BÀI THẢO LUẬN MÔN:
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Nhóm 5
Đề tài:
Tìm hiểu về hoạt động phát hành cổ
phiếu lần đầu ra công chúng
LỜI MỞ ĐẦU
Phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng gọi tắt là IPO (Initial Public Offering) của một
doanh nghiệp trong nền kinh tế là vấn đề được quan tâm rất nhiều trong các nghiên cứu lý thuyết.
Quá trình tiến hành IPO trong thực tiễn của các thị trường tài chính phát triển luôn nảy sinh
những vấn đề mới. Vì vậy, quy trình phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng, thời điểm phát
hàng, vấn đề định giá cổ phiếu cũng như các hiệu ứng của IPO đối với doanh nghiệp phát hàng,
nhà đầu tư và nền kinh tế là các chủ đề rất được quan tâm trong khoa học tài chính.
Thị trường tài chính Việt Nam trong những năm gần đây đac chứng kiến 1 làn sóng IPO lớn
của các doanh nghiệp. Làn sóng này đã mang lại một khối lượng hàng hóa lớn cho thị trường
giúp cho thị trường mở rộng quy mô và phát triển. Các doanh nghiệp quyết định trở thành công
ty đại chúng có khả năng tiếp cận với một nguồn vốn lớn để huy động cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của mình. Nhưng thời gian vừa qua cũng cho thấy những vấn đề bất cập trong quá
trình IPO của Việt Nam như việc định giá của thị trường quá cao, việc xác định mức giá khời
điểm là 1 khó khăn đối với những nhà tư vấn phát hành cũng như việc theo dõi thông tin sử dụng
vốn sau IPO của doanh nghiệp chưa được đặt ra trong quy trình IPO. Việc định giá quá cao và sử
dụng thặng dư vốn sau IPO của doanh nghiệp chưa được đặt ra trong quy trình IPO. Việc định
giá quá cao và sử dụng thặng dư vốn đầu tư ngược trở lại TTCK đã dẫn đến hiện tượng luồng
vốn IPO không luân chuyển trong nền kinh tế đến nơi cần nó để sản xuất kinh doanh. Hệ quả
lượng vốn đầu tư đã không sinh lời như mong muốn ban đầu của các nhà đầu tư khi mua các cổ
phiếu của các doanh nghiệp IPO. Sự sụt giảm của thị trường trong thời gian gần đây có 1 phần
nguyên nhân không nhỏ do quy trình IPO và theo dõi sau IPO của doanh nghiệp đã không được
xem xét 1 cách khoa học vào thời điểm định giá IPO. Chính vì vậy vấn đề nghiên cứu về IPO là
yêu cầu cấp thiết đối với TCCK Việt Nam. Điều đó giúp cho thị trường phát triển ổn định và tạo
chức bảo lãnh phát hành.
Để được phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng, doanh nghiệp phải gửi hồ sơ xin phép phát
hành cổ phiếu đến Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Hồ sơ bao gồm:
1. Đơn xin phát hành.
2. Bản sao công chứng giấy phép thành lập.
3. Bản sao công chứng giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
4. Điều lệ công ty.
5. Nghị quyết của đại hội cổ đông chấp thuận phát hành cổ phiếu mới.
6. Bản cáo bạch (có đủ những thông tin cần thiết, trung thực, rõ ràng, nhằm giúp người đầu tư
và công ty chứng khoán có thể đánh giá đúng về tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp)
III. Các bước tiến hành phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng
Thông thường việc phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng được thực hiện theo các
bước sau:
- Tổ chức đại hội cổ đông để xin ý kiến chấp thuận của đại hội cổ đông về việc phát hành
chứng khoán ra công chúng, đồng thời thống nhất mục đích huy động vốn; số lượng vốn cần huy
động; chủng loại và số lượng chứng khoán dự định phát hành; cơ cấu vốn phát hành dự tính phân
phối cho các đối tượng: Hội đồng quản trị, cổ động hiện tại, người lao động trong doanh nghiệp,
người bên ngoài doanh nghiệp, người nước ngoài…
- Hội đồng quản trị ra quyết định thành lập ban chuẩn bị cho việc xin phép phát hành chứng
khoán ra công chúng. Chức năng chủ yếu của ban chuẩn bị là chuẩn bị các hồ sơ xin phép phát
hành để nộp lên cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán; lựa chọn
tổ chức bảo lãnh phát hành (nếu cần), công ty kiểm toán và tổ chức tư vấn và cùng với các tổ
chức này xây dựng phương án phát hành và dự thảo bản cáo bạch để cung cấp cho các nhà đầu
tư.
