Mở đầu
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suất
trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là kết quả của sự vận dụng, phát triển sáng tạo
nguyên lý cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác-Lênin, đường lối cách
mạng của Quốc tế Cộng sản vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí
Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội bao gồm hệ thống quan điểm chiến
lược, sách lược chỉ đạo về lý luận chính trị, về nhận thức và hành động của toàn
Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong suất tiến trình phát triển của cách mạng, từ
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Những thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam trong 80 năm qua dưới
sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đã chứng minh: độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội gắn bó biện chứng với nhau là hoàn toàn đúng, là chân lý của thời
đại, phù hợp với quy luật vận động và phát triển của lịch sử. Tuy nhiên, cùng
với sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa ở Liên xô và các nước xã hội
chủ nghĩa ở Đông âu, các thế lực phản động càng ra sức phản bác quy luật: độc
lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Bằng những luận điệu phản động
xuyên tạc, chúng muốn bác bỏ tính chất của thời đại, bác bỏ vai trò lịch sử của
giai cấp công nhân, coi chế độ tư bản là hoàn hảo nhất.
Vì vậy, việc nghiên cứu nắm chắc tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ
giữa độc lập dân tộc và chủ ngiã xã hội là cơ sở lý luận, phương pháp luận để
giải quyết đúng đắn về phương hướng, mục tiêu cách mạng Việt Nam, đồng thời
hiểu rõ nguyên nhân sâu xa về những diễn biến phức tạp của tình hình trong
nước và thế giới, bảo đảm vững chắc cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội,
chủ nghĩa cộng sản ở nước ta.
I. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn đúng
đắn và khoa học của Hồ Chí Minh.
Khi xã hội loài người có sự phân chia giai cấp, thì vấn đề dân tộc bao giờ
cũng mang tính giai cấp. Vấn đề dân tộc gắn với giai cấp nào thì nội dung, tính
chất và phương hướng phát triển của giai cấp đó đều được xác định theo lập
không có đường ra. Sứ mệnh lịch sử đặt ra cho dân tộc, cho mỗi người dân yêu
nước Việt Nam lúc bấy giờ là phải tìm ra con đường cứu nước, cứu dân thoát
khỏi sự thống trị của thực dân Pháp. Trong bối cảnh lịch sử ấy, Nguyễn Aí Quốc
đã ra đi tìm con đường giải phóng cho dân tộc.
Do sự phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản, một số nước đế quốc
hiếu chiến muốn chia lại thị trường thuộc địa đã gây ra cuộc chiến tranh thế giới
lần thứ nhất (1914 – 19180). Cuộc chiến tranh hao người tốn của ấy đã làm gay
gắt thêm mâu thuẫn giữa các nước tư bản với nhau, đồng thời nó cũng là nguyên
nhân làm cho chủ nghĩa tư bản trở lên suy yếu, tạo điều kiện thuận lợi để cách
mạng Tháng Mười Nga (7/11/1917) nổ ra và giành thắng lợi, mở ra một thời đại
mới trong lịch sử nhân loại - thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã
hội. Cách mạng Tháng Mười Nga đã tạo điều kiện , tiền đề hết sức quan trọng
thúc đẩy phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc phát triển
nhanh chóng và giành thắng lợi trong thế kỷ XX.
Tháng 3 năm 1919, Quốc tế cộng sản ra đời, khi tổng kết thực tiễn cách
mạng vô sản thế giới sau cách mạng Tháng Mười, tuyên ngôn thành lập Quốc tế
cộng sản chỉ rõ: công nhân và nông dân không những ở An Nam, Ăngiêri,
Bengan mà cả ở Ba Tư hay Ácmênia chỉ có thể giành được độc lập khi mà công
nhân các nước Anh và Pháp lật đổ được Lôít Gioócgiơ và Clêmăngxô, giành
chính quyền nhà nước vvào tay mình. Năm 1928, Quốc tế cộng sản căn cứ vào
lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin và những kinh nghiệm trong tổng kết cách mạng
Nga, đã phân ra 4 kiểu cách mạng, nhằm hướng dẫn giai cấp vô sản và các dân
tộc bị áp bức trên thế giới tiến hành cách mạng như sau:
- Cách mạng xã hội (tức là cách mạng vô sản) trong các xứ tư bản tiên
tiến (như ở: Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Ý).
