TIỂU LUẬN tập TRUNG dân CHỦ, NGUYÊN tắc tổ CHỨC cơ bản của ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM ý NGHĨA đối với CÔNG tác xây DỰNG, CHỈNH đốn ĐẢNG HIỆN NAY - Pdf 40

1
TẬP TRUNG DÂN CHỦ - NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC CƠ BẢN CỦA
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM - Ý NGHĨA ĐỐI VỚI CÔNG TÁC
XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG HIỆN NAY
Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam do
Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam sáng lập, giáo dục và
rèn luyện. Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn trung thành tuyệt đối với những
nguyên lý cơ bản của học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng
Đảng, vận dụng sáng tạo những nguyên lý đó vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của
cách mạng Việt Nam để xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ
chức, đảm bảo cho Đảng luôn có đủ sức mạnh lãnh đạo cách mạng vượt qua mọi
khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến
thắng lợi khác.
Trong các nguyên lý về xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân,
Đảng ta đặc biệt quan tâm đến việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Đây
là nguyên tắc cơ bản chỉ đạo xây dựng tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng.
Cùng với xây dựng Đảng về chính trị và tư tưởng, nguyên tắc tập trung dân chủ
bảo đảm tăng cường sự đoàn kết nhất trí trong nội bộ Đảng, làm cho Đảng trở
thành một đội ngũ có kỷ luật chặt chẽ, có sức chiến đấu cao, phát huy tính chủ
động, sáng tạo của các tổ chức Đảng và đảng viên. Chính vì vậy, ngay từ khi ra
đời, nguyên tắc tập trung dân chủ luôn luôn là mục tiêu tấn công của kẻ thù hòng
phá vỡ sự đoàn kết thống nhất của Đảng, làm tan rã, phân liệt Đảng về mặt tổ
chức. Những năm gần đây, cùng với việc tấn công vào chủ nghĩa Mác - Lênin, cơ
sở tư tưởng của Đảng. Chúng cũng tấn công quyết liệt vào nguyên tắc tập trung
dân chủ, cơ sở tổ chức của Đảng. Chúng cho rằng các Đảng Cộng sản là chuyên
quyền, độc tài; ra sức cổ xuý, tán dương, kích động các đảng thực hiện đa nguyên
chính trị, dân chủ cực đoan. Chúng lên án nguyên tắc tập trung dân chủ, đòi xoá
bỏ nguyên tắc này. Chúng cho rằng, nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên nhân
gây ra độc đoán, chuyên quyền, nếu thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong
Đảng và trong xã hội sẽ không có dân chủ, không có nhân đạo...



1

C. Mác và Ph. Ăngghen, toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 1993, T.7, tr. 342-343.


3
do của địa phương. Việc thực hiện chế độ trung ương tập quyền hết sức chặt chẽ
là nhiệm vụ của một Đảng cách mạng chân chính”2.
Trong hoạt động thực tiễn, C. Mác và Ph. Ăngghen đã nêu cao tấm gương
đấu tranh có tính nguyên tắc để củng cố sự thống nhất về tư tưởng và tổ chức của
các tổ chức vô sản, kiên quyết chống bọn cơ hội, xét laị và những người không
tôn trọng, chấp hành kỷ luật của Đảng. Tại Hội nghị Luân Đôn của quốc tế thứ
nhất, hai ông đã khai trừ Bacunin, một kẻ cơ hội, vô chính phủ, mưu toan biến
Đảng thành một tổ chức bí mật, hẹp hòi của những người đầy âm mưu.
Trong điều kiện lịch sử mới, kế tục sự nghiệp của C.Mác và Ph. Ăngghen
V. I. Lênin đã xây dựng, luận chứng và áp dụng nguyên tắc tập trung dân chủ làm
nguyên tắc tất yếu trong xây dựng và hoạt động của đảng cách mạng của giai cấp
công nhân. Thuật ngữ “tập trung dân chủ” được nêu lên lần đầu tiên với tích cách
là một nguyên tắc chính thức, nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng tại Hội nghị
Tammécpho của những người Bônsêvích (1905). Nghị quyết nêu rõ: Thừa nhận
nguyên tắc tập trung dân chủ là một nguyên tắc không thể tranh cãi được và cần
phải thực hiện nguyên tắc bầu cử rộng rãi các trung tâm lãnh đạo. Các cơ quan
này có đủ mọi quyền hạn trong việc lãnh đạo tư tưởng, thực tiễn. Các cơ quan đó
phải báo cáo các hoạt động của mình một cách thật công khai, chặt chẽ và có thể
bị bãi miễn. Nguyên tắc tập trung dân chủ được chính thức đưa vào Điều lệ trong
Đại hội IV của Đảng (1906) đã khẳng định: “Tất cả các tổ chức Đảng đều được
xây dựng trên nguyên tắc tập trung dân chủ” 3. Đến Đại hội VIII (1919) khẳng
định nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc chỉ đạo kết cấu tổ chức của Đảng
từ nay về sau.