- Ban chuẩn bị lựa chọn người đứng đầu tổ hợp bảo lãnh phát hành. Trong phần lớn các
trường hợp phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng, để đảm bảo sự thành công của đợt
phát hành thì tổ chức phát hành phải chọn ra được một tổ chức bảo lãnh phát hành. Tổ chức bảo
tại Nghị định 48/Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán thì thời hạn này là 90
ngày, trong trường hợp xét thấy hợp lý và cần thiết, Uỷ ban chứng khoán nhà nước có thể gia
hạn thêm.
- Tiến hành đăng ký, lưu giữ, chuyển giao và thanh toán chứng khoán sau khi kết thúc đợt
phân phối chứng khoán.
- Sau khi hoàn thành việc phân phối chứng khoán, tổ chức phát hành cùng với tổ chức bảo
lãnh phát hành phải báo cáo kết quả đợt phát hành cho Uỷ ban chứng khoán và tiến hành đăng ký
vốn với cơ quan có thẩm quyền.
- Trường hợp tổ chức phát hành có đủ điều kiện niêm yết thì có thể làm đơn xin niêm yết gửi
lên Uỷ ban chứng khoán và Sở giao dịch chứng khoán nơi công ty niêm yết.
IV. Tác dụng của việc phát hành cổ phiếu ra công chúng:
- Đối với việc phát hành: Việc phát hành cổ phiếu sẽ giúp cho công ty có thể huy động
vốn khi thành lập hoặc để mở rộng kinh doanh. Nguồn vốn huy động này không cấu thành một
khoản nợ mà công ty phải có trách nhiệm hoàn trả cũng như áp lực về khả năng cân đối thanh
khoản của công ty sẽ giảm rất nhiều, trong khi sử dụng các phương thức khác như phát hành trái
phiếu công ty, vay nợ từ tổ chưc tín dụng… thì hoàn toàn ngược lại.
- Đối với nhà đầu tư cổ phiếu: Giấy chứng nhận sở hữu cổ phần được phát hành dưới dạng
chứng thư có giá trị và được xác định thông qua việc chuyển dịch, mua bán trên thị trường chứng
khoán giữa các chủ thể đầu tư và được pháp luật bảo vệ. Mặt khác người mua cổ phiếu nghĩ rằng
vốn họ đầu tư được các nhà quản lý công ty sử dụng có hiệu quả, tạo ra lợi nhuận hoặc đánh giá
hoạt động cũng như tiềm năng phát triển, sinh lời của công ty dự định đầu tư là cao, và đương
nhiên họ sẽ được hưởng một phần từ những thành quả đó thông qua việc thanh toán cổ tức cho
các cổ đông, đồng thời giá trị cổ phần sở hữu cũng sẽ gia tăng trên cơ sở thực tại và triển vọng
phát triển của công ty mình đã chọn. Thông thường khả năng sinh lời, thu hồi vốn đầu tư cổ
phiếu tỷ lệ thuận với giá cổ phiếu giao dịch trên thị trường.
V. Những điểm thuận lợi và bất lợi khi phát hành chứng khoán ra công chúng.
a. Những điểm thuận lợi
- Phát hành chứng khoán ra công chúng sẽ tạo ra hình ảnh đẹp và sự nổi tiếng của công ty,
về quyền sở hữu của công ty luôn luôn bị biến động do chịu ảnh hưởng của các giao dịch cổ
phiếu hàng ngày.
- Chi phí phát hành chứng khoán ra công chúng cao, thường chiếm từ 8-10% khoản vốn huy
động, bao gồm các chi phí bảo lãnh phát hành, phí tư vấn pháp luật, chi phí in ấn, phí kiểm toán,
chi phí niêm yết… Ngoài ra, hàng năm công ty cũng phảI chịu thêm các khoản chi phí phụ như
chi phí kiểm toán các báo cáo tài chính , chi phí cho việc chuẩn bị tài liệu nộp cho cơ quan quản
lý nhà nước về chứng khoán và chi phí công bố thông tin định kỳ.
