TIỂU LUẬN vận DỤNG các QUAN điểm của ĐẢNG về kêt hợp PHÁT TRIỂN KINH tế với CỦNG cố QUỐC PHÒNG TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP hóa, HIỆN đại hóa đất nước - Pdf 40

1

VẬN DỤNG CÁC QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ KẾT HỢP
PHÁT TRIỂN KINH TẾ VỚI CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG
TRONG QUÁ TRÌNH CNH, HĐH ĐẤT NƯỚC

MỞ ĐẦU

Kết hợp kinh tế với quốc phòng là “hành động chủ động của Nhà nước
trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn các quy luật kinh tế - xã hội khách
quan”, nhằm gắn bó hai lĩnh vực xây dựng kinh tế và củng cố quốc phòng
trong một quá trình thống nhất, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển, bảo đảm
cho mọi hoạt động của xã hội đều dẫn đến sự mạnh lên cả về kinh tế và quốc
phòng, làm cho “mỗi bước phát triển kinh tế đều có tác động nâng cao tiềm
lực quốc phòng, và mỗi bước củng cố quốc phòng đều tạo điều kiện thuận lợi
cho phát triển và bảo vệ nền kinh tế”.
Kết hợp kinh tế với quốc phòng là vấn đề có tính quy luật của mọi quốc
gia dân tộc có chủ quyền. Ở nước ta, từ khi lập nước, cha ông ta luôn gắn kết
việc dựng nước với giữ nước. Từ khi Đảng ra đời, lãnh đạo toàn dân thực hiện
các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và đưa đất nước tiến lên theo con
đường xã hội chủ nghĩa, các quan điểm kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với
tăng cường, củng cố quốc phòng - an ninh luôn được quán triệt, ngày càng
sáng tỏ và đã thực hiện thành công trong các giai đoạn lịch sử, đưa nước ta từ
một nước thuộc địa nửa phong kiến thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền
lãnh thổ, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Thực tiễn những năm qua cho thấy, Đảng, Nhà nước đầu tư cho kinh tế
- xã hội cũng là đầu tư cho quốc phòng - an ninh và đầu tư cho quốc phòng an ninh cũng góp phần cho kinh tế - xã hội có môi trường và điều kiện để ổn


2



QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ KẾT HỢP PHÁT TRIỂN KINH TẾ VỚI CỦNG CỐ
QUỐC PHÒNG TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

* Cơ sở lý luận khoa học của kết hợp kinh tế với quốc phòng
Từ lâu, con người đã biết đến mối tương quan giữa kinh tế với quốc
phòng thông qua quá trình hoạt động thực tiễn. Điều này đã được C. Mác và
Ph. Ăngghen nghiên cứu và khái quát một cách khoa học. Hai ông đã chứng
minh rằng, nguồn gốc, nguyên nhân của “bạo lực” phải tìm ngay trong điều
kiện sản xuất vật chất của xã hội, chứ không phải trong ý chí của “chúa trời”
hay bản năng con người. Kế thừa, phát triển luận điểm này của C. Mác và Ph.
Ăngghen, Lênin đã phân tích, làm rõ, xác định mối quan hệ, sự thống nhất
biện chứng và cả sự mâu thuẫn giữa hai phạm vi hoạt động của con người đó
là kinh tế và chiến tranh, quốc phòng. Đây chính là một trong những cơ sở lý
luận khoa học để Đảng ta đề ra quan điểm kết hợp phát triển kinh tế với củng
cố quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Một nền kinh tế phát triển toàn diện là điều kiện để xây dựng một nền
quốc phòng mạnh, còn một nền quốc phòng mạnh sẽ tạo điều kiện, môi trường
thuận lợi cho phát triển kinh tế và bảo vệ vững chắc thành quả kinh tế đạt
được. Trong mối quan hệ ấy, theo Lênin, kinh tế là cơ sở của quốc phòng,
quyết định tính chất, mục đích của quốc phòng; quyết định trình độ vũ khí
trang bị kỹ thuật, chất lượng, số lượng cũng như biên chế tổ chức của lực
lượng vũ trang; quyết định chiến lược, chiến thuật, khoa học và nghệ thuật
quân sự, phương thức tiến hành củng cố quốc phòng. Bởi suy đến cùng, lợi ích
kinh tế là động lực và mục tiêu của chiến tranh và quốc phòng, kinh tế là
nguồn bảo đảm vật chất và con người cho hoạt động chiến tranh, quốc phòng.