mạnh: “Sức mạnh của giai cấp công nhân là ở tổ chức. Không tổ chức quần
chúng thì giai cấp vô sản không là cái gì hết. Được tổ chức giai cấp vô sản sẽ là
tất cả”6.
Sau khi nội chiến kết thúc, Đảng Bônsêvích Nga đã chủ trương không
ngừng phát triển dân chủ trong Đảng. Đại hội X của Đảng (1921) là cái mốc đánh
dấu quá trình dân chủ trong Đảng, V. I. Lênin chủ trương khi điều kiện chính trị
cho phép thực hiện chế độ bầu cử trong Đảng là vô điều kiện và nói bênh vực chế
độ tập trung trong Đảng chúng ta chỉ bênh vực chế độ tập trung dân chủ mà thôi.
Người nhấn mạnh: “Giai cấp vô sản có thể thực hiện một cách đúng đắn vai trò tổ
chức của nó (và đó là vai trò chính của nó) một cách có kết quả và thắng lợi thì
chính đảng của giai cấp vô sản phải thực hiện được trong nội bộ của mình, một
chế độ tập trung chặt chẽ và một kỷ luật nghiêm ngặt... Kẻ nào làm yếu dù chỉ là
một chút ít - kỷ luật sắt trong đảng của giai cấp vô sản... là thực tế giúp cho giai
5
6

V. I. Lênin, toàn tập, Nxb tiến bộ Mát xcơva, 1977, T. 41, tr. 34.
V. I. Lênin, toàn tập, Nxb tiến bộ Mát xcơva, 1980, T. 14, tr. 163.


5
cấp tư sản chống lại giai cấp vô sản”7. V. I. Lênin cho rằng, kẻ nào từ chối không
chịu phục tùng kỷ luật Đảng, làm yếu kỷ luật Đảng “tức là từ chối không muốn
làm đảng viên, tức là phá hoại Đảng”8.
Tư tưởng về tập trung dân chủ của C. Mác - Ph. Ăngghen và V. I. Lênin
trở thành nguyên tắc nền móng cho việc xây dựng Đảng ở Nga và được các Đảng
trong Quốc tế III thừa nhận. Một điều kiện quan trọng để ra nhập Quốc tế III là
Đảng phải được xây dựng theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Không tuân thủ
nguyên tắc này thì không còn là một Đảng mácxít nữa.
Là người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng ta, Hồ Chí Minh luôn trung

Trong báo cáo Chính trị trình bày tại Đại hội II của Đảng (2/1951), khi bàn
về các vấn đề cơ bản đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt
Nam, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Về tổ chức, Đảng Lao động Việt Nam theo chế độ
dân chủ tập trung”11. Nhưng bản chất của nguyên tắc tập trung dân chủ được Hồ
Chí Minh luận giải toàn diện nhất trong cuốn “Thường thức chính trị” (1953). Tại
đó, Người dành một mục để nói về chế độ dân chủ tập trung của Đảng và khẳng
định: “Toàn thể đảng viên, toàn thể các cấp, tổ chức thống nhất lại theo một
nguyên tắc nhất định. Nguyên tắc ấy tức là dân chủ tập trung” 12. Như vậy, tập
trung dân chủ là nguyên tắc chỉ đạo toàn bộ công tác tổ chức, sinh hoạt và hoạt
động của Đảng, là nguyên tắc cơ bản nhất có ý nghĩa sống còn của Đảng.
Ở Hồ Chí Minh, trong tên gọi có sự khác biệt: Có khi là nguyên tắc dân
chủ tập trung, có khi là chế độ dân chủ tập trung; có khi lại là nguyên tắc tập trung
dân chủ, nhưng quan điểm của Người về nội dung và bản chất của nguyên tắc này
là nhất quán, thống nhất, đó là mối liên hệ, tác động chi phối làm tiền đề cho
nhau, thống nhất biện chứng giữa hai mặt tập trung và dân chủ trong một cấu trúc
chỉnh thể thống nhất của nguyên tắc: “Tập trung trên cơ sở dân chủ” và “dân chủ
dưới sự chỉ đạo của tập trung”. Điều đó cũng có nghĩa là trong từng yếu tố “dân
chủ” và “tập trung” đã có một sự hoà quyện, chuyển hoá tương ứng, “tập trung”
không hề mâu thuẫn với “dân chủ” mà nó thống nhất, tác động qua lại với nhau.
Có dân chủ trong Đảng mới có dân chủ trong xã hội. Song, dân chủ không có
nghĩa là vô chính phủ. Trong khi chỉ đạo thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ,
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng yếu tố tập trung, kỷ luật thống nhất; đồng thời
nhấn mạnh phát triển dân chủ nội bộ Đảng. Người cho rằng bản chất của chế độ
ta là dân chủ, “dân chủ là cái quý nhất của nhân dân” do đó cũng là cái quý nhất
của mỗi đảng viên. Nếu thực hành dân chủ nội bộ tốt sẽ làm cho Đảng phát huy
và tập trung được trí tuệ, tạo nên bầu không khí cởi mở, tin tưởng lẫn nhau, làm
cho Đảng thoát khỏi tình trạng thiếu đoàn kết - một nhân tố làm suy yếu sức
mạnh của Đảng. Mở rộng dân chủ còn chống được tệ độc đoán, chuyên quyền
trong Đảng. Hồ Chí Minh là một hiện thân của dân chủ và gương mẫu thực hành
11