- Công ty phát hành chứng khoán ra công chúng phải tuân thủ một chế độ công bố thông tin
rộng rãi, nghiêm ngặt và chịu sự giám sát chặt chẽ hơn so với các công ty khác. Hơn nữa, việc
công bố các thông tin về doanh thu, lợi nhuận, vị trí cạnh tranh, phương thức hoạt động, các hợp
đồng nguyên liệu, cũng như nguy cơ bị rò rỉ thông tin mật ra ngoài có thể đưa công ty vào vị trí
cạnh tranh bất lợi.
- Đội ngũ cán bộ quản lý công ty phải chịu trách nhiệm lớn hơn trước công chúng. Ngoài ra,
do qui định của pháp luật, việc chuyển nhượng vốn cổ phần của họ thường bị hạn chế.
B. Thực trạng vấn đề phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng ở Việt Nam
I. Thực trạng vấn đề phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng ở Việt Nam trong những
năm gần đây:
1, Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình IPO ở Việt Nam:
•
Tiến trình cổ phần hóa
Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước (CPH DNNN) chính là quá trình chuyển doanh nghiệp
thuộc sở hữu Nhà nước sang hình thức công ty cổ phần thông qua quá trình trao ban các cổ phiếu
chứng nhận quyền sử hữu doanh nghiệp cho các cổ đông. Hai có thể hiểu là thông qua quá trình
cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước mà doanh nghiệp trước đây thuộc sở hữu 100 % của Nhà
nước được chuyển sang một loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó Nhà nước có
thể là một cổ đông.
Chủ trương CPH DNNN của Chính phủ đã có hơn 15 năm thực hiện. Từ hơn 12000 doanh
tính thực hiện CPH các doanh nghiệp lớn với tổng trị giá 10 tỷ USD.
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch CPH và đặt mục tiêu niêm yết 71 DNNN lớn trên
TTCK trước năm 2010. Sẽ mở rộng quy mô của DNNN thuộc diện CPH để đưa vào danh sách
các công ty TNHH 100% vốn nhà nước và các cơ quan hạch toán phụ thuộc của DNNN. Tiêu chí
lựa chọn và số lượng các nhà đầu tư chiến lược sec do Ban chỉ đạo đề xuấ và nhà đầu tư chiến
lược phải trả giá không thấp hơn giá trúng thầu.
CPH cũng đã góp phần thúc đẩy việc hình thành thị trường chứng khoán, việc CPH là bức
tranh tươi sáng và rất đáng khích lệ, lẽ ra phải được thực hiện vượt kế hoạch đề ra bởi vì CPH
hoàn toàn do Nhà nước quyết định, 1 việc làm trong tầm tay, lại được các nhà tài trợ nước ngoài
cổ vũ và hỗ trợ, CPH cong là 1 thước đo, 1 bước đi cụ thể trong lộ trình hội nhập.
Tóm lại, cả về phương diện lý luận, thực tiễn và kinh nghiệm đều khẳng định chủ trương CPH
DNNN của Đảng và Nhà nước là hoàn toàn đúng đắn, hợp quy luật, có lập trường quan điểm rõ
ràng, hợp với xu thế phát triển chung của nền kinh tế thế giới. CPH DNNN là 1 trong những giải
pháp t ích cực nhằm nâng cao tính năng động và hiệu quả không chỉ của các doanh nghiệp nhà
nước mà còn của cả hệ thống các doanh nghiệp trong ngành kinh tế nhiều thành phần, vận hành
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam.
•
Tâm lý thị trường:
Thị trường chứng khoán được xem là một nhóm các nhà đầu tư không có tổ chức với một mục
đích chung duy nhất là nhằm nắm bắt xu hướng tương lai của thị trường để từ đó có quyết định
kinh doanh đúng đắn nhằm thu được lợi nhuận. Tuy nhiên, một điều quan trọng cần phải nhận ra
là nhóm đông đó được hình thành bởi nhiều nhà đầu tư cá nhân khác nhau, mỗi nhà đầu tư lại
thiên về các cảm xúc trái ngược nhau. Lạc quan có, bi quan có, hy vọng có, lo lắng có... Tất cả
mọi cảm giác đều có thể tồn tại trong cùng một nhà đầu tư tại các thời điểm khác nhau hoặc
trong vài nhà đầu tư hoặc một nhóm nhà đầu tư tại cùng một thời điểm. Và mục tiêu quan trọng
nhất trong bất kỳ quyết định kinh doanh nào là hiểu được ý nghĩa của sự dồn nén về cảm xúc
điều chỉnh hành vi của mình theo thị trường, họ sẽ rút ra bài học từ chính những thành công và
thất bại của mình. Không thể có giải pháp nào được đưa ra ở đây cả. Vì tâm lý bầy đàn hay tâm
lý đám đông là một sự tồn tại khách quan trong bất cứ một thị trường nào không riêng gì thị
trường tài chính. Các bằng chứng xã hội mà các nhà tâm lý học đưa ra sau các cuộc khảo sát
hoàn toàn chứng minh được điều đó.