- Cách mạng tư sản dân quyền trong các xứ tư bản trung bình, trình độ kỹ
nghệ phát triển vừa, di tích phong kiến chưa tẩy sạch. Những cuộc cách mạng tư
sản dân quyền ở xứ ấy có thể chuyển biến sang cách mạng xã hội chủ nghĩa
giờ chỉ có cách mệnh Nga là thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân
chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật, không phải tự do, bình
đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang, lừa dối ở bên An
Nam...cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng, muốn cách mệnh thành công thì
phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có Đảng vững bền, phải bền gan, phải
hy sinh, phhải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và
Lênin”2.
Như vậy, sau gần 10 năm tìm tòi, khảo sát thực tế Hồ Chí Minh đã tin và
đi theo con đường cách mạng vô sản. Từ khi trở thành chiến sỹ cộng sản, Hồ
Chí Minh luôn trung thành và vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin trong quá trình
vận động cách mạng. Nhưng cái mới và xuất sắc ở Hồ Chí Minh là người đã vận
dụng và phát triển sáng tạo lý luận Mác-Lênin, nhất là lý luận cách mạng không
ngừng và đường lối của Quốc tế cộng sản vào điều kiện cụ thể ở nước ta, vạch
ra đường lối chiến lược, sách lược độc lập, sáng tạo cho cách mạng Việt Nam.
Trong cương lĩnh đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp soạn
thảo (02/1930), người chỉ rõ: “ chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và
thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”3.
Như vậy, Hồ Chí Minh không chọn kiểu cách mạng thứ ba – cách mạng
tư sản dân chủ hoặc kiểu cách mạng thứ tư – cách mạng giải phóng dân tộc mà
người đã sáng tạo ra một kiểu cách mạng thuộc địa, có nội hàm chứa đựng cả
bốn kiểu cách mạng mà Quốc tế cộng sản đã xác định, đó là cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội.
II. Mối quan hệ biện chứng giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Xã hội chủ nghĩa, xã hội cộng sản sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản, cũng như
chủ nghĩa tư bản thay thế xã hội phong kiến, đó là một tất yếu của lịch sử. Tuy
nhiên, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản không thể chỉ một
sớm, một chiều và chỉ có một khuân mẫu duy nhất, mà nó tùy thuộc vào trình độ
phát triển của từng quốc gia, dân tộc.
Ngay từ khi đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, trở thành chiến sỹ cộng sản Hồ
quốc luôn là mối quan tâm thường trực của mỗi người dân. Việc tôn trọng độc
lập chủ quyền quốc gia đã trở thành nguyên tắc và điều kiện tiên quyết để thiết
lập và duy trì mối quan hệ bang giao giữa các nước. Trong bản Tuyên ngôn độc
lập, khai sinh cho chế độ cộng hòa ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh
trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và toàn thể nhân dân thế giới về chủ
quyền độc lập của đất nước: mọi người dân đều có quyền hưởng tự do và độc
lập, toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem hết cả tính mạng và của cải để giữ
vững nền tự do, độc lập đã đổi bằng xương máu giành được.
Trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19-12-1946, Người nhấn
mạnh: “thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”.