4


triển cân đối, nhịp nhàng và tiết kiệm. Điều đó có nghĩa là trong xây dựng
kinh tế phải có ý thức tìm ra phương hướng, biện pháp, hình thức tổ chức để
sự phát triển kinh tế tự nó có tác dụng tích cực đến củng cố quốc phòng; còn
trong củng cố quốc phòng cũng phải chọn được những phương hướng, biện
pháp phù hợp nhất với khả năng kinh tế, giảm tối đa những khó khăn không
cần thiết đối với kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển.
* Quan điểm của Đảng ta về kết hợp phát triển kinh tế với củng cố quốc
phòng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam là một dân tộc đất không rộng, người không đông, lại nằm ở
vị trí chiến lược của khu vực, thế giới, thường xuyên phải đối phó với các
cuộc triến tranh xâm lược của các thế lực phản động. Vì thế, ông cha ta đã
sớm có tư tưởng kết hợp kinh tế với quốc phòng với phương châm chiến lược
“dựng nước phải đi đôi với giữ nước”. Thực tiễn sự kết hợp ấy có nhiều nét
đặc sắc, vượt ra khỏi cái chung của thời đại phong kiến đương thời và là một
bài học quý báu cho chúng ta trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Kế tục truyền thống “dựng nước phải đi đôi với giữ nước” của cha ông,
thấm nhuần sâu sắc những nguyên lý của chủ nghĩa Mác Lênin về kết hợp
kinh tế với quốc phòng, ngay từ những ngày đầu thành lập, Đảng ta đã chủ
trương gắn liền những biện pháp kinh tế và quân sự với nhau nhằm đạt được
những mục tiêu của cách mạng ở giai đoạn chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang
giành chính quyền. Chủ trương này đã trở thành tư tưởng chỉ đạo cho việc huy
động lực lượng cho thực hiện các nhiệm vụ cách mạng.
Nghị quyết Hội nghị quân sự Bắc kỳ của Đảng, họp từ 15 – 20.4.1945
đặt vấn đề: “Cần kíp gây dựng những căn cứ kháng Nhật” tại những khu vực
đủ điều kiện về địa hình “gây dựng những cơ sở quần chúng, lương thực”,
quyết định những vấn đề “vũ khí, quân nhu”, “lập xưởng sửa chữa súng ống,