Và lâu nay vẫn có quan niệm sai lầm cho rằng chỉ ở việt Nam thì mới có tâm lý bầy đàn trong
đầu tư như thế. Sự thật thì tâm lý đám đông suất hiện ở hầu hết các thị trường mới nổi thậm chí
ngay cả các thị trường phát triển thì vẫn có những giai đoạn tồn tại tâm lý đám đông. Nếu không,
lịch sử kinh tế thế giới đã không chứng kiến nhiều vụ nổ bong bóng và khủng hoảng như khủng
hoảng Hoa tulip - Hà Lan (1634-1637), bong bóng South Sea - Anh (1711-1720), Khủng hoảng
bất động sản Florida - Mỹ (1920-1922), Đại suy thoái thế giới 1929, khủng hoảng 1987, khủng
hoảng châu Á 1997, khủng hoảng dotcom...
Những ý kiến trên tả làm sao được phần nào nguyên nhân sự phát triển không theo quy luật của
thị trường chứng khoán Việt Nam. Đồng thời hi vọng phần nào mang lại cho người đọc cái nhìn
đúng hơn về tâm lý bầy đàn của nhà đầu tư và nó ảnh hưởng đến tâm lý thị trường như thế nào.
•
•
Hiệu ứng thông tin không đối xứng
Bản cáo bạch
Vấn đề đau đầu nhất đối với giới đầu tư hiện nay, kể cả tổ chức chuyên nghiệp, tôi là đoàn giá
cổ phiếu doanh nghiệp sắp IPO. Các đợt IPO vừa qua cho thấy, những nhà đầu tư cá nhân tham
gia đấu giá cổ phiếu, cơ hội bỏ giá chúng ở mức hợp lý là quá khó, đa phần nhà đầu tư bỏ giá
thấp hoặc bỏ giá quá cao so với mức giá thực tại gây thiệt hại cho nhà đầu tư. Nguyên nhân của
hiện tượng này một phần là do nhà đầu tư thiếu thông tin về doanh nghiệp hoặc không xác định
giá chính xác doanh nghiệp dẫn đến tình trạng đầy giá cổ phiếu lên cao là điều không hiếm trong
các đợt đấu giá vừa qua. Thông tin đến với các nhà đầu tư được cung cấp chủ yếu thông qua bản
cáo bạch. Bản cáo bạch như lời chào của doanh nghiệp tới tất cả các nhà đầu tư. Trong bản cao
bay có rất nhiều thông tin quan trọng liên quan tới doanh nghiệp, như lĩnh vực kinh doanh chính,
Một bất cập nữa đó là việc các nhà đầu tư đang gặp khó khăn khi tiếp cận thông tin tài chính
doanh nghiệp, trong các đợt đấu giá. Thông thường, các báo cáo tài chính gốc đầy đủ gồm bản
cân đối kế toán, kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh của công ty IPO, do
các đơn vị tư vấn không công bố rộng. Trên thực tế, Tuấn có những trường hợp đơn vị tư vấn
đưa bản cáo bạch kem theo báo cáo tài chính kiểm toán lên trang Web của CTCK, tuy nhiên,
những trường hợp này thường rất ít.
BCTC Như một bức tranh toàn cảnh về doanh nghiệp, thông qua báo cáo tài chính, nhà đầu tư
có thể sử dụng để phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp, phân tích tình hình sử dụng tài sản,
vốn của doanh nghiệp cũng như tỷ trọng các khoản mục trong bảng cân đối kế toán. Từ đó, nhà
đầu tư có thể định giá doanh nghiệp theo phương pháp chiết khấu ròng tiền DCF,một phương
pháp khá phổ biến hiện nay. Trong BCB có tóm tắt một số chỉ tiêu tài chính, những chỉ tiêu này
chỉ dùng để tham khảo chứ không có giá trị định giá. Nhà đầu tư cần phải có báo cáo tài chính
đầy đủ thì mới có cái nhìn toàn diện về tài chính doanh nghiệp quá khứ và hiện tại. Chính báo
cáo tài chính giúp cho nhà đầu tư vạch ra chiến lược đầu tư và nhìn nhận phần nào tương lai của
món hàng mình bỏ tiền ra mua ngày hôm nay.
