Câu hỏi thường gặp về tư tưởng Hồ Chí Minh - Pdf 40

HỌC TẬP
CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH.
Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam
cho hành động của Đảng ta và của Cách mạng Việt nam. Vì vậy, việc nghiên cứu,
học tập để nắm vững, vận dụng sáng tạo, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nhiệm vụ hàng đầu của mọi cán bộ, đoàn viên, thanh
niên.
Câu hỏi 1: Chủ nghĩa Mác – Lênin là gì? Tính cách mạng và khoa học của
chủ nghĩa Mác – Lênin được thể hiện ở những điểm cơ bản nào?
Trả lời: Chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết cách mạng và khoa học do Mác,
Ăngghen sáng lập, được Lênin phát triển toàn diện và nâng lên tầm cao mới, nhằm
xoá bỏ áp bức, bóc lột, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, xây dựng xã hội tốt
đẹp.
Chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết về nhận thức và cải tạo thế giới, về những quy
luật phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy con người, về sự diệt vong tất yếu của
chủ nghĩa tư bản và con đường cách mạng vô sản, lật đổ chế độ tư bản, xây dựng
chế độ XHCN tiến lên CSCN.
Chủ nghĩa Mác – Lênin được cấu thành bởi ba bộ phận cơ bản là triết học, kinh tế
chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học.
- Có thể nói vắn tắt về tính cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin trong
những điểm sau:
Đó là học thuyết duy nhất nêu lên mục tiêu, điều kiện, phương pháp giải phóng triệt
để xã hội, giải phóng giai cấp và dân tộc, giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bóc
lột và bất công...
Đó là học thuyết chỉ ra những quy luật tổng quát của sự phát triển xã hội với nội dung
triệt để, toàn diện; chỉ ra lực lượng và động lực thực hiện sự giải phóng đó đồng thời
nêu lên những định hướng phương pháp luận cho việc tiến hành sự nghiệp to lớn
này.
Bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin thể hiện trong sự thống
nhất giữa phương pháp với cấu trúc lý luận của học thuyết. Bản chất này bắt nguồn
từ phép biện chứng duy vật và tinh thần nhân đạo của giai cấp công nhân.

1. Từ những giá trị văn hóa truyền thống là tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí độc
lập, tự lực, tự cường, lòng nhân ái, đoàn kết, sự cần cù, thông minh, sáng tạo trong
lao động và tính lạc quan, yêu đời... của dân tộc.
2. Từ những tinh hoa văn hóa của phương Ðông và phương Tây trong đó có tinh hoa
của Nho giáo về triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, giúp đời; tinh hoa của văn hóa
phương Tây về dân chủ, cách mạng, tự do, bình đẳng, bác ái...
3. Từ chủ nghĩa Mác – Lênin, nguồn gốc chủ yếu tạo nên tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ
nghĩa yêu nước Việt Nam đã đưa Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác – Lênin
nhờ quá trình lăn lộn trong phong trào công nhân thế giới, trở thành một chiến sĩ xã
hội, rồi một chiến sĩ cộng sản. Dưới ánh sáng lý luận của học thuyết Mác – Lênin,
Nguyễn Ái Quốc tổng kết kinh nghiệm cách mạng thế giới và thực tiễn đấu tranh giải
phóng của dân tộc mình để tìm ra con đường cứu nước đúng đắn.
Ngoài ba nguồn gốc chủ yếu nêu trên còn cần phải nói đến những nhân tố chủ quan
thuộc về phẩm chất, tư chất, bản lĩnh, trí tuệ, tâm hồn, phong cách... được tôi luyện
trong cuộc sống, trong quá trình hoạt động cách mạng lâu dài của Hồ Chí Minh.
Câu hỏi 4: Các giai đoạn hình thành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí
Minh ra sao?
Trả lời: Có thề chia thành các giai đoạn là:
1. Giai đoạn tìm tòi, khảo nghiệm ( từ 1911 đến 1920). Trong giai đoạn này
Nguyễn Ái Quốc bôn ba qua các châu lục để tìm hiểu cuộc sống của người lao động
tại các nước tư bản, tìm hiểu các cuộc cách mạng lớn trên thế giới. Năm 1920, sau
khi nghiên cứu Luận cương của Lênin, Nguyễn Ái Quốc tán thành gia nhập Quốc tế
thứ ba, tham gia sáng lập Ðảng cộng sản Pháp. Sự kiện này đánh dấu bước chuyển
biến về chất trong tư tưởng Nguyễn Ái Quốc, từ giác ngộ dân tộc đến giác ngộ giai
cấp, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Lênin.
2. Giai đoạn hình thành cơ bản ( từ 1921 đến 1930). Ðây là giai đoạn hoạt động cực
kỳ sôi nổi của Nguyễn Ái Quốc. Người sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa, xuất bản báo
“ Người cùng khổ” ( Le Paria), hoạt động trong quốc tế cộng sản ở Matxcơva; sáng
lập ra tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội, xuất bản báo Thanh
Niên; mở lớp huấn luyện chính trị cho thanh niên trong nước ở Quảng Châu; sáng