6


Sau khi miền Bắc được giải phóng, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 12
khóa II (1957), Đảng đã chỉ đạo việc giải quyết đúng mối quan hệ giữa xây
dựng kinh tế và củng cố quốc phòng. Nghị quyết nhấn mạnh, trong mọi công
tác của Nhà nước, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cũng như kế
hoạch của từng ngành phải quán triệt và có ý thức xây dựng, củng cố hậu
phương, kết hợp nhu cầu kinh tế, văn hoá với nhu cầu củng cố quốc phòng,
kết hợp các nhu cầu thời bình và nhu cầu thời chiến. Tiếp đó, tại Hội nghị
Trung ương 14 khoá II (1958), Đảng ta đã nêu chủ trương kết hợp kinh tế với
quốc phòng, “kết hợp tăng cường củng cố quốc phòng với xây dựng hậu
phương vững chắc”; vừa tập trung xây dựng, củng cố quốc phòng, vừa không
ngừng củng cố xây dựng hậu phương về mọi mặt để cung cấp đầy đủ các yêu
cầu cần thiết phục vụ cho chiến trường đánh giặc; phấn đấu xây dựng “tiền
tuyến vững chắc, hậu phương vững mạnh”, “tiền tuyến gắn chặt với hậu
phương, hậu phương gắn chặt với tiền tuyến”, “bộ đội tham gia sản xuất, tích
trữ lúa gạo, muối, ký ninh”...Thực hiện Nghị quyết này, quân đội thời gian này
được thoái ngũ với khối lượng lớn. Nhiều đơn vị được chuyển sang xây dựng
các nông trường quốc doanh, bố trí tập trung ở Thanh Hoá, Nghệ An…Khu
vực này được coi là một trong những khu căn cứ cho các cuộc chiến tranh
chống xâm lược sau này. Số đông cán bộ quân đội còn lại được chuyển sang
công tác ở các ngành kinh tế; số chiến sĩ còn lại phục viên về vùng nông thôn
tham gia lao động sản xuất nông nghiệp.
Kết hợp kinh tế với quốc phòng đã được nêu nên thành một nội dung
trong đường lối kinh tế và đường lối quân sự của Đảng ở Đại hội Đại biểu
toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam (1960): “Phát triển kinh tế
phải gắn liền với củng cố quốc phòng”, “Phải giải quyết đúng đắn mối quan
hệ giữa xây dựng kinh tế với củng cố quốc phòng; trong xây dựng kinh tế phải


8


thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa”, coi kết hợp kinh tế với quốc phòng là một phương
hướng cơ bản lâu dài nhằm tạo ra thế bố trí chiến lược thống nhất để làm chủ
cả về kinh tế và quốc phòng trên phạm vi cả nước và ở từng địa phương.
Đường lối đúng đắn ấy đã góp phần giúp nhân dân ta đạt được những thành
tựu đáng kể, bước đầu khắc phục những hậu quả nặng nề do chiến tranh xâm
lược và thiên tai liên tiếp gây ra; đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược ở hai
đầu biên giới, giúp đỡ Mặt trận đoàn kết dân tộc Campuchia và nhân dân
Campuchia anh em giải phóng đất nước, cứu dân tộc Khơme khỏi họa diệt
chủng.
Quán triệt sâu sắc và đầy đủ lý luận chủ nghĩa Mác Lênin về kết hợp
kinh tế với quốc phòng, với quan điểm “toàn dân xây dựng đất nước và bảo vệ
Tổ quốc, toàn dân bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước”, Đại hội VI của
Đảng xác định: “Phát huy sức mạnh của cả hệ thống chuyên chính vô sản, sức
mạnh của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân kết hợp chặt chẽ kinh tế, quốc
phòng và an ninh, đẩy mạnh công cuộc xây dựng nền quốc phòng và an ninh
nhân dân, xây dựng hậu phương đất nước một cách toàn diện”. Theo đó, Đảng
ta chỉ rõ: “Quốc phòng an ninh phải được xây dựng và củng cố ngày càng
vững mạnh bảo đảm điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng kinh tế. Trên
cơ sở phát triển kinh tế đáp ứng ngày càng đầu đủ và ổn định cho nhu cầu đời
sống vật chất, tinh thần của các lực lượng vũ trang; bảo đảm cơ sở vật chất kỹ
thuật và từng bước trang bị cho lực lượng vũ trang; bảo đảm vật tư, tài chính
cho sản xuất quốc phòng”.
Tiếp tục quan điểm đúng đắn ấy, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vạch rõ: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội và
bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong


10


và các vùng kinh tế, các ngành công nghiệp, lấy hiệu quả kinh tế gắn với yêu
cầu bảo đảm quốc phòng - an ninh làm cơ sở cho những chủ trương cụ thể…
Nâng cao năng lực của các ngành và các cơ sở kinh tế trong việc đáp ứng các
nhu cầu vật chất, kỹ thuật cho quốc phòng - an ninh. Bảo đảm có thể nhanh
chóng huy động được mọi tiềm lực kinh tế phục vụ cho quốc phòng - an ninh
khi tình thế đòi hỏi. Khai thác có hiệu quả tiềm năng của các cơ sở công
nghiệp quốc phòng để tham gia xây dựng kinh tế”.
Nhờ chủ trương đúng đắn của Đảng, nhận thức về kết hợp kinh tế với
quốc phòng ở các cấp, các ngành đã có những chuyển biến. Trong thực tiễn,
chúng ta đã kết hợp kinh tế với quốc phòng trong xây dựng các công trình
trọng điểm quốc gia, hình thành được thế bố trí chiến lược mới trong phát
triển kinh tế và củng cố quốc phòng, xác định xây dựng vùng kinh tế gắn với
khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố; từng bước đầu tư xây dựng các khu kinh tế
quốc phòng ở các tỉnh biên giới phía Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, kết hợp
kinh tế với quốc phòng trong tham gia xây dựng kinh tế của lực lượng vũ
trang địa phương, cũng như trong các hoạt động của quân đội thường trực.
Với nhiệm vụ lịch sử là nhìn lại chặng đường 100 năm đã qua, trong đó
có 71 năm cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, đi sâu tổng kết 5
năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII, 10 năm thực hiện chiến lược
kinh tế - xã hội, 15 năm đổi mới, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của
Đảng đã rút ra những bài học sâu sắc, từ đó phát triển và hoàn thiện đường
lối, định ra chiến lược phát triển đất nước trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ
XXI. Một lần nữa Đại hội lại khẳng định: “Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội
với củng cố quốc phòng và an ninh là nhiệm vụ rất quan trọng trong bối cảnh
phát triển cạnh tranh và hội nhập kinh tế khu vực và thế giới trong thập kỷ


12

tới”. Theo đó, trong định hướng phát triển các ngành kinh tế và các vùng, Đại

Một trong những vấn đề nổi bật của nhiệm vụ quốc phòng hơn 15 năm
qua là Đảng đã xác định được đường lối, chủ trương, phương thức phù hợp để
xây dựng nền quốc phòng toàn dân, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong
tình hình mới. Đặc biệt là đối với công tác quốc phòng ở các địa phương, các
ngành đã có sự đổi mới về nhận thức, thấy rõ trách nhiệm của mình đối với
nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Chính vì vậy mà trong khi cả nước tập trung vào
nhiệm vụ xây dựng kinh tế, nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, chế độ
bao cấp bị xóa bỏ, công tác quốc phòng ở địa phương và các ngành vẫn được
giữ vững và có bước phát triển mới góp phần quan trọng nâng cao sức mạnh
phòng thủ đất nước ngay trên từng địa bàn, địa phương, tạo sự ổn định về
chính trị, giữ vững trật tự an toàn xã hội, làm thất bại nhiều kế hoạch phá hoại,
gây rối của kẻ thù, bảo đảm môi trường thuận lợi thực hiện thắng lợi công
cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Rõ ràng là, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng
-an ninh là một quan điểm cơ bản, như sợi chỉ đỏ xuyên suốt của Đảng trong
quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Trong điều kiện có chiến tranh cũng
như khi có hòa bình ổn định, Đảng ta luôn coi sự kết hợp kinh tế với quốc
phòng là phương thức có hiệu quả nhằm vừa nâng cao tiềm lực kinh tế vừa
tăng cường, củng cố tiềm lực quốc phòng của đất nước; coi đó là một nội dung
quan trọng trong chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN,
một yêu cầu tất yếu của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện
cách mạng mới. Những thành tựu đạt được trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã
hội, quốc phòng…nước ta những năm qua đã chứng minh sự đúng đắn của
đường lối đó.