Vai trò quan trọng của các báo cáo tài chính trong phân tích định giá doanh nghiệp đã được
khẳng định. Tuy nhiên, mỗi nhà đầu tư đều có cách xem xét và phân tích báo cáo tài chính khác
nhau trước khi đưa ra quyết định đầu tư. Tuy nhiên, nếu có sự gian lận trong các số liệu báo cáo
tài chính thì quá trình phân tích sẽ trở nên hoàn toàn vô nghĩa.
Vấn đề đặt ra là tại sao các đơn vị tư vấn không công bố báo cáo tài chính đầy đủ của doanh
nghiệp kèm theo bản cáo bạch của những doanh nghiệp IPO lên website của công ty mình? Phải
chăng đây cũng là một cách trốn tránh công khai thông tin của doanh nghiệp IPO giúp tư lợi cho
một số người?
Thời gian tới, theo đúng lộ trình, một số doanh nghiệp nhà nước lớn sẽ tiến hành IPO, nhà đầu
tư hy vọng rằng những doanh nghiệp này sẽ công khai và minh bạch thông tin hơn nữa với bản
cáo bạch đầy đủ cùng báo cáo tài chính gốc được đưa tới tận tay nhà đầu tư.
•
muốn của các nhà hoạch định thị trường, mặc dù chất lượng cổ phiếu của các đợt IPO là khá tốt.
Điển hình trong giai đoạn này là Công ty Cấp thoát nước Ninh Thuận chào bán 2,4 triệu cổ phần
với giá khởi điểm chỉ 10.000 đ/cp nhưng các nhà đầu tư chỉ đặt mua chưa đến 10% với chỉ
218.000 CP. Công ty gạch tuy – nel Kiên Giang đấu giá 1,6 triệu cổ phần cũng với giá khởi điểm
là 10.000 đ/CP nhưng chỉ bán đươc 226.000 CP. Ngay như các ông lớn cở Sabeco chào bán
128,3 triệu CP mà nhà đầu tư chỉ đặt mua 78,4 triệu CP. Trong năm 2008, số doanh nghiệp IPO
thành công tại HOSE khá hiếm hoi trong khi những phiên IPO không bán hết, đấu giá lại, hủy,…
không dưới 20 phiên. Tại sàn Hà Nội cũng không khá hơn khi từ đầu năm đến nay mới có 11
phiên đấu giá với tổng số lượng cổ phần chào bán 69,97 triệu CP nhưng tổng số lượng cổ phần
trúng giá chỉ 22,57 triệu CP, đạt 32,2% tổng số cổ phần chào bán. Tâm lý nhà đầu tư không còn
ưu chuộng hàng hòa IPO nữa. Cả năm 2008 có 50 công ty tiến hành IPO, đấu giá trên 2 sàn
HOSE và HASTC. 3 công ty có số lượng cổ phiếu lớn nhất mang ra đấu giá là Sabeco, Habeco
và Vietinbank. Tổng cộng có tất cả 385,418,192 CP phát hành ra công chúng nhưng chỉ có
230,985,944 CP được nhà đầu tư mua tương ứng với tỷ lệ 60%. Tổng số tiền IPO thu được năm
2008 đạt 9,870 tỷ đồng. Để có thể IPO thành công trong giai đoạn này, doanh nghiệp phải chứng
minh được tiềm năng tăng trưởng cao, năng lực quản trị của doanh nghiệp tốt, sản phẩm dịch vụ
có chỗ đứng trên thị trường, thông tin công bố phải chính xác, minh bạch, đặc biệt là mức giá
khởi điểm phải hợp lý để hấp dẫn nhà đầu tư trong mối tương quan với giá cổ phiếu của các
doanh nghiệp đã niêm yết trên thị trường Bước sang năm 2009, thị trường chứng khoán khởi sắc
nhưng các hoạt động IPO vẫn trong cảnh chợ chiều. Cả năm 2009 chỉ có hơn 20 doanh nghiệp
thực hiện IPO thông qua hai sở giao dịch chứng khoán. Hoạt động IPO những tháng đầu năm
2009 còn thua cả năm 2008 là năm thị trường chứng khoán gặp khó khăn. Gần hết quý III nhưng
HOSE chỉ tổ chức IPO cho sáu doanh nghiệp, thấp hơn nhiều so với con số mười sáu doanh
nghiệp thực hiện IPO năm trước. Số lượng các doanh nghiệp thực hiện IPO trên HNX có cao hơn
đôi chút với mười một doanh nghiệp nhưng cũng chỉ bằng một phần ba so với cùng kì năm
trước. Trừ một vài doanh nghiệp như công ty gang thép Thái Nguyên, công ty supe và hóa chất
Lâm Thao đã bán hết cổ phần, các doanh nghiệp còn lại đều chịu cảnh “mang đến lại mang về”.