thiết lập các cơ quan lãnh đạo của Đảng, tổ chức bộ máy của Đảng làm cho Đảng
trở thành một chỉnh thể đồng bộ, thống nhất có tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm
minh, đoàn kết thống nhất từ Trung ương đến cơ sở.
Nguyên tắc tập trung dân chủ quy định các chế độ để chỉ đạo việc giải
quyết các mối quan hệ trong nội bộ Đảng. Đó là mối quan hệ tập thể lãnh đạo, cá
nhân phụ trách, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới thực hiện vô điều kiện nghị
13

Đảng Cộng sản Việt nam, văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 130.


8
quyết của cấp trên. Giữa cá nhân với tổ chức, giữa địa phương với Trung ương…
giải quyết tốt các mối quan hệ đó thì mọi đường lối, chủ trương, chính sách, chỉ
thị của Đảng được thực hiện một cách triệt để, nhanh chóng và chính xác, tránh
được tình trạng “trên phát” nhưng “dưới không động” dưới làm nhưng trên không
biết, ỷ lại trông chờ vào trên hay “khoán trắng” cho cấp dưới, công việc không
biết giao cho ai “nhiều sãi không ai đóng cửa chùa”. Như vậy, hiệu quả lãnh đạo,
chỉ đạo sẽ bị hạn chế. Thực hiện tốt tập trung dân chủ sẽ bảo đảm cho Đảng là
một “guồng máy” chặt chẽ, thống nhất, có kỷ luật tự giác, nghiêm minh.
Nguyên tắc tập trung dân chủ quy định các nguyên tắc, chế độ trong sinh
hoạt Đảng và phương pháp tác phong lãnh đạo của Đảng, bảo đảm cho Đảng vừa
giữ vững được nguyên tắc, vừa phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo
của mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng, vừa tập trung được trí tuệ và sức
mạnh của toàn Đảng.
Nghị quyết Trung ương sáu (lần 2) khoá VIII nhấn mạnh: “Giữ vững chế
độ sinh hoạt định kỳ của các tổ chức Đảng, mở rộng dân chủ, khuyến khích tranh
luận thẳng thắn; tôn trọng, tập hợp và xem xét để tiếp thu ý kiến đúng đắn của các
cấp uỷ viên và đảng viên trước khi quyết định… Khi có ý kiến khác nhau phải
thảo luận kỹ, đối với những vấn đề quan trọng phải biểu quyết, khi cần, phải điều

đúng đắn, sáng tạo và kiên trì thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong mọi
giai đoạn của cách mạng, lúc thuận lợi cũng như lúc khó khăn, thời bình cũng
như thời chiến, khi chưa có chính quyền cũng như khi đã có chính quyền… Trong
mọi điều kiện, Đảng ta luôn luôn là một khối đoàn kết thống nhất về ý chí và
hành động, thực sự là một chỉnh thể có tổ chức, đủ sức lãnh đạo cách mạng Việt
Nam giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Hiện nay, Đảng ta là Đảng cầm quyền lãnh đạo công cuộc đổi mới, đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong điều kiện tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, thời cơ và thách
thức đan xen nhau, nhiệm vụ chính trị của Đảng cũng có những bước phát triển
mới, song Đảng ta vẫn vững vàng lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi công
cuộc đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thắng lợi trong sự nghiệp lãnh đạo của
Đảng. Nguyên nhân cơ bản là Đảng ta đã trung thành, vận dụng sáng tạo nguyên