14

PHẦN 2


chúng ta phải đặc biệt quan tâm đến việc tăng cường, củng cố quốc phòng - an
ninh; thực hiện nghiêm túc quan điểm kết hợp kinh tế với quốc phòng của
Đảng. Yêu cầu đạt được của sự kết hợp này là phải góp phần tạo ra những
điều kiện thuận lợi để khai thác tốt nhất mọi tiềm năng trong và ngoài nước để
đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH; phải tạo được khả năng giữ vững hoà bình,
ổn định cho công cuộc đổi mới, chống chiến lược“diễn biến hoà bình” và
chuẩn bị đầy đủ được các yếu tố vật chất, kỹ thuật đảm bảo cho sự thắng lợi
của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Với ý nghĩa đó,
cùng với việc thực hiện đầy đủ các nội dung kết hợp kinh tế với quốc phòng
mà Đại hội Đảng lần thứ X đề cập, trong tình hình hiện nay, theo tôi cần quán
triệt tốt mấy vấn đề chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng an ninh trong quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng, gắn các vùng lãnh thổ với
các vùng kinh tế trọng điểm.
Đất nước ta dài, địa hình phức tạp với nhiều núi non, rừng, biển, sông
ngòi, dễ bị chia cắt, do đó kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường,
củng cố quốc phòng - an ninh lại càng trở lên cần thiết. Theo đó, cần phải có
chiến lược, quy hoạch và kế hoạch cụ thể gắn kết giữa các vùng với nhau, nhất
là các địa bàn chiến lược về quốc phòng - an ninh với các vùng kinh tế trọng
điểm mà hệ thống giao thông là một yếu tố rất cơ bản. Ph. Ăngghen đã từng
khẳng định: “Không có gì lại phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế hơn là
chính ngay quân đội và hạm đội. Vũ trang, biên chế, tổ chức, chiến thuật,
chiến lược phụ thuộc trước hết vào trình độ sản xuất đạt được trong một thời
điểm nhất định và vào phương tiện giao thông”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí
Minh cũng đã từng căn dặn: “Cầu đường là mạch máu của đất nước. Cầu


16

đường tốt thì lợi cho kinh tế: hàng hóa dễ lưu thông, sinh hoạt đỡ đắt đỏ. Cầu
đường tốt thì lợi cho quân sự: bộ đội ta chuyển vận nhanh, đánh thắng nhiều”.

cần phải có các phương án tự bảo vệ và được bảo vệ tại chỗ, trong đó hệ thống
đường hầm có ý nghĩa và tác dụng rất thiết thực. Sự kết nối giữa thành thị và
nông thôn, giữa các vùng kinh tế trọng điểm với các vùng biên giới, hải đảo
bằng hệ thống giao thông thông suốt, hiện đại, đồng bộ, bí mật, an toàn…là
điều kiện rất cơ bản để thực hiện thắng lợi sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội
và củng cố quốc phòng - an ninh đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH gắn với
phát triển kinh tế tri thức. Do đó, mục tiêu chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
xây dựng đường giao thông huyết mạch, giao thông thành phố, giao thông
nông thôn, giao thông đường biển, đường không…vừa đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội vừa tăng cường của cố tiềm lực quốc phòng - an ninh của
đất nước cần được ưu tiên làm sớm và đưa vào thực thi. Kinh nghiệm ở Hà
Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số địa phương khác cho thấy, do không
sớm quy hoạch cụ thể, ổn định, nên mỗi khi xây dựng, phát triển hệ thống giao
thông thường gặp rất nhiều khó khăn, gây lãng phí rất lớn. Đây là một thực tế
mà chúng ta cần sớm khắc phục, rút kinh nghiệm, qua đó có sự điều chỉnh, bổ
sung hợp lý trong quy hoạch xây dựng sau này.
Thứ hai, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng
an ninh trong một số ngành kinh tế mũi nhọn, hoặc có quan hệ gắn bó mật
thiết với quốc phòng.
Vấn đề kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh đều phải được quán
triệt sâu sắc và triển khai thực hiện nghiêm túc trong tất cả các ngành, song
với những ngành có liên quan trực tiếp, gắn bó hữu cơ với quốc phòng, an
ninh như, Giao thông vận tải, Bưu chính viễn thông, Du lịch, Công nghiệp
nhất là lĩnh vực cơ khí, điện, điện tử, tin học, hóa chất…thì phải chú trọng và