Như công ty giao nhận kho vận tải ngoại thương TP.HCM tổ chức đấu giá đến lần thứ hai cũng
quan trọng để Việt Nam tái cấu trúc thành công nền kinh tế. Sau một thời gian dài trầm lắng,
việc IPO các doanh nghiệp nhà nước trong thời gian gần đây đã sôi động trở lại nhờ sự tham gia
của một số doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn. Đợt IPO được giới đầu tư quan tâm gần đây là
việc Tổng công ty Thép Việt Nam (VNSteel) (6/2011) chào bán 65,98 triệu cổ phiếu với mức giá
khởi điểm chỉ 10.100 đồng/cổ phiếu. Tuy vậy, kết quả cũng chỉ có 59% cổ phần được bán ra với
giá bằng đúng mức khởi điểm. Hai trường hợp thành công hiếm hoi là Công ty cổ phần Lọc dầu
Nam Việt (3/2011) (3 triệu cổ phần) và Tổng công ty Xây dựng miền Trung - Cosevco (6/2011)
(23,9 triệu cổ phần) chào bán được 100%. Tuy nhiên, mức giá đấu thầu thành công của hai
doanh nghiệp này cũng chỉ thấp hơn 11.000 đồng/cổ phiếu. Đợt IPO mới đây nhất vào cuối năm
2011 trước sự quan tâm của rất nhiều nhà đầu tư cũng như các bộ ngành của nhà nước là IPO của
Ngân hàng BIDV (12/2011) Đợt IPO này được xem là thành công nhất trong giai đoạn thị trường
chứng khoán như hiện nay. Dẫn chứng một vài số liệu được thông kê, với 84.754.146 cổ phần
đăng kí bán (tương đương 3% vốn điều lệ của BIDV) đã được bán cho 16.238 nhà đầu tư đấu giá
thành công (gồm 128 nhà đầu tư tổ chức và 16.069 nhà đầu tư cá nhân). Mức giá đấu thành công
cao nhất của BIDV là 35.000 đồng/cổ phiếu, giá đấu thành công thấp nhất bằng giá khởi điểm là
18.500 đồng/cổ phiếu và giá đấu thành công bình quân là 18.583 đồng/cổ phiếu. Tổng giá trị cổ
phần bán được là 1.575,02 tỷ đồng. Trong đó, tỷ lệ đặt mua ở mức giá khởi điểm 18.500 đồng/cổ
phiếu là hơn 71%, tỷ lệ đặt mua ở bước giá thứ 2 (18.600 đồng/cổ phiếu) là hơn 20% và 3,25%
số cổ phần được đặt mua ở mức giá 18.800 đồng/cổ phiếu.
*Giai đoạn 2012-2014
Thị trường chứng khoán trong 6 tháng đầu năm 2014 đã đem lại cho nhà đầu tư khá nhiều cung
bậc cảm xúc, vui mừng với khoản lợi nhuận lớn trong quý 1, đau tim khi tài khoản vơi dần vào
giữa quý 2 và cảm giác hưng phấn trở lại khi thị trường phục hồi khá tốt ở cuối quý. Theo đó, xét
nửa đầu năm 2014, VN-Index đã tăng ấn tượng từ mốc 500 điểm lên 580 điểm, ứng với mức
tăng 16%; HNX-Index cũng không kém cạnh khi tăng từ 67 điểm lên 77 điểm, tức tăng 15%.
Đồng thời thanh khoản cũng cải thiện rất nhiều, những phiên ngàn tỷ đã trở nên quá bình thường,
bình quân toàn thị trường giao dịch hơn 2,500 tỷ đồng mỗi phiên.