10
tắc tập trung dân chủ trong công tác xây dựng Đảng, không dao động, chao đảo trước diễn biến phức tạp của tình hình thế giới.
Những thành quả mà phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế đã mang
lại, bắt đầu từ cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại đã mở ra một thời đại mới cho
lịch sử nhân loại, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên
phạm vi thế giới, đẩy lùi chủ nghĩa phát xít và từng bước thu hẹp phạm vi của chủ
nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc. Nhưng, trong quá trình cải tổ, cải cách, đổi
mới, trước sự tấn công phá hoại của kẻ thù, các Đảng Cộng sản cầm quyền ở Liên
Xô và Đông Âu đã mắc sai lầm về đường lối, phủ nhận những nguyên lý của chủ
nghĩa Mác - Lênin, từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, xa rời quần chúng,… rơi
vào cái bẫy “dân chủ hoá, công khai hoá” và “đa nguyên, đa đảng”, làm rối loạn
và đi đến làm cho Đảng tan rã nhanh chóng và mất dân chủ. Đây là một trong
những nguyên nhân dẫn đến sự khủng hoảng, phân liệt của hệ thống xã hội chủ

Trung ương.
5. Nghị quyết của các cơ quan lãnh đạo của Đảng chỉ có giá trị thi hành khi
có hơn một nửa số thành viên trong cơ quan đó tán thành. Trước khi biểu quyết,
mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình. Đảng viên có ý kiến thuộc về
thiểu số được quyền bảo lưu và báo cáo lên cấp uỷ cấp trên cho đến Đại hội đại
biểu toàn quốc, song phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết không được truyền
bá ý kiến trái với nghị quyết của Đảng. Cấp uỷ có thẩm quyền nghiên cứu xem
xét ý kiến đó; không phân biệt đối xử với đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số.
6. Tổ chức Đảng quyết định các vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của
mình, song không được trái với nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên”14.
Ở những Đảng khác nhau, ở các giai đoạn lịch sử khác nhau, tuỳ theo điều
kiện cụ thể và những nhiệm vụ đặt ra cho Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ
được thực hiện theo những cách khác nhau. Nhưng có một điều chung là khi
Đảng trở thành Đảng cầm quyền việc ngày càng phát triển dân chủ trong nội bộ
Đảng về chiều sâu và chiều rộng gắn liền với việc củng cố, tập trung và kỷ luật
của Đảng là một xu hướng chủ yếu.

14

Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam. Nxb CTQG, H, 2006, tr. 15 - 18.


12
Bản chất của nguyên tắc tập trung dân chủ phản ánh thuộc tính bản chất
của giai cấp công nhân. Như chính bản thân công thức đã chỉ rõ, tập trung dân
chủ thể hiện sự thống nhất của hai thành tố tập trung và dân chủ. Sự thống nhất đó
không phải là ngẫu nhiên. Nó được quy định bởi những nhân tố khách quan của
cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản giành quyền thống trị về chính trị
và bởi việc Đảng của giai cấp công nhân cần phải lãnh đạo cuộc đấu tranh đó và