Trong Lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước, được phát trên đài phát thanh Tiếng nói
Việt Nam, ngày 17-7-1966, Hồ Chí Minh lại nhấn mạnh: “Không có gì quý hơn
độc lập tự do”. Đây là một sự khẳng định chân lý của thời đại, thể hiện quyết
tâm sắt đá của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Câu nói nổi tiếng ấy đã đi
vào lịch sử của dân tộc, có sức cổ vũ và quy tụ nguồn sức mạnh của cả dân tộc
vào cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Đây cũng là sự thể hiện nổi
bật của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Độc lập dân tộc chính là cái đích trực tiếp của công cuộc giải phóng dân
tộc, đấu tranh xóa bỏ mọi áp bức, bất công, xóa bỏ sự đô hộ và xâm lược từ bên
ngoài, khẳng định sự tồn tại và phát triển của dân tộc, bảo đảm cho dân tộc đó
có hòa bình, ổn định bền vững về chính trị, kinh tế, sự thống nhất về lãnh thổ và
chủ quyền quốc gia, sức mạnh độc lập và tự chủ trong việc lựa chọn và quyết
định con đường phát triển của dân tộc mình trong mối quan hệ hợp tác bình
đẳng với các quốc gia dân tộc khác trên thế giới. Vấn đề này đã từng diễn ra
trong lịch sử khi quốc gia dân tộc đã hình thành và trải qua các thời kỳ hưng
thịnh và suy vong của các triều đại phhong kiến cũng như trong lịch sử hiện đại
và đương đại, với sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, chủ
nghĩa thực dân cũ và mới.
- Độc lập dân tộc đòi hỏi phải xóa bỏ tình trạng áp bức, bóc lột và nô dịch
của dân tộc này với dân tộc khác cả về chính trị, văn hóa và tinh thần. Vì vậy,
độc lập dân tộc luôn gắn liền với tự do và bình đẳng. Độc lập dân tộc phải bảo
đảm chủ quyền của mỗi dân tộc trong các quan hệ quốc tế, phải được thừa nhận
về pháp lý quốc tế và được khẳng định trong thực tế. Đó là chủ quyền của một
quốc gia độc lập, có sự thống nhất và toàn vẹn về lãnh thổ, những công việc nội
bộ của quốc gia dân tộc ohải do chính quốc gia dân tộc đó giải quyết và quyết
định, không có sự can thiệp từ bên ngoài vào.
- Sự trao đổi, hợp tác về kinh tế, văn hóa giữa các nước dựa trên nguyên
tắc bình đẳng và cùng có lợi, tôn trọng chủ quyền của nahu, cùng đóng góp vào
lợi ích chung vào hòa bình và hòa nghị giữa các dân tộc, vì một thế giứoi không
có chiến tranh, không có sự haònh hành của cái ác, sự tàn bạo và bất công, bảo
đảm cho con người sống trong an ninh và hạnh phúc. Do đó, đấu tranh cho độc
lập của mỗi dân tộc thống nhất hữu cơ với mục tiêu chung của mỗi thời đại, của
tất cả các cộng đồng dân tộc trên thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ
và tiến bộ xã hội.
Các xã hội dựa trên sự duy trì tình trạng áp bức, bóc lột do chế độ chiếm
hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, và do những mâu thuẫn đối kháng về giai cấp,
sẽ không bao giờ có thể giải quyết triệt để được vấn đề độc lập dân tộc. Giai cấp
hong kiến và giai cấp tư sản luân xuất phát từ lợi ích và quyền lực thống trị của
họ để hướng cuộc đấu tranh giành độc lập chủ quyền quốc gia vào mục đích
thực hiện lợi ích và duy trì quyền lực của mình trong xã hội. Trong lịch sử đã
từng diễn ra những cuộc chiến tranh phi nghĩa do giai cấp tư sản và phong kiến
gây ra nhằm bành chướng lãnh thổ, mở rộng thuộc địa, áp bức bóc lột dân tộc
khác nhằm thỏa mãn tham vọng về của cải và quyền lực. Để có thể tiến hành các
cuộc chiến tranh, giai cấp phong kiến và tư sản thường sử dụng lợi ích dân tộc,
nhân danh lợi ích dân tộc, biến cả dân tộc mình thành công cụ, phương tiện,
thành tấm lá chắn. Điều đó giải thích vì sao giai cấp phong kiến và tư sản không
nhân dân lao động, của cả dân tộc và toàn xã hội; giải phóng giai cấp công nhân
gắn liền với giải phóng xã hội, độc lập dân tộc gắn liền với xây dựng quốc gia
dân tộc theo mục tiêu, lý tưởng chủ nghĩa xã hội. Đó là cơ sở phản ánh bản chất
của giai cấp công nhân, bảo đảm cho dân tộc có độc lập thực sự, đồng thời nền
độc lập dân tộc ấy chỉ thực sự bền vững trên con đường phất triển đi lên chủ
nghĩa xã hội.