18

quan tâm đặc biệt. Vấn đề này không chỉ riêng các ngành có liên quan tự làm
được mà cần có sự định hướng, chỉ đạo sát sao của Nhà nước, sự hợp lực, cố

công nghệ, vươn lên chiếm lĩnh thị trường trong nước, sản xuất nhiều chủng
loại mặt hàng có chất lượng, có sức cạnh tranh trên thị trường để phục vụ nhu
cầu tiêu dùng cho dân sinh và quốc phòng cả trong thời bình và thời chiến.
Hiện nay, chúng ta chưa có nhiều nhà máy quốc phòng mạnh về các lĩnh vực
trên. Vì vậy, việc liên kết, phối hợp nghiên cứu, chế tạo các mặt hàng công
nghiệp mang tính lưỡng dụng với các nhà máy, xí nghiệp quốc doanh, liên
doanh là giải pháp rất cần thiết để từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm
khi thời bình phục vụ cho dân sinh, khi có chiến sự thì chuyển sang phục vụ
quốc phòng, quân sự. Sớm thực hiện chủ trương sáp nhập Công nghiệp quốc
phòng vào hệ thống Công nghiệp quốc gia nhằm nâng cao và phát huy tốt các
khả năng của các cơ sở sản xuất Công nghiệp quốc phòng.
Riêng đối với ngành Y tế, kết hợp quân dân y đã là truyền thống, thế
mạnh của chúng ta trong chiến tranh cũng như khi xây dựng, bảo vệ Tổ quốc
hiện nay. Cần tổng kết, phát huy các kinh nghiệm quý báu đó để đẩy mạnh
hơn nữa sự kết hợp này, tạo sức mạnh tổng hợp của các lực lượng y tế; kết
hợp đông - tây y, nghiên cứu sáng chế các loại thuốc cổ truyền từ các nguồn
thực vật khá phong phú, quý hiếm ở vùng sâu, vùng xa, nơi bộ đội đóng quân
để chăm sóc sức khỏe bộ đội, nhân dân ở những nơi khó khăn, trong các tình
huống phức tạp, kể cả khi kẻ thù gây xung đột vũ trang, chiến tranh xâm lược
nước ta.
Đối với ngành du lịch, một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất
nước hiện nay, trong quá trình phát triển cũng cần đặc biệt chú ý phải kết hợp
chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, hiệu quả kinh tế - xã hội với hiệu quả quốc
phòng - an ninh. Tránh đề cao vấn đề quốc phòng mà làm mất đi lợi ích kinh


20

tế hết sức to lớn. Ngược lại, không được quá coi trọng lợi ích kinh tế đơn
thuần mà bỏ qua yếu tố quốc phòng - an ninh. Thực tế đang đặt ra nhiều vấn

gắn với phát triển kinh tế tri thức. Hơn lúc nào hết, chúng ta cần hoàn thiện
chiến lược giáo dục - đào tạo, đồng thời xây dựng kế hoạch lâu dài để nâng
cao dân trí, đặc biệt là đối với thanh niên, học sinh, sinh viên. Các nhà trường,
học viện cần sớm cải cách, sửa đổi, bổ sung cả về chương trình, nội dung và
phương pháp cho phù hợp với yêu cầu kết hợp kinh tế với quốc phòng trong
thời kỳ CNH, HĐH. Đi liền với đó là nâng cao chất lượng công tác giáo dục
quốc phòng trong các nhà trường. Một yêu cầu đặt ra với vấn đề này là không
được hình thức, không gượng ép và phải đảm bảo chất lượng thực sự.
Những năm đổi mới vừa qua, lĩnh vực giáo dục - đào tạo của ta đã có
bước phát triển cả bề rộng và chiều sâu, tuy vậy, vẫn còn nhiều điều đáng suy
nghĩ. Đó là sự chênh lệch khá lớn về trình độ dân trí nói chung và chất lượng
giáo dục - đào tạo giữa đô thị và nông thôn, giữa miền xuôi và miền ngược,
nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tình trạng này dẫn
đến sự thiếu hụt về tri thức, đặc biệt là thiếu đội ngũ cán bộ của chính người
địa phương, của con em đồng bào dân tộc thiểu số, ảnh hưởng không nhỏ đến
tiến trình xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh ở
đó. Thiết nghĩ, đối với các tỉnh miền núi, biên giới, nhất là vùng đồng bào dân
tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, Nhà nước cần tiếp tục có chính sách rộng rãi
hơn để ưu tiên, tuyển dụng, cử tuyển các cháu người dân tộc thiểu số đã tốt
nghiệp trung học phổ thông, hoặc đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự và qua
trường thiếu sinh quân vào học ở các trường đại học, cao đẳng, trung học
chuyên nghiệp…để tạo nguồn cán bộ cho các địa phương, tạo điều kiện thuận
lợi cho các địa phương thu hẹp khoảng cách, theo kịp các tỉnh đồng bằng, các