Tuy nhiên, việc phát hành thêm vẫn chưa phải lúc. Theo thống kê của Vietstock, trong nửa đầu
cổ phiếu liên tục tăng theo hình dốc đứng nhưng khi phát hành xong giá rớt cũng theo hình dốc
đứng “đẹp” không kém.
Bên cạnh những trường hợp phát hành nhanh gọn như trên thì CTCP Việt An (HOSE: AVF) là
một trường hợp khá nan giải. AVF liên tục có kế hoạch phát hành thêm cổ phần để tài trợ đầu tư
phát triển hai vùng chăn nuôi ở Bình Thạnh và Phú Thuận kể từ giữa năm 2012. Song do thị giá
của AVF trong những năm trở lại đây luôn thấp hơn mệnh giá nên các phương án phát hành đưa
ra đều thất bại. Kể từ đầu năm 2013, khi cửa cho các doanh nghiệp phát hành dưới mệnh giá
được hé mở nếu đáp ứng điều kiện về bù đắp thiếu hụt vốn điều lệ sau phát hành thì AVF mới
huy động được vốn.
Cụ thể, đợt phát hành đầu năm 2014 AVF đã bán thành công 13,980,000 cổ phiếu với giá
5,000 đồng/cp và thu về 70 tỷ đồng, cổ đông hiện hữu mua đến 80%. Đây là đơn vị duy nhất
phát hành cổ phiếu dưới mệnh giá trong nửa đầu năm 2014.
II. Tìm hiểu hoạt động phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng của ngân hàng
BIDV:
Ngày 30/11/2011, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 2124/QĐ-TTg, phê duyệt Phương
án cổ phần hóa Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV). Theo đó, BIDV được cổ phần
hóa theo hình thức giữ nguyên vốn nhà nước hiện có, phát hành thêm cổ phần để tăng vốn điều
lệ, trong đó tỷ lệ sở hữu của Nhà nước không thấp hơn 65% (với 2 giai đoạn, tỷ lệ sở hữu của
Nhà nước trên 78% trong giai đoạn 1, trên 65% trong giai đoạn 2).
Tổng khối lượng cổ phần phát hành trong giai đoạn 1 là 22% vốn điều lệ. Trong đó, 3% vốn
điều lệ dành cho IPO; 1% vốn điều lệ bán ưu đãi cho cán bộ, công nhân viên; 3% vốn điều lệ bán
cho tổ chức công đoàn và 15% vốn điều lệ bán cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài.
Trong giai đoạn 2, BIDV sẽ phát hành thêm cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài
với tổng mức không vượt quá 20% vốn đầu tư và phát hành thêm cổ phần ra công chúng, giảm
dần tỷ lệ sở hữu của Nhà nước xuống không thấp hơn 65% vốn điều lệ đến năm 2015.
Ngày 01/12/2011, Thống đốc NHNN Việt Nam đã có Quyết định số 2589/QĐ-NHNN về
việc công bố giá trị doanh nghiệp để cổ phần hoá Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
(BIDV). Theo đó, giá trị doanh nghiệp tại ngày 31/12/2010 của BIDV để cổ phần hoá như sau:
Lãnh đạo ngân hang BIDV cũng khẳng định ,khi BIDV hoạt động theo mô hình ngân hàng cổ
phần,chắc chắn tính minh bạch,công khai,đặc biệt là trách nhiệm đối với những cam kết xã hội
của ngân hàng sẽ cao hơn.
Theo kế hoạch từ ngày 29/12/2011 đến 13/1/2012 các nhà đầu tư sẽ nộp tiền mua CP tại các
đại lý chứng khoán đã đăng kí,đồng thời từ nay đến ngày 6/1/2012 sẽ tiến hành hoàn tiền đặt cọc
cho các nhà đầu tư không trúng giá.
BIDV sẽ hoàn thành việc bán CP ưu đãi cho cán bộ công nhân viên và tổ chức công đoàn trước
ngày 10/1/2012.Lịch tổ chức Đại hội đồng cổ đông lần thứ nhất cũng sẽ được ấn định vào ngày
8/3/2012.Dự kiến ngày 26/6/2012,CP của BIDV sẽ đượic niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán
TP.HCM.