Theo Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc là điều kiện, tiền đề để bảo đảm cho
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Người khẳng định, cách mạng
Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và
cách mạng xã hội chủ nghĩa, giữa hai cuộc cách mạng đó không có bức tường
ngăn cách, mà gắn bó mật thiết với nhau. Giai đoạn thứ nhất nhằm mục tiêu trực
tiếp trước mắt là “độc lập dân tộc” và “ruộng đất dân cày”, coi đó là điều kiện
tiên quyết để đi lên chủ nghĩa xã hội. Bởi vì, chúng ta chỉ có thể đi lên chủ nghĩa
xã hội khi đã giành được chính quyền về tay nhân dân, lực lượng đông đảo nhân
dân đã đựơc giải phóng. Mặt khác, trong cách mạng dân tộc dân chủ, bên cạnh
nhiệm vụ đánh đế quốc để giải phóng dân tộc, nhiệm vụ dân chủ phải được tiến
hành đồng thời, bảo đảm vừa thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc, vừa chuẩn
bị những tiền đề cần thiêt phục vụ cho giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội sau
này. Như vậy, độc lập dân tộc vừa là mục trực tiếp trước mắt của cách mạng
dân tộc dân chủ, là điều kiện, tiền đề để tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Hơn nữa, do vai trò và sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân
không chỉ phủ nhận mọi quan hệ sản xuất tư sản trên phạm vi toàn thế giới.
Cách mạng xã hội chủ nghĩa và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết
diễn ra trong phạm vi từng quốc gia, nhưng đều có mối quan hệ và ý nghĩa quốc
tế sâu sắc. Lô gíc phát triển của cuộc cách mạng này không chỉ dừng lại ở việc
xóa bỏ tình trạng đối kháng giai cấp mà còn tiến tới xóa bỏ sự phân chia xã hội
thành giai cấp, xóa bỏ cả sự tồn tại của nhà nước.
2. Chủ nghĩa xã hội là con đường chắc chắn nhất để bảo vệ và phát triển
thành quả của độc lập dân tộc.
Lựa chọn con đường phát triển chủ nghĩa xã hội sau khi giành được độc
khoa học kỹ thuật, với sự phát triển văn hóa của nhân dân.
- Chủ nghĩa xã hội là xã hội phát triển cao về văn hóa, đạo đức, con người
được giải phóng khỏi áp bức bóc lột, có cuộc sống tinh thần phong phú, có điều
kiện để phát triển hết mọi khả năng của mình. Bởi vì “chỉ chế độ xã hội chủ
nghĩa thì mọi người có điều kiện cải thiện đời sống của mình, phát huy tính cách
riêng và sở trường riêng của mình”3
- Chủ nghĩa xã hội là một xã hội công bằng, hợp lý, “một xã hội không có
chế độ người bóc lột người, một xã hội bình đẳng, nghĩa là ai cũng phải lao động
và có quyền lao động, ai làm nhiều thì hưởng nhiều, làm ít thì hưởng ít, không
làm không hưởng”4, các dân tộc đều bình đẳng, miền núi được giúp đỡ để tiến
kịp miền xuôi,...
- Chủ nghĩa xã hội là của nhân dân, do nhân dân xây dựng dưới sự lãnh
đạo của Đảng: “Chủ nghĩa xã hội là do quần chúng nhân dân lao động xây dựng
nên”, “đó là công trình tập thể của quần chúng lao động dưới sự lãnh đạo của
Đảng”5.
Như vậy, theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội là một chế độ ưu việt nhất
trong lịch sử nhân loại, đó là xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, đạo đức và
văn minh. Quan niệm của Người về chủ nghĩa xã hội là một quan niệm khoa
học, hoàn chỉnh và hệ thống, dựa trên nguyên lý chủ yếu của chủ nghĩa MácLênin, phù hợp với đặc điểm truyền thống của nước ta.