một tinh thần kỷ luật tối đa, phải hết sức giữ bí mật, phải có tinh thần chấp hành
cao. Trong điều kiện Đảng cách mạng của giai cấp vô sản hoạt động công khai,
nó cũng thường xuyên phải chịu sự tác động của những giai cấp và những thế lực
chống đối, những phần tử bất mãn, lạc hậu, khi đó chỉ có một tổ chức tập trung
đoàn kết vững chắc, được tôi luyện về tư tưởng mới có thể đối chọi lại lực lượng
đó để thực hiện mục tiêu đề ra. Sau khi đã giành được chính quyền, Đảng Cộng
sản rất cần đến nguyên tắc tập trung dân chủ. Đảng phải gánh vác những nhiệm
vụ hết sức khó khăn và phức tạp: xây dựng lại xã hội, xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật của chủ nghĩa xã hội, hoàn thiện những quan hệ xã hội, hình thành con
người mới. Chỉ có một đảng thống nhất, đoàn kết, có tổ chức và kỷ luật, mới có
thể thực hiện được vai trò là đội tiên phong chính trị có tổ chức của giai cấp công
nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc trong sự nghiệp cải tạo xã hội cũ, xây dựng
xã hội mới.
Đảng là một tổ chức chính trị tự nguyện, độc lập. Sức mạnh của Đảng là do
tính tích cực, tự giác của đảng viên. Chỉ khi nào đảng viên tự thảo luận và giải
quyết tất cả mọi vấn đề, kể cả việc hình thành các cơ quan lãnh đạo của họ, thì
tính tích cực của đảng viên Cộng sản mới có thể được phát huy. Chỉ khi dân chủ
trong Đảng được thực hiện tốt thì mới có thể giáo dục đảng viên Cộng sản trở
thành những chiến sỹ tiên phong của Đảng.
Đảng của giai cấp công nhân cần có dân chủ không phải chỉ để tổ chức
đúng đắn sinh hoạt nội bộ của Đảng và hoạt động bình thường với tư cách là một
tổ chức xã hội độc lập. Là một tổ chức dân chủ, Đảng mới có thể tranh thủ được
nhân dân lao động, lãnh đạo và dẫn dắt họ thực hiện những nhiệm vụ cách mạng,
cải tạo xã hội. Quần chúng ngày càng tín nhiệm Đảng nhiều hơn khi họ thấy rằng
trong việc sinh hoạt nội bộ, bản thân Đảng cũng nghiêm chỉnh tuân theo những
tiêu chuẩn dân chủ.


14
Nếu vấn đề dân chủ trong Đảng đã đặc biệt quan trọng trong thời kỳ đấu

15
tập trung, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách tức là dân chủ, tập trung…” 15, nó
khác với dân chủ tràn lan, không giới hạn, dân chủ hình thức. Dân chủ có sự bảo
đảm của tập trung là dân chủ có tổ chức, trong tổ chức chứ không phải là vô tổ
chức, là dân chủ có tính định hướng rõ ràng. Dân chủ dựa trên sự bình đẳng,
thống nhất mục tiêu, lợi ích khác với dân chủ dựa trên sự bất công, bất bình đẳng
mang bản chất của chế độ áp bức bóc lột. Dân chủ trong Đảng là dân chủ thuộc
về đa số buộc thiểu số phải phục tùng nhằm để xoá bỏ chế độ bóc lột, khác với
dân chủ chỉ thực sự với tầng lớp quý tộc, với giai cấp tư sản chiếm thiểu số trong
xã hội còn đối với quần chúng nhân dân lao động thì chỉ là hình thức. Dân chủ có
sự bảo đảm của tập trung nhằm tạo ra sức mạnh bằng sự đoàn kết, tập trung,
thống nhất, hoàn toàn khác với dân chủ vô chính phủ, vô tổ chức tạo ra sự chia rẽ,
bè phái, bản vị cục bộ địa phương, phá vỡ sự đoàn kết tập trung, thống nhất trong
Đảng.
Nguyên tắc tập trung dân chủ là sự kết hợp hài hoà giữa hai mặt tập trung
và dân chủ. Cả hai mặt tập trung và dân chủ tạo thành chỉnh thể thống nhất của
một nguyên tắc. Dân chủ là điều kiện, là tiền đề của tập trung, cũng như tập trung
là cơ sở, là cái bảo đảm cho dân chủ được thực hiện. Thực hiện và phát huy dân
chủ trong Đảng phải gắn liền với giữ vững, tăng cường tập trung và ngược lại.
Trên cơ sở thống nhất và tác động biện chứng giữa hai yếu tố đó thì dân chủ ngày
càng phát triển, tập trung càng vững chắc. Nhận thức và thực hiện đúng nguyên
tắc tập trung dân chủ sẽ phát huy và làm tăng cường sức mạnh của Đảng. Khi tập
trung trên cơ sở dân chủ thì càng thúc đẩy, cổ vũ cho dân chủ có chất lượng hơn.
Còn dân chủ hướng tới tập trung, đi tới sự thống nhất thì dân chủ thực sự có mục
đích, có chất lượng. Nếu tập trung cao mà dân chủ bị hạn chế tức là tập trung
không dựa trên cơ sở dân chủ, đó là tập trung quan liêu, hình thức. Ngược lại, nếu
mở rộng dân chủ mà không hướng tới sự tập trung là dân chủ vô tổ chức, vô kỷ
luật, dân chủ phường hội chứ không phải dân chủ theo nguyên tắc của Đảng, do
đó cũng không bảo đảm dân chủ.


nguyên tắc “tập trung” và “dân chủ”, đó là sự gán ghép hai yếu tố có xu hướng
đối lập nhau, từ đó quy kết bản chất của Đảng ta là thiếu tập trung thống nhất, lẫn
lộn giữa tập trung trên cơ sở dân chủ với tập trung quan liêu, giữa dân chủ có lãnh
đạo với dân chủ vô tổ chức, vô chính phủ.