22

đô thị, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày một hiệu quả hơn. Nên
nhận thức rằng, thế hệ học sinh, sinh viên đang học tập tại các trường hiện nay
là nguồn nhân lực chủ chốt của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong

ngành có thể tham gia đắc lực vào công cuộc xây dựng, phát triển nền kinh tế.
Thứ tư, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng an ninh trong đổi mới, nâng cao hoạt động quản lý vĩ mô của nhà nước.
Chủ trương kết hợp kinh tế với quốc phòng muốn trở thành hiện thực và
có hiệu quả thiết thực nhất thiết phải thông qua hoạt động quản lý, trong đó
quản lý vĩ mô của Nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng, không thể thiếu.
Thực tiễn cho thấy, cùng với các hoạt động kinh tế xã hội khác, kết hợp kinh
tế với quốc phòng ở nước ta luôn được đặt dưới sự quản lý chặt chẽ và thường
xuyên của Nhà nước. Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn nhất định, mỗi địa
phương hoặc những nhiệm vụ cụ thể, việc thực hiện cũng vẫn còn nảy sinh
không ít bất cập, hiệu quả kinh tế xã hội đạt được còn ở mức độ nhất định cần
phải khắc phục. Việc làm này càng trở nên cần thiết hơn lúc nào hết khi chúng
ta đang trong quá trình tham ra tích cực vào hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong hoạt động quản lý vĩ mô của nhà nước hiện nay cần phải chú ý
đến việc xây dựng, hoàn thiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp
chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với chiến lược quốc phòng - an ninh để làm
căn cứ khoa học cho việc xác định nội dung, phương hướng kết hợp kinh tế
với quốc phòng. Đổi mới và nâng cao kế hoạch hoá vĩ mô trong đó kế hoạch
kết hợp kinh tế với quốc phòng là một nội dung quan trọng, hình thành hệ
thống cơ chế, chính sách và các giải pháp cụ thể để kết hợp chặt chẽ hai hoạt
động này. Theo đó, ngoài việc nâng cao năng lực, trách nhiệm và tổ chức thực
hiện kết hợp kinh tế với quốc phòng của bộ máy nhà nước, các bộ ban ngành,


24

địa phương, nâng cao nhận thức, tầm quan trọng của sự kết hợp này, Nhà
nước phải sử dụng các công cụ quản lý vĩ mô của mình như tài chính, tín
dụng, giá cả…để khuyến khích các cá nhân, tổ chức, các doanh nghiệp, các cơ
sở sản xuất kinh doanh, các thành phần kinh tế chủ động đáp ứng nhu cầu
quốc phòng, hình thành dự trữ chiến lược của nhà nước về kinh tế cho quốc

lớn này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ III, IV, V, VI, VII. VIII, IX, X.
2. Kinh tế quân sự Mác – Lênin, Nxb QĐND, H. 2003.
3. Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb CTQG, H. 2004.
4. Vấn đề kết hợp kinh tế với quốc phòng ở nước ta, Nguyễn Anh Bắc, Nxb QĐND,
H. 1999.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status