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, các cuộc cách mạng tư sản
chỉ nhằm xác lập và duy trì quyền lực của giai cấp tư sản và bảo vệ sự tồn tại
của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Chúng chỉ đạt được ý nghĩa tiến bộ
trong giai đoạn đầu khi giương ngọn cờ chống chế độ phong kiến quân chủ
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t9, tr 291
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t8, tr. 226
3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t9, tr. 291
4 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t9, tr. 291
5 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t9, tr23
1
2
Sự phát triển thực chất và bền vững của độc lập dân tộc được đo bằng khả
năng và điều kiện bảo đảm cho dân tộc thoát khỏi tình trạng nô lệ, bị phụ thuộc,
bị áp bức, bóc lột và bị nô dịch; bảo đảm cho dân tộc đó vượt qua tình trạng đói
nghèo, lạc hậu và tụt hậu so với các dân tộc khác trên thế giới ngày nay và ngày
càng vươn lên đỉnh cao của sự giàu có, văn minh, hiện đại, công bằng và bình
đẳng, trong các mối quan hệ giữa con người với con người cũng như giữa cộng
đồng dân tộc này với cộng đồng dân tộc khác. Những khả năng và điều kiện đó
chỉ có thể tìm thấy và gải quyết bằng con đường phát triển đi lên chủ nghĩa xã
hội.
Mặt khác, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội là quá trình kết hợp xây
dựng và cải tạo xã hội chủ nghĩa trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
nhằm xây dựng một xã hội phát triển toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa
xã hội,v.v...tạo cơ sở vững mạnh cho việc bảo vệ độc lập dân tộc, phát triển
những thành quả của công cuộc giải phóng dân tộc. Bởi vậy, Hồ Chí Minh chỉ
rõ: “ Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem cho mọi người không
phân biệt chủng tộc và nguồn gốc của tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no
trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui hòa bình, hạnh
phúc, nói tóm lại là nền cộng hòa thế giới chân chính, xóa bỏ những biên giới tư
bản chủ nghĩa cho tới nay chỉ là những bức tường dài ngăn cản những người lao
động trên thế giới hiểu nhau và yêu thương nhau”1.
Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ những ngày đầu của chính quyền cách
mạng đã cảm nhận một cách sâu xa: đất nước có độc lập mà nhân dân vẫn trong
cảnh đói nghèo, thiếu ăn, thiếu mặc, thì độc lập ấy có ý nghĩa gì? Người chỉ rõ:
thắng đế quốc và phong kiến là tương đối dễ; thắng nghèo nàn lạc hậu còn khó
hơn nhiều.
Cái lớn lao của tư tưởng Hồ Chí Minh là ở chỗ Người đã phát hiện thấy:
muốn cứu nước, giải phóng dân tộc để có độc lập tự do thì không có con đường
nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản. Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới
2
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t1, tr461
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t3, tr1
nhân dân An Nam. Mặt khác, chúng khám xết nhà cửa, bắt bớ, giam cầm và giết
hại những người cách mạng An Nam; chúng hy vọng dùng khủng bố trắng tiêu
diệt cách mạng An Nam”1.
Thực trạng đó làm cho xã hội Việt Nam xuất hiện hai mâu thuẫn cơ bản
và ngày một rở lên gay gắt: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế
quốc thực dân Pháp và mâu thuẫn giữa quần chúng nhân dân lao đông, chủ yếu
là nông dân với bọn địa chủ, phong kiến. Để giải quyết được triệt để hai mâu
thuẫn đó, đò hỏi nhân dân tâ phải tiến hành đấu tranh cách mạng đánh đổ cả ba
đối tượng là: thực dân Pháp; tầng lớp địa chủ và phong kiến đương quyền và
tầng lớp đại tư sản phản cách mạng ôm chân đế quốc.