16

V. I. Lênin, toàn tập, Nxb tiến bộ Mát xcơva, 1980, T. 27, tr. 91.


17
Chúng ta cũng phê phán quan điểm cho rằng tập trung là “danh từ” dân chủ
là “tính từ”. Từ đó tuyệt đối hoá “danh từ” tập trung, tầm thường hoá “tính từ”
dân chủ, hay cho rằng tập trung là mục đích, dân chủ là phương tiện, cốt là đạt
mục đích còn phương tiện nào cũng được. Tư tưởng đó dẫn đến hình thức tập
trung quan liêu, phi dân chủ trái với bản chất của nguyên tắc tập trung dân chủ.
Một số người lập luận cho rằng, nguyên tắc tập trung dân chủ chỉ đúng và thích
hợp với hoạt động của Đảng trong điều kiện Đảng hoạt động bí mật, hoặc trong
thời kỳ chiến tranh. Trong hoàn cảnh đó phải có kỷ luật chặt chẽ, phải có tập
trung thống nhất cao độ, còn trong điều kiện hoà bình xây dựng, kẻ thù không
còn, nhân dân làm chủ, cần gì phải thực hiện chế độ tập trung, kỷ luật và chuyên
chính (?). Lúc này mà thực hiện tập trung là không thức thời, là vi phạm dân chủ,
là tạo điều kiện để quay về chế độ phong kiến chuyên quyền (!)… và còn nhiều
trào lưu tư tưởng chống đối khác. Tất cả những quan điểm trên đây đều là sai trái,
thực chất là hạ thấp, phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ để đi tới phủ nhận vai
trò lãnh đạo của Đảng. Đây còn là một trong những thủ đoạn “diễn biến hoà bình”
của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống chủ nghĩa xã hội. Vì vậy,
chúng ta phải hết sức cảnh giác.
Bảo vệ, tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ là đòi hỏi khách quan đối
với các Đảng Cộng sản nói chung, Đảng ta nói riêng, nhất là trong tình hình hiện

rộng” trong văn hoá, văn nghệ, tổ chức “hội thảo chính trị”…), không xử lý êm
thấm tình trạng mất đoàn kết nghiêm trọng ở một số tỉnh uỷ, khó thực hiện suôn
sẻ việc chuyển giao quyền lực giữa các thế hệ cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng
và Nhà nước, vv…
Trong quá trình vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ, đặc biệt từ Đại hội
VIII đến nay, Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, nhiều cấp uỷ và tổ chức
Đảng ở các cấp đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện nguyên tắc; tăng cường
hơn chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; chế độ kiểm điểm công tác theo
định kỳ; tiến hành kiểm tra, phát hiện và xử lý nhiều vụ vi phạm kỷ luật Đảng,
pháp luật Nhà nước, bảo đảm sự đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng, góp phần
thực hiện có kết quả các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng… mà nghị
quyết Đại hội Đảng các cấp đã đề ra đã coi trọng cụ thể hoá và thực hiện nguyên
tắc tập trung dân chủ, thực hành dân chủ trong tập thể lãnh đạo khi thảo luận và ra
17

Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb chính trị quốc gia Hà Nội, 1996,T3, tr 27.


19
quyết định; xây dựng và thực hiện các quy chế theo hướng mở rộng dân chủ,
công khai, minh bạch.
Những chuyển biến tiến bộ về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ được
Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII cụ thể như: đã thực hiện dân chủ
trong xây dựng và ban hành các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng,
Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước. Mọi chủ trương, đường lối, nghị quyết của
Đảng đều được thảo luận, lấy ý kiến của đảng viên và tổ chức đảng từ cơ sở lên.
Sinh hoạt của các cấp uỷ và tổ chức đảng được tiến hành dân chủ, cởi mở hơn,
các cấp uỷ viên mạnh dạn trình bày ý kiến của riêng mình; tăng cường các hình
thức giao ban, hội nghị chuyên đề, hội thảo, tiếp xúc trực tiếp giữa cán bộ chủ
chốt với đảng viên và nhân dân. Việc thực hiện dân chủ trực tiếp và dân chủ đại