Song song với quá trình chuyển đổi và niêm yết trên thị trường chứng khoán, BIDV cũng sẽ
phối hợp với Tổ chức tài chính Morgan Stanley lựa chọn nhà đầu tư chiến lược,phấn đấu hoàn tất
trong năm 2012.
C. Giải pháp khắc phục các hạn chế và kết luận:
GIẢI PHÁP:
Để thúc đẩy TTCK tiếp tục phát triển ổn định, bền vững, thu hút nhà đầu tư, trong đó có nhà
đầu tư nước ngoài. ủy ban chứng khoán càn phải đưa ra các biện pháp thực hiện để khắc phục
được những điểm hạn chế còn tồn tại vừa hướng tới phát triển thị trường. giải pháp cụ thể như
sau:
Thứ nhất: Phát triển quy mô, nâng cao chất lượng và đa dạng các loại hàng hóa để đáp ứng
nhu cầu thị trường.
Mở rộng việc phát hành cổ phiếu mới để huy động vốn trên thị trường. Đối với doanh nghiệp
đã cổ phần hóa đủ điều kiện phải thực hiện việc niêm yết; đồng thời tiến hành rà soát, thực hiện
ngay việc bán tiếp phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước không cần giữ cổ phần chi
phối. Chuyển đổi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang hình thức công ty cổ phần và
niêm yết, giao dịch trên thị trường chứng khoán. Tạo điều kiện cho các nhà đầu tư chiến lược
trong và ngoài nước mua cổ phiếu của các doanh nghiệp Việt Nam theo phương thức thỏa thuận,
hoặc đấu giá giữa các nhà đầu tư chiến lược với nhau để cải thiện nhanh hơn về tài chính, chất
kinh tế tài chính cũng như thông tin vĩ mô để mọi người dân đều biết, hiểu đúng và chấp hành
nghiêm túc. Thu hẹp hoạt động của thị trường tự do bằng cách yêu cầu các công ty đại chúng
giao dịch trên thị trường tự do phải tuân thủ các yêu cầu về kiểm toán, công bố thông tin, quản trị
công ty như các doanh nghiệp đã niêm yết. những việc làm này vừa giúp giảm thiểu rủi ro trong
thanh toán, vừa giúp các giao dịch được công khai, dễ kiểm soát, từng bước thu hút vào thị
trường có tổ chức.
Thứ năm: Tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán, hiện đại hóa cấu trúc thị trường.
Tiếp tục hợp nhất, giải thể, phá sản các CTCK yếu kém, thua lỗ dựa trên nền tảng các chỉ tiêu
an toàn tài chính, cho phép tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài mua để sở hữu đến
100% CTCK trong nước, hợp nhất các sở GDCK và phát triển, phân định các khu vực thị trường,
nghiên cứu các hệ thống để phục vụ thanh toán bù trừ, xây dựng hệ thống phục vụ các sản phẩm
phái sinh.
KẾT LUẬN:
Quá trình phát triển nền kinh tế thị trường là quá trình đổi mới phương thức sở hữu từ gián tiếp
sở hữu sang trực tiếp sở hữu.Ttrước đây thông qua nhà nước, người dân gián tiếp thực hiện
quyền sở hữu của mình thì ngày nay họ trực tiếp có quyền và trách nhiệm đối với tài sản của họ
đang sở hữu. Dựa trên nguyên lý chuyển giao sở hữu, có thể khẳng định việc phát hành cổ phiếu
lần đầu ra công chúng (IPO) không phải là các phi vụ kinh tế kiếm lời trên phương diện vĩ mô.
Công cụ thực hiện IPO có thể là đấu giá, nhưng không phục vụ mục đích kiếm lời mà là để
nhanh chóng chuyển giao sở hữu , đồng thời lựa chọn được nhà đầu tư có đầy đủ trách nhiệm và
đạo đức xã hội, có năng lực chuyên môn để tiếp tục điều hành, phát triển công ty. Về hình thức
IPO là chào bán lần đầu ra công chúng nhưng về nội dung thì lại là điểm mốc đánh dấu sự đổi
mới đầu tiên của phương thức sở hữu tài sản công ty. Việc phát hành cổ phiếu phải được xây
dựng trên nền tảng pháp lý chính đáng và công bằng xã hội. chỉ có như vậy chúng ta mới hoàn
thành được sứ mạng lịch sử của công cuộc đổi mới. Với hiện trạng IPO hiện nay chúng ta có thể
tin IPO sẽ khởi sắc trong những năm tiếp theo.