Khi đánh giá về lực lượng cách mạng, cương lĩnh khẳng định giai cấp
công nhân và giai cấp nông dân là hai giai cấp cơ bản bị đế quốc Pháp và tay sai
áp bức, bóc lột nặng nề nhất. Nhưng đó lại là hai động lực chính bảo đảm cho
cách mạng Việt Nam. Còn đói với tầng lớp “tiểu tư sản, trí thức, trung nông,
thanh niên, Tân Việt... Hồ Chí Minh chủ trương “hết sức liên lạc” để kéo họ về
phe vô sản giai cấp”. Người còn chủ trương lôi kéo tầng lớp phú nông, trung,
tiểu địa chủ và tư sản Việt Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng. Trong khi coi
tư sản bản xứ là một bộ phận cả lực lượng cách mạng, Hồ Chí Minh nêu rõ
nguyên tắc của Đảng là khi đoàn kết với các bộ phận trên không được nhân
nhượng quá mức mà “đi vào con đường thỏa hiệp”. Về quan hệ quốc tế, trong
khi xác định cáh mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế
giới, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “ trong khi tuyên truyền cací khẩu hiệu nước An Nam
độc lập, phải đồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô
sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản Pháp”2.
quyết nghị thủ tiêu Chính cương, Sách lược, Điều lệ vắn tắt của Đảng; đổi tên
Đảng thành Đảng cộng sản Đông Dương; quyết định lấy Nghị quyết và thư
Quốc tế cộng sản để thi hành trong Đảng...
Mặc dù Hồ Chí Minh bị Quốc tế cộng sản phê bình là “dân tộc chủ nghĩa”
và cương lĩnh của Đảng bị thủ tiêu, nhưng giá trị lý luận và thực tiễn của nó đã
ăn sâu, bám rễ vào phong trào cách mạng ở nước ta và được quần chúng nhân
dân đón nhận với một khí thế hồ hởi, nhiệt thành cao. Kết quả đó, sau bảy năm
khảo sát, nghiên cứu ( 1930-1938), Quốc tế cộng sản đã đánh giá “đồng chí
Nguyễn Aí Quốc (tức Hồ Chí Minh) không phạm sai lầm chính trị” và đã quyết
định cử người về trực tiếp lãnh đạo cách mạng Đông Dương.
Khi trở về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào Cách mạng Việt Nam. Hồ
Chí Minh đã có điều kiện thuận lợi để thực thi Cương lĩnh chính trị đầu tiên của
Đảng và vận dụng một cách sáng tạo vào tình hình thực tiễn ở nước ta. Tháng
5/1941, người chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám. Trong Hội nghị
quan trong này, Hồ Chí Minh đã tiếp tục chủ trương giải phóng dân tộc, đặt
nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trước tiên, đồng thời từng bước kết hợp với
nhiệm vụ dân chủ cho nhân dân. Trên cơ sở đó, Hồ Chí Minh và Đảng ta chủ
trương xây dựng thàh công mặt trận Việt Minh, đoàn kết toàn dân trên nền tảng
liên minh công nông và trí thức đưa cách mạng tháng Tám (1945) đến thắng lợi,
khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa- nhà nước công nông đầu tiên ở
khu vực Đông Nam châu Á.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược từ năm 1946 đến năm
1954, tiếp tục thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và dân chủ, làm tiền đề từng
bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Sau thắng lợi của kháng chiến chống thực dân
Pháp, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân được hoàn thành trên một nửa nước.