đầu, thực chất là tập trung quan liêu, độc đoán, gia trưởng. Do dân chủ hình thức
nên không phát huy được vai trò năng động, sáng tạo và trí tuệ của cán bộ, đảng
viên làm cho đảng viên không muốn đóng góp ý kiến, ngại đấu tranh, khi quá bất
bình thì viết thư nặc danh, mạo danh hoặc lôi kéo, bày cho quần chúng đấu
tranh… Đúng như đánh giá của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã nêu: “tập
trung dân chủ - nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng đang bị vi phạm. Một số cán
bộ và cấp uỷ chưa tôn trọng và thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ. Có
vấn đề chỗ này, chỗ khác chế độ tập trung đang bị suy yếu. Tình trạng hiện nay là
dân chủ trong Đảng còn nhiều hạn chế. Sự tập trung quá mức tách khỏi cơ sở dân
chủ là một trong những nguyên nhân phát triển bệnh quan liêu. Sức mạnh là ở chế
độ tập trung, tập trung càng cao thì sức chiến đấu càng mạnh, nhưng đó phải là
tập trung trên cơ sở dân chủ. Thiếu dân chủ trong Đảng sẽ làm cho đảng viên trở
nên thụ động, mất dần vai trò làm chủ, mất dần tính tự giác sáng tạo, tạo “mảnh
đất tốt” cho tệ quan liêu ở một bộ phận trong Đảng”18. Về chấp hành kỷ luật trong
Đảng, nghị quyết chỉ rõ: “Việc tổ chức thực hiện nghị quyết, chủ trương chính
sách của Đảng chưa tốt; kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm. Tình trạng tuỳ tiện thiếu
ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm, không chấp hành chỉ thị, nghị
quyết của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước, báo cáo không trung thực,
vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, làm cho một số nghị quyết của Đảng khó
đi vào cuộc sống”19.
18
19

QĐND. Các chuyên đề nghiên cứu quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng IX, Nxb QĐND, H. 2001, tr 61.
ĐCSVN, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H, 2001, tr 76.


21
Nghị quyết Trung ương sáu (lần 2) khoá VIII đã chỉ ra những biểu hiện vi
phạm đáng chú ý là:

Cương lĩnh, Điều lệ và nghị quyết của Đảng đang phát triển trong một số cán bộ,
đảng viên, kể cả một số cán bộ có quá trình tham gia cách mạng lâu năm”20.
Đặc biệt nghiêm trọng là một số cấp uỷ địa phương, cơ sở, nhân danh tập
thể ra nghị quyết trái với nghị quyết cấp trên, vi phạm chính sách, pháp luật của
Nhà nước hoặc không đúng thẩm quyền. Không ít nơi bí thư vượt quyền thường
trực, thường trực vượt quyền thường vụ, thường vụ vượt quyền ban chấp hành.
Một tình trạng khá phổ biến là quan hệ phục tùng một chiều: cấp trên chỉ thị cho
cấp dưới; cấp dưới phục tùng cấp trên mà không có điều kiện để đề đạt ý kiến của
mình một cách có hiệu quả. Có một số trường hợp cấp trên để cấp dưới đề đạt ý
kiến hoặc lấy ý kiến cấp dưới, nhưng đó cũng chỉ là hình thức vì mọi chủ trương
đã được quyết định từ trước rồi. Không ít trường hợp cấp dưới đã quyết định một
vấn đề, nhưng cấp trên có ý kiến khác đi, cho dù ý kiến đó chưa được nghiên cứu
kỹ, cấp dưới cũng đành thay đổi theo, không dám có ý kiến lại. Một biểu hiện nữa
thường thấy là khi đại biểu cấp trên đến dự sinh hoạt hay thăm cấp dưới thì can
thiệp quá sâu vào những công việc lẽ ra phải để cho cấp dưới quyết định.
Trong điều hành có cả tình trạng né tránh trách nhiệm, dựa dẫm tập thể,
thiếu quyết đoán, trách nhiệm không rõ ràng, kể cả sự độc đoán, lạm dụng quyền
hành người lãnh đạo. Hậu quả tuỳ thuộc vào tinh thần trách nhiệm và tương quan
về năng lực của người đứng đầu với tập thể lãnh đạo. Cán bộ chính quyền, đoàn
thể tham gia cấp uỷ chưa phát huy hết vai trò, nặng về cơ cấu, không đáp ứng
được yêu cầu công tác Đảng, sự lãnh đạo chung của cấp uỷ.
Trong công tác tổ chức - cán bộ, cơ chế và cách làm chưa cho phép phát
hiện kịp thời, chính xác các cán bộ có năng lực và triển vọng để đưa vào cơ quan
lãnh đạo, thay thế cán bộ hạn chế về năng lực và uy tín, mặc dù không có sai
phạm đến mức phải xử lý.
Một số không ít cán bộ lãnh đạo, quản lý không tự giác, khép mình vào kỷ
luật của tổ chức Đảng, độc đoán, chuyên quyền, sống xa dân, thiếu trách nhiệm
trong công việc, nặng về chủ nghĩa thành tích, báo cáo không đúng sự thật, tư
tưởng cá nhân, kèn cựa địa vị nặng nề, gây ra mất đoàn kết nội bộ. Nhiều đảng
Ban tư tưởng văn hóa TƯ, Tài liệunghiên cứu Nghị quyết Hội nghị BCHTW lần thứ sáu (lần 2), khóa

