cho
công tác GDTC được thể hiện ở bảng 3.2 như sau:
Bảng 3.2. Thực trạng CSVC phục vụ công tác GDTC của trƣờng
THPT Số 4 Văn Bàn - Lào Cai
TT
CSVC
Số lƣợng
Chất liệu
Chất lƣợng
1
Sân bóng đá
01
Sân đất
Trung Quốc)
Kém
5
Đường chạy 100m
0
6
Đường chạy 400m
0
7
Đường chạy 800m
0
8
Hố nhảy xa
1
Hố cát