Khi có hào bình và độc lập tự do, miền Bắc đã bước vào thời kỳ quá độ đi lên
chủ nghĩa xã hội. Trong khi đó ở miền Nam, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân còn kéo dài suất 21 năm (từ 1954 đến 1975) để giành độc lập dân tộc,
đánh bại chủ nghĩa thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ và các thế lực ngụy
quyền đậi diện cho lợi ích giai cấp phong kiến, tư sản ở miền Nam. Sau khi
vào những sai lầm “tả khuynh” hoặc “hữu khuynh”. Vì vậy, việc kết hợp đúng
đắn độc lập dân tộc vơi chủ nghĩa xã hội là vấn đề có ý nghĩa lớn cả về lý luận
và thực tiễn.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sự vận
dụng sáng tạo nguyên lý cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác-Lênin vào
điều kiện cụ thể ở Việt nam – một nước thuộc địa nửa phong kiến. Nguyên lý
này đã trở thành lý luận, chiến lược, sách lược trong cuộc đấu tranh nhằm giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
Theo Hồ Chí Minh, sự nghiệp giải phóng dân tộc, thực hành dân chủ được
phương triệt để và thắng lại bao nhiêu thì sự nghiệp giải phóng giai cấp công
nhân, nhân dân lao động, giải phóng xã hội, giải phóng con người càng thuận lợi
và thắng lợi bấy nhiêu. Hơn nữa, nếu giai cấp công nhân và nhân dân lao động
được giải phóng cả về chính trị và kinh tế, thì độc lập dân tộc sẽ trở lên bền
vững hơn bao giờ hết. Khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước
thuộc địa trong đó có Việt Nam giành được độc lập, khi đó “họ sẽ hình thành
một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại
của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ người anh em mình
ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”1.
Một bài học thực tiễn phong phú được rút ra là: khi Đảng cộng sản đã
nắm quyền lãnh đạo cách mạng không bao giờ rời bỏ ngọn cờ độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội. Cách mạng càng tiến lên và thắng lợi bao nhiêu thì ngọn cờ
dân tộc dân chủ và chủ nghĩa xã hội càng được giương cao, đồng thời, ngọn cờ
dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội càng được giương cao bao nhiêu thì sức
mạnh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và uy tín của Đảng càng được
1
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t1, tr36
nâng cao bấy nhiêu và sự nghiệp đổi mới để xây dựng thành công chủ nghĩa xã
chúng ra sức tuyên truyền về sự “kết thúc” của chủ nghĩa xã hội, về “sự cáo
chung” của chủ nghĩa Mác-Lênin...qua đó, chúng muốn làm lung lay nền tảng
tư tưởng của chúng ta, làm chệch hướng chúng ta trong sự nghiệp đổi mới.
Chúng cho rằng, Liên Xô và Đông Âu là thành trì của chủ nghĩa xã hội đã sụp
đổ, tất yếu các nước xã hội chủ nghĩa khác cũng sẽ lâm vào khủng hoảng và sụp
đổ, hệ thống chủ nghĩa xã hội sẽ bị xóa sổ, và như vậy thì những nguyên lý chủ
yếu của chủ nghĩa Mác-Lênin là sai lầm, là đi ngược lại với xu thế phát triển của
thời đại. Đối với Hồ Chí Minh, chúng ho rằng, tư tưởng của người chỉ là sự lặp
lại tư tưởng của Lênin nên không khỏi mắc phải những sai lầm, làm cản trở sự
phát triển tất yếu của lịch sử.
Vì vậy, mọi người dân Việt Nam, trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên
cần nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, thấy rõ những luận điểm xuyên tạc,
vu khống, phản bác chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh của các thế
lực phản động. Tích cực đấu tranh bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới, coi đây là sự nghiệp của toàn dân, dưới
sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, bảo đảm cho chúng ta tiến
bước vững chắc trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.
Kết luận
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta và nhân dân tiến bộ trên thế
giới một tài sản vô giá là tư tưởng Hồ Chí Minh. Người đã mở ra một thời đại
mới trong lịch sử dân tộc nước ta – thời đại độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Mỗi chúng ta cần phải ra sức học tập, nghiên cứu và vận dụng sáng tạo tư tưởng
của người trên từng cương vị công tác, góp phần tích cực xây dựng cơ quan, đơn
vị vững mạnh.
Tự hào được sống dưới thời đại Hồ Chí Minh, với niềm tin tưởng, phấn
khởi trước những thắng lợi cử sự nghiệp đổi mới đất nước. Mỗi chúng ta hãy
xứng đáng là những chủ nhân của đất nước! Hãy đi theo con đường mà Chủ tịch