mệnh... Ðảng có vững cách mạng mới thành công... Ðảng muốn vững thì phải có chủ
nghĩa làm cốt... Chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ
nghĩa Lênin”.
3. Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có
khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc.
4. Cách mạng giải phóng dân tộc phải được thực hiện bằng bạo lực, kết hợp
lực lượng chính trị của quần chúng với lực lượng vũ trang của nhân dân.
Tóm lại, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết Lênin về
cách mạng thuộc địa thành một hệ thống luận điểm mới, sáng tạo bao gồm chiến
lược, sách lược và phương pháp tiến hành.
Nội dung cơ bản về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam:
1. Muốn đi lên CNXH chúng ta phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài. CNXH
không thể làm mau được mà phải làm dần dần. Bác luôn căn dặn cán bộ ta phải
chống giáo điều, rập khuôn theo cách làm của nước ngoài, phải tìm con đường riêng
của mình, xuất phát từ tình hình và đặc điểm của nước ta.
2. Về động lực, bước đi và cáh thực hiện CNXH ở Việt Nam, Người chỉ rõ cách
mạng là sự nghiệp của quần chúng, tất cả đều phải của dân, do dân, vì dân; coi
trọng nhân tố con người, coi con người là yếu tố quyết định. Người rất chú trọng giáo
dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, thanh niên đồng thời cũng khuyến
khích sử dụng các đòn bẩy như khoán, thưởng, phạt... trong kinh tế.
3.Bác chủ trương từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH, coi
trọng phát triển cả công nghiệp và nông nghiệp, văn hóa, khoa học kỹ thuật tiên tiến,
trong đó coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu. Về văn hóa phải xây dựng nền văn
hóa tiên tiến với nội dung XHCN và tính dân tộc. Bác đặt ra yêu cầu sản xuất phải đi
đôi với tiết kiệm và tích cực chống tham ô, lãng phí, quan liêu, coi đó là “ giặc nội
xâm” đồng minh với giặc ngoại xâm.
4. Người đặc biệt quan tâm xây dựng Ðảng và đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn
của Ðảng đồng thời với tăng cường vai trò của Nhà nước, xây dựng Nhà nước của
dân, do dân, vì dân; tăng cường pháp chế, xây dựng xã hội có kỷ cương, trật tự,
nhân ái, đạo đức, đoàn kết giai cấp, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế.

chấp nhận “ đa nguyên, đa đảng”.
- Nhà nước Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, thể hiện khối đại
đoàn kết toàn dân trên nền tảng liên minh của giai cấp công nhân với giai cấp nông
dân và tầng lớp trí thức dưới sự lãnh đạo của Ðảng.
- Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động
của Ðảng.
- Kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng của
giai cấp công nhân.
2. Về xây dựng Ðảng trong điều kiện Ðảng cầm quyền. Người nêu rõ những
điểm cơ bản là:
- Những nguy cơ lớn mà Ðảng có thể lâm vào là sai lầm về đường lối, xa rời
quần chúng, thoái hóa, biến chất.
- Muốn lãnh đạo được xã hội, Ðảng phải tự nâng cao mình hơn nữa. Muốn xây
dựng CNXH Ðảng phải có học thức. Ðảng phải sát dân, sát thực tiễn, tôn trọng quy
luật khách quan trong xây dựng đường lối.
- Người luôn chăm lo giáo dục đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên; coi đạo đức là gốc của người cách mạng.
Trước tình hình và nhiệm vụ cách mạng hiện nay,quán triệt tư tưởng Hồ Chí
Minh coi đạo đức là gốc của người cách mạng, Nghị quyết TW 06 (lần 2, khoá VIII)
đề ra nhiệm vụ tăng cường giáo dục, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán
bộ, đảng viên. Nghị quyết đề ra yêu cầu tổ chức cho cán bộ, đảng viên trong toàn
Ðảng:
- Học, nắm vững và tổ chức thực hiện nghiêm túc Pháp lệnh cán bộ, công
chức, Pháp lệnh chống tham nhũng, Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí,
Luật khiếu nại, tố cáo.
- Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, quy chế tiếp dân, chế độ công khai tài
chính.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status