đạo cơ sở, năng lực thực hành dân chủ, thống nhất, đoàn kết trong Đảng.
Mặt khác, nước ta chìm trong xã hội phong kiến quá lâu, nên sự ảnh hưởng
của chủ nghĩa phong kiến chuyên chế và chế độ gia trưởng còn nặng nề, truyền
thống dân chủ chưa có, đó chính là nguyên nhân lịch sử sâu sắc, hạn chế triển
khai trên thực tế nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng.


24
Do trình độ dân trí, trình độ cán bộ thấp, bản thân nguyên tắc tập trung dân
chủ lại có biểu hiện phong phú, phức tạp, đòi hỏi phải thích ứng nhanh với những
biến đổi của tình hình, trong lãnh đaọ bộc lộ sự yếu kém, thụ động, đối phó vận
dụng nguyên tắc một cách không toàn diện dẫn đến sai phạm. Một số quy định,
quy chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ ở giai đoạn trước, nay đã lạc hậu,
chậm được nghiên cứu bổ sung sửa đổi cho phù hợp với tình hình và yêu cầu
mới.
Việc tổng kết thực tiễn về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ chưa
thường xuyên và nghiêm túc. Chưa có những quy định cụ thể, cần thiết mang tính
pháp quy phù hợp với từng lĩnh vực, từng ngành, từng cấp, từng nơi.
Nguyên nhân chủ quan:
Về mặt lý luận, nhiều cán bộ, đảng viên chưa làm rõ bản chất, nội dung của
nguyên tắc, phê phán các nhận thức lệch lạc, giản đơn. Trong vấn đề này, công
tác lý luận tỏ ra tụt hậu, không có tác dụng soi sáng, góp phần giải quyết nhiều
khía cạnh mới mà cuộc sống đặt ra.
Về nhận thức, cấp uỷ và lãnh đạo ở một số đơn vị cũng như nhiều cán bộ,
đảng viên chưa nắm vững được tinh thần cơ bản của nguyên tắc tập trung dân
chủ, thiếu tôn trọng nó. Việc xây dựng quy chế làm việc còn hình thức, xác định
chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác giữa cấp uỷ và lãnh đạo đơn vị không
rõ ràng, dẫn đến tình trạng chồng chéo, bị động và không phát huy được vai trò
của tổ chức Đảng.
Chủ nghĩa cá nhân thực dụng, ích kỷ vụ lợi đang có chiều hướng phát triển,

gương mẫu, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ của đơn vị. Tuy nhiên, việc thực
hiện nguyên tắc tập trung dân chủ còn có biểu hiện dân chủ hình thức, đề cao uy
quyền cá nhân. Nhận thức về nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số tổ chức đảng,
một số cán bộ, đảng viên chưa sâu sắc, giải quyết các mối quan hệ trong nội bộ
Đảng có lúc, có nơi còn chồng chéo. Chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, tập
thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách chưa nghiêm, tinh thần đấu tranh tự phê bình, phê
bình còn yếu. Biểu hiện cụ thể là:
Giải quyết mối quan hệ giữa bí thư với thường vụ, cấp uỷ với chỉ huy chưa
tốt. Quan hệ trên dưới thiếu gắn bó chặt chẽ. Ở một số nơi có biểu hiện chủ yếu
hướng lên trên, chỉ lo đối phó giải quyết mối quan hệ với cấp trên, thiếu quan tâm
đến cấp dưới; lãnh đạo tổ chức thực hiện thiếu cụ thể, chưa phát huy được